Chủ nghĩa xã hội
(CNXH) và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là một mục tiêu quan trọng mà các thế
lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động tập trung chống phá, nhất là
từ sau khi mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ. Chính vì vậy, Nghị quyết số
35- NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ chính trị và nghị quyết Đại hộ XIII của Đảng
tiếp tục khẳng định tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và
thường xuyên đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nội dung
cơ bản của công tác xây dựng Đảng.
Hiện nay cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận về
CNXH, con đường đi lên CNXH của Đảng ta diễn ra trong bối cảnh và yêu cầu mới,
mang tính phức tạp và quyết liệt hơn. Sự tan rã của Liên Xô và sự sụp đổ của mô hình CNXH ở một loạt các nước Đông Âu là cái cớ để các thế lực thù
địch, phần tử cơ hội chính trị tung ra các quan điểm sai trái, thù địch, phủ nhận
sự đúng đắn, khách quan của CNXH trên toàn thế giới với tư cách là một học thuyết,
một chế độ xã hội, đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá CNXH. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập
quốc tế ngày càng sâu rộng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra
mạnh mẽ cùng với sự phát triển bùng nổ của truyền thông xã hội, internet toàn cầu,
những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của kinh tế thị trường, những tác động của an
ninh truyền thống, an ninh phi truyền thống, tác động tiêu cực của tình hình thế
giới đến đời sống xã hội như: Xung đột quân sự, sắc tộc, tôn giáo, chủ nghĩa dân tộc,
dân túy, tự do mới, dịch bệnh…, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động
tăng cường hoạt động với những chiêu thức, thủ đoạn mới chống phá CNXH, con đường
đi lên CNXH ở Việt Nam. Những chiêu thức, thủ đoạn chống phá này, thể hiện ở một số vấn đề sau đây:
Một là, xuyên tạc bản chất cách mạng khoa hoch của học thuyết Mác - Lênin, nền tảng
tư tưởng của Đảng ta
về CNXH. Những chiêu bài mà chúng đang sử dụng không mới, nhưng hết sức tinh vi
và thâm độc, tập trung vào việc đưa ra những lập luận, tuyên truyền, cổ vũ từ bỏ
chủ nghĩa Mác - Lênin, làm lung lay, phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng.
Để phủ định học thuyết Mác - Lênin, các thế lực thù địch cho rằng, học thuyết
Mác - Lênin chỉ phù hợp với thế kỷ XIX và phù hợp trong một chừng mực nào đó với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất phương Tây thời đó. Lý luận này
không còn phù hợp với thế kỷ XX và đặc biệt trong điều kiện ngày nay càng không
phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam. Từ đó, họ tuyên truyền xuyên tạc, rêu rao: chủ
nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, không phù hợp ở Việt Nam và cần loại bỏ. Gần
đây, trước những khó khăn về kinh tế, xã hội của đất nước, họ tuyên truyền luận
điệu: Việt Nam đang không chỉ bế tắc về kinh tế mà còn bế tắc cả về tinh thần;
và rằng, không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác nữa. Họ cho rằng, học thuyết hình
thái kinh tế - xã hội của C.Mác chỉ là một mớ lý thuyết suông về một chủ nghĩa
xã hội không tưởng, không bao giờ thực hiện được. Do vậy, sự sụp đổ của CNXH ở
Liên Xô, Đông Âu và trên toàn thế giới là một tất yếu, là sự cáo chung đã được
báo trước.
Hai là, xuyên tạc CHXH, mục tiêu, lý tưởng con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Với
cách diễn đạt trực diện tấn công: “Vì sao đến giờ này mà Đảng và Nhà nước Việt
Nam vẫn kiên định CNXH, mục tiêu, con đường đi lên CNXH”. Họ cho rằng: ai cũng
thấy là CNXH đã ở vào giờ thứ 25 trên phạm vi toàn cầu, việc thực hiện CNXH tại
Việt Nam đã hoàn toàn thất bại sau 10 năm (1975 - 1985) thực hiện triệt để dù cố
gắng “đổi mới” 10 năm sau đó (1985 - 1995) theo gương “cải tổ” của Liên Xô vẫn
không cứu vãn được. Chúng xuyên tạc: Để được cứu nguy, tránh sự sụp đổ như Liên
Xô và các nước XHCN Đông Âu, đạt được nhiều thành tựu như hiện nay, thực tế Việt
Nam đã thực hiện “kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa”, nhờ đó, Việt Nam mới
phát triển nhiều mặt để có bộ mặt phồn vinh như hôm nay về kinh tế, đời sống
người dân ngày một được cải thiện và nâng cao, chứ không phải kinh tế thị trường
định hướng XHCN, bản chất của kinh tế thị trường định hướng XHCN chính
là tư bản chủ nghĩa.
Ba là, đưa ra các kiến nghị nhiều hình thức,
như “gửi thư”, “trao đổi”, “góp ý” kiến nghị vào những dịp Đại hội Đảng, sửa đổi
Hiến pháp…, cho rằng đó là thời cơ để đổi mới chính trị theo hình thức đa
nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xây dựng nhà nước dựa trên nền tảng dân chủ,
“xã hội dân sự”. Thực chất, ẩn khuất đằng sau những góp ý này là ý đồ xóa bỏ, lật
đổ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ cho rằng, chúng
ta đã chọn đường sai, cần phải đi con đường khác. Có người còn phụ họa với các
luận điệu thù địch, công kích, bài bác CNXH, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản.
Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo chủ nghĩa Mác - Lênin và
con đường đi lên CNXH.
Bốn là, quan điểm, lợi dụng những khó khăn,
hạn chế, thiếu sót, bất cập, trong đời sống xã hội để đánh đồng hiện tượng thành bản chất
của CNXH, Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế thị
trường định hướng XHCN, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội
nhập quốc tế, bên cạnh
những thành tựu to lớn đạt được, còn có những hạn chế, yếu kém, trong đời sống
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tình trạng tham nhũng, lãng phí, ô nhiễm
môi trường… Các thế lực thù địch lợi dụng để suy diễn, diễn đạt dưới nhiều hình
thức khác nhau, xuyên tạc, quy chụp rằng đó là bản chất của CNXH, kết quả do
con đường đi lên CNXH mang lại…; làm cho những người không có bản lĩnh
chính trị vững vàng lầm tưởng, hồ nghi, hoang mang, dao động,
thậm chí xét lại, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái về tư tưởng chính
trị.
Đây thực chất là những luận điệu phi
lịch sử, phản khoa học và phản động. Mục đích của chúng muốn xóa bỏ CNXH, thay
đổi thể chế chính trị, hướng lái nước ta từ bỏ con đường đi lên CNXH. Những luận
điệu sai trái, xuyên tạc này tác động làm cho một bộ phận quần chúng nhân dân,
giới trẻ hồ nghi, bi quan, dao động, suy giảm niền tin vào CNXH, vào con đường
đi lên CNXH. Đấu tranh phản bác những quan điểm này, chúng ta cần phải nhận
thức rõ:
Thứ nhất, nền tảng tư tưởng lý luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin - học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và
quần chúng lao động. Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết duy nhất từ trước tới
nay đặt ra mục tiêu chỉ rõ con đường giải phóng triệt để giai cấp công nhân,
nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới khỏi nô dịch và bóc lột,
hướng tới một xã hội mà chủ thể, nhà nước thuộc về nhân dân. Đồng thời, học
thuyết đó còn chỉ ra lực lượng cách mạng thực hiện sự nghiệp giải phóng và phát
triển xã hội là giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đem lại cho họ niền
tin vào khả năng và sức mạnh của chính mình. Bản chất khoa học và cách mạng của
chủ nghĩa Mác - Lênin còn thể hiện ở chỗ, đây là học thuyết mở, không cứng nhắc,
bất biến, mà đòi hỏi luôn được bổ sung, đổi mới, phát triển trong dòng chảy
phát triển trí tuệ nhân loại. Toàn bộ học thuyết Mác - Lênin có giá trị bền vững
xét trong tinh thần biện chứng của nó, với bản chất cách mạng, khoa học. Chủ
nghĩa Mác - Lênin là vũ khí lý luận sắc bén, ngọn cờ tư tưởng trong sự nghiệp đấu
tranh của giai cấp công nhân và nhân dân cần lao tiến bộ.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng,
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn trung thành và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta, coi đây là cơ sở
lý luận, nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho xây dựng, tổ chức và hoạt động của
Đảng. Vì vậy, Đảng luôn có cương lĩnh, đường lối, chiến lược, sách lược, chỉ thị,
nghị quyết đúng đắn, lãnh đạo nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi
khác. Thực tiễn cách mạng nước ta đã chứng minh, trong mỗi giai đoạn cách mạng, mỗi lĩnh vực công
tác, mỗi địa phương nếu xa rời hay vận dụng một cách giáo điều, máy móc, duy ý
chí hoặc xa rời nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin thì nhất định sẽ phạm
phải sai lầm, chia rẽ, mất uy tín trước quần chúng và thất bại.
Thứ hai, độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội là sự lựa chọn của dân tộc Việt Nam. Lịch sử dân tộc ta nửa cuối
thế kỷ 19 và ngót nửa đầu thế kỷ 20, đất nước không được độc lập, nhân dân
không được tự do. Các phong trào từ “Cần Vương”, “Khởi nghĩa nông dân”, đến
phong trào “Đông Du”, phong trào “Giải phóng dân tộc theo khuynh hướng tư sản
dân tộc”…đều thất bại, cách mạng Việt Nam lâm vào khủng hoảng về con đường giải
phóng dân tộc. Trong điều kiện đó, Nguyễn Ái Quốc đã đưa lý luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga, cách mạng vô sản về Việt
Nam. Từ khi có Đảng, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sợi chỉ đỏ xuyên suốt,
đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập,
chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng đất nước theo con đường
CNXH, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Độc lập
dân tộc gắn liền với CNXH là sự lựa chọn đúng đắn của nhân dân, Nhân dân là cội nguồn sức mạnh, chủ
thể quyết định vận mệnh của dân tộc và non sông đất nước. Kiên định con đường
đi lên CNXH là sự kiên định con đường thực tiễn mà nhân dân ta đang đi, kiên định
mục tiêu thực hiện mà chúng ta đang hướng tới, là tiếp nối thành quả cách mạng
của nhân dân ta và nâng lên tầm cao mới. Kiên định con đường đi lên CNXH là phù hợp với quy luật
lịch sử chứ không phải là “đi vào vết xe đổ của Liên Xô” như sự xuyên tạc của
các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Chủ nghĩa xã hội hiện thực sau cách mạng
Tháng Mười Nga năm 1917 không chỉ có ảnh hưởng quốc tế sâu rộng mà còn làm thay
đổi tiến trình lịch sử thế giới trong suốt thế kỷ XX và cho đến tận ngày nay.
Chủ nghĩa xã hội từ lý luận khoa học đã trở thành hiện thực sinh động; từ một
nước XHCN trở thành hệ thống các nước XHCN trên thế giới, trở thành lực lượng
cách mạng thúc đẩy nhân loại phát triển và phẩm giá con người trong lòng xã hội
được thực thi… Liên Xô sụp đổ là sự kiện địa chính trị lớn nhất của thế kỷ XX
làm đau đớn nhân loại tiến bộ, song nó phản ánh sự sai lầm về một mô hình khi
đã xa rời những vấn đề mang tính nguyên tắc của CNXH. Điều đó cho thấy, những
bước thăng trầm, quanh co, khúc khuỷu nhưng tất thắng của CNXH với tư cách là một
học thuyết khoa học và cách mạng, một hình thái kinh tế - xã hội và với tư cách
một chế độ xã hội mới đầy ưu việt mà nó vốn có, là sự kết tinh tất cả những
thành tựu tinh hoa mà các hình thái kinh tế - xã hội trước đã tạo ra, trên con
đường đấu tranh khẳng định sự tồn tại phù hợp quy luật của sự vận động, phát
triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người.
Thứ ba, Trong thời kỳ quá độ, các nhân tố
XHCN được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố
phi XHCN, gồm cả các nhân tố tư bản chủ nghĩa trên một số lĩnh vực. Sự đan xen,
cạnh tranh này càng phức tạp và quyết liệt trong điều kiện cơ chế thị trường và
mở cửa, hội nhập quốc tế. Bên cạnh các mặt thành tựu, tích cực, sẽ luôn có những
mặt tiêu cực, thách thức cần được xem xét một cách tỉnh táo và xử lý một cách kịp
thời, hiệu quả. Đó là cuộc đấu tranh rất gay go, gian khổ, đòi hỏi phải có tầm
nhìn mới, bản lĩnh mới và sức sáng tạo mới. Đi lên theo định hướng XHCN là một
quá trình không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố XHCN để các
nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng. Với cách nhìn khoa học,
biện chứng như vậy, không thể lấy hiện tượng, vấn đề cụ thể là những hạn chế tồn
tại, thiếu sót, bất cập trong đời sống xã hội để đánh đồng hiện tượng thành bản chất của CNXH.
Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đạt
được trong gần 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng là kết quả của công cuộc đổi mới,
của quá trình CNH, HĐH, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN… Những
thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình
nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân,
toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta là đúng đắn,
phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của
thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của
Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cương
lĩnh chính trị của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, lý luận dẫn dắt dân tộc
ta vững bước đi lên CNXH. Sự ổn định và phát triển của đất nước;
cuộc ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân ta; vị thế và uy tín quốc tế ngày
càng tăng của Việt Nam chính là minh chứng sống động nhất cho đường lối lãnh đạo
sáng suốt và đúng đắn của Đảng ta.
Trung tá Nguyễn Thị Mai Giảng
viên Khoa Khoa học Cơ Bản



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét