Quan điểm của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng trong tình hình hiện nay

         Đối với Việt Nam, sự phát triển của không gian mạng mà nòng cốt là công nghệ thông tin và truyền thông đã đạt được kết quả quan trọng trong thực hiện mục tiêu làm cho nước ta trở thành một cường quốc về công nghệ thông tin. Trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, không gian mạng được tạo lập trên cơ sở tích hợp hạ tầng thông tin liên lạc, các hệ thống thông tin chỉ huy, điều hành Quân đội, các hệ thống điều khiển vũ khí, trinh sát kỹ thuật điện tử đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc trên tất cả các môi trường tác chiến. Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng xác định không gian mạng là môi trường tác chiến mới, tích cực xây dựng lực lượng, đầu tư trang bị, vũ khí cho các hoạt động tác chiến trên không gian mạng.

Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, vừa cấp bách, vừa lâu dài của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý thống nhất của Nhà nước. Theo đó, bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền, biên giới của một quốc gia không chỉ là đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời, mà cả lãnh thổ không gian mạng, chủ quyền không gian mạng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng; phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý hiệu quả các hành vi xâm phạm an ninh mạng quốc gia, lợi dụng triệt để môi trường không gian mạng xuyên tạc, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, kích động, kích động biểu tình, gây rối loạn xã hội, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng đã trở thành nguồn lực quan trọng để xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Trước những yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng trong tình hình mới, ngày 25/7/2018, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 29 về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng” và Nghị quyết số 30 về “Chiến lược An ninh mạng quốc gia”. Đây là quan điểm, chủ trương lớn để Đảng lãnh đạo, Nhà nước thống nhất quản lý đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên một vùng lãnh thổ mới - không gian mạng và cũng là nhằm thực hiện triển khai tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nhằm xây dựng không gian mạng quốc gia an toàn, lành mạnh, rộng khắp; xác lập và bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc trên không gian mạng; tăng cường khả năng phòng ngừa, ngăn chặn, làm thất bại các âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, sẵn sàng đối phó hiệu quả với mọi tình huống trên không gian mạng, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.

  Hiện nay, trước tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ, thách thức Thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn”[1]. Vấn đề an ninh phi truyền thống, an ninh mạng đặt ra “Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đốì vối mọi quốc gia, dân tộc. Những vấn đề toàn cầu, như: bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường,... tiếp tục diễn biến phức tạp”[2]. Các thế lực thù địch, thường xuyên tiến hành hoạt động trên không gian mạng để khai thác thông tin, nắm bắt đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, bí mật quốc gia, bí mật quân sự nhằm tạo lợi thế trong quan hệ hợp tác quốc tế; tác động vào đường lối, chính sách đối nội, đối ngoại và sẵn sàng gây sức ép khi cần thiết; đưa thông tin sai lệch, truyền bá quan điểm phản động, xuyên tạc, thực hiện “diễn biến hòa bình” nhằm gây bất ổn chính trị, xã hội, gây tổn thất về kinh tế, quốc phòng, an ninh; âm thầm, bí mật kiểm soát hệ thống mạng, tạo thế trận, xâm hại chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc của ta. Vì vậy, vấn đề bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng đã, đang và sẽ đặt ra một cách trực tiếp trong giai đoạn hiện nay.

  Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ trên không gian mạng. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII khẳng định: “Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia và các chiến lược quốc phòng an ninh và các chiến lược chuyên ngành khác”[3]. Như vậy lần đầu tiên Đảng ta đã đưa vào Văn kiện đại hội Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng.

Đảng ta đã thể chế hóa một cách đồng bộ các quan điểm về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc bằng các văn bản, bảo đảm cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, có tính khả thi cao. Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng không chỉ quán triệt, cụ thể hóa, thể chế hóa đầy đủ quan điểm, đường lối của Đảng, nhất là tư duy, quan điểm mới về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, mà còn cập nhật những vấn đề mới của pháp luật hiện hành về quốc phòng và thực tiễn đất nước. Từ đó, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc, tạo khuôn khổ pháp lý quan trọng để tăng cường sức mạnh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng trong tình hình mới. Đây là bước tiến lớn, thể hiện tư duy chiến lược, nhạy bén, đột phá trong nhận thức và chỉ đạo hoạt động thực tiễn về xác định: mục tiêu, lực lượng, nội dung, đối tượng, phương thức bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, đánh dấu bước phát triển tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, là cơ sở định hướng, chỉ đạo các cấp, các ngành, các lực lượng và địa phương triển khai thực hiện quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng trong tình hình mới.

Một là, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng: Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc nói chung, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng nói riêng. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII khẳng định: Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nưóc, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nưốc theo định hướng xã hội chủ nghĩa”[4]. Nhằm thực hiện mục tiêu trên Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII khẳng định: “Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc gia, chiến lược quốc phòng an ninh và các chiến lược chuyên ngành khác”[5]. Như vậy, Đảng ta xác định mục tiêu bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng mang tính chất toàn diện trên tất cả các mặt, các lĩnh vực, cả đất liền, hải đảo, trên không, và không gian mạng. Đó còn là giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Hai là, lực lượng bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng: Phát huy sức mạnh tng hợp toàn dân tộc trong xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng toàn dân kết hợp với thế trận an ninh nhân dân trên không gian mạng vững chắc, rộng khắp; xác lập, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ vùng đất, vùng trời, vùng biển, trên không gian mạng của Tổ quốc và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước: “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nưốc, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”[6] . Đó là sức mạnh trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, nhân lực, vật lực, tinh thần của đất nước; sức mạng của toàn dân tộc, của các lực lượng tiến bộ trên thế giới. Sức mạnh do chính những con người Việt Nam yêu nước xây đắp, không phụ thuộc và không để bị bất kỳ một thế lực nước ngoài nào chi phối. Đây là chủ trương đúng đắn, nhất quán của Đảng ta, phù hợp với bản chất, truyền thống dựng nước, giữ nước của dân tộc ta. Đối với quân đội để thực hiện được nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đại hội XIII xác định: “Một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”[7].

Ba là, nội dung bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng: Bảo vệ cương vực, chủ quyền lãnh thổ, biên giới quốc gia trên bộ, trên biển, trên không và trong không gian. Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc phải Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển[8] và “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế.[9]. Đó còn là bảo vệ cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; đấu tranh chống các hoạt động xâm nhập, phá hoại về kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; ngăn chặn sử dụng không gian mạng tiến hành chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng, kết hợp với các biện pháp phi vũ trang hoặc vũ trang xâm phạm chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc; chủ động phòng ngừa, đấu tranh với âm mưu, hành động sử dụng không gian mạng can thiệp, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa.

Bốn là, đối tượng bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng: Các thế lực thù địch, đồng minh và tay sai có âm mưu, hành động sử dụng không gian mạng can thiệp, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, tiến hành các hình thái chiến tranh; các thế lực nước lớn và chư hầu có âm mưu, hành động sử dụng không gian mạng thực hiện tham vọng xâm phạm chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc: “Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”[10] . Đó còn là các t chức phản động trong và ngoài nước, lực lượng cơ hội, suy thoái chính trị, đạo đức, lối sống có âm mưu, hành động cấu kết với thế lực bên ngoài, sử dụng không gian mạng chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; các t chức, cá nhân sử dụng không gian mạng thực hiện các hoạt động xâm nhập, phá hoại về kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của các t chức, cá nhân. Sử dụng không gian mạng thực hiện “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyến hóa”, kích động bạo loạn, “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”, kết hợp với can thiệp quân sự lật đổ chế độ xã hội chủ; sử dụng không gian mạng thực hiện các tình huống an ninh phi truyền thống khác (đơn phương tiến công phá hoại về kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; đánh cắp thông tin bí mật nhà nước, bí mật quân sự; tội phạm mạng, khủng bố mạng...); sử dụng không gian mạng tiến hành chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng, kết hợp với các biện pháp phi vũ trang hoặc vũ trang xâm phạm chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc; khi có thời cơ tiến hành tác chiến không gian mạng kết hợp với các phương thức tác chiến trên các môi trường khác trong chiến tranh xâm chiếm bin, đảo, biên giới, chiến tranh xâm lược quy mô lớn.

Năm là, phương thức bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng: Nâng cao nhận thức, trách nhiệm, năng lực tự bảo vệ của toàn xã hội và của từng người dân, nhất là thế hệ trẻ; lấy con người, trí tuệ con người làm trung tâm, là nhân tố quyết định, đồng thời tranh thủ tối đa những thành tựu khoa học, công nghệ, không để tụt hậu về con người và công nghệ; thực hiện tự bảo vệ và được bảo vệ từ cơ sở. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, tổ chức, đơn vị. Kết hợp các biện pháp công nghệ, an ninh, pháp lý, hành chính, kinh tế. Xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật trên không gian mạng. Tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nghiên cứu, dự báo tình hình, tham mưu với Đảng, Nhà nước các nội dung, biện pháp cần chỉ đạo và phối hợp triển khai thực hiện trong xác lập, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Đại hội XIII đã khẳng định: “Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác tạo thế đan xen lợi ích và thái độ tin cậy. Kiên quyết đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị của đất nước”.

Như vậy, qua học tập, nghiên cứu, quán triệt nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng chúng ta thấy, quan điểm của Đảng về mục tiêu, lực lượng, nội dung, đối tượng, phương thức bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng được đề cập trong trong Văn kiện là một bước đột phá về tư duy, chiến lược bảo vệ Tổ quốc nói chung, bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng nói riêng của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế thời đại và tình hình thế giới, khu vực trong tình hình mới. Vì vậy, hiện nay đối với mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần tăng cường học tập, quán triệt, nâng cao nhận thức, bảo vệ chủ trương, quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trong Văn kiện XIII nói chung về bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng nói riêng. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch xung quanh vấn đề bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới./.

                                           Nguyễn Hưng Giang, Khoa Khoa học Cơ bản



[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia  Sự thật, Hà Nội, tr.105.

[2]. Sđd, tr.106 - 107.

[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia  Sự thật, Hà Nội, tr. 160.

[4]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia  Sự thật, Hà Nội, tr. 155 - 156.

[5]. Sđd, tr. 160.

[6]. Sđd, tr. 156.

[7]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia  Sự thật, Hà Nội, tr.158

[8]. Sđd, tr. 156.

[9]. Sđd tr.156.

[10].  Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia  Sự thật, Hà Nội, tr.108.

Đọc tiếp »

Cán bộ, đảng viên trong quân đội nhân dân việt nam chủ động nhận diện và đấu tranh với âm mưu lợi dụngvấn đề tham nhũng để chống phá sự nghiệp đổi mới ở nước ta

 

Kết quả đã đạt được về công tác đấu tranh phòng, chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí trong những năm vừa qua đã không chỉ nhằm làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, bảo vệ Đảng, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo vệ sự lành mạnh trong quan hệ xã hội, mà còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên nhiều mặt... Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị thường xoáy sâu vào những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, trong đó tham nhũng là vấn đề được chúng triệt để lợi dụng để tiến hành các hoạt động chống phá sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay.

Trải qua hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng, trên nhiều lĩnh vực. Trong đó, công tác phòng, chống tham nhũng, được coi là cuộc “tự cách mạng” triệt để nhất, góp phần làm trong sạch nội bộ Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nâng cao vị thế, uy tín và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng được phát hiện, điều tra, khởi tố, xét xử nghiêm minh, tạo sức răn đe, cảnh tỉnh, được cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân hoan nghênh, đánh giá cao và đồng tình ủng hộ.Điều này thể hiện rõ tại Nghị quyết Đại hội XIII: “Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng; “kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí, với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để hơn, hiệu quả hơn”. Các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác phòng, chống tham nhũng còn được đề cập trong các Văn kiện và được cụ thể hóa trong: Cương lĩnh, Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận… đây là cơ sở chính trị trong công tác phòng chống tham nhũng.

Mỗi cán bộ, đảng viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam đều nhận thức rõ chưa bao giờ công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng lại được Đảng, Nhà nước ta lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt như thời gian gần đây. Trong lúc quyết tâm chính trị, tinh thần đấu tranh phòng chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang lên cao thì các thế lực thù địch, phản động, những phần tử cơ hội lại ra sức lợi dụng vấn đề này để tiến hành các hoạt động chống phá. Hơn lúc nào hết, trách nhiệm của mỗi mỗi cán bộ, đảng viên trong quân đội nhân dân Việt Namphải nhận thức rõ ràng, đấu tranh kiên quyết với những âm mưu, thủ đoạn đó là những giọng điệu xuyên tạc, bịa đặt trắng trợn trong thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị thường xoáy sâu vào những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, trong đó tham nhũng là vấn đề được chúng triệt để lợi dụng. Cả thế giới đã thừa nhận, tham nhũng là tệ nạn mang tính toàn cầu, tham nhũng xuất hiện và tồn tại ở mọi quốc gia trên thế giới, các nước dù đi theo chế độ xã hội chủ nghĩa hay tư bản chủ nghĩa đều phải đối mặt với tệ nạn này, nguyên nhân dẫn đến tham nhũng không phải do chế độ chính trị hay do đảng phái nào nắm quyền lãnh đạo đất nước... Thế nhưng các thế lực thù địch, phản động lại ra sức rêu rao rằng: “Chế độ một đảng cầm quyền là nguyên nhân sinh ra tệ tham nhũng”; “do đảng cầm quyền độc đoán cai trị nên tình trạng tham nhũng xảy ra...”; “tham nhũng là sản phẩm tất yếu của chế độ công hữu tư liệu sản xuất, chuyên chế độc đảng”... Không chỉ vậy, họ còn cho rằng: Tham nhũng chỉ xuất hiện ở những nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa,... Thực chất của giọng điệu ấy không gì khác là lợi dụng cuộc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu hòng làm suy giảm uy tín tiến tới mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Khi mà chúng ta chưa đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng hoặc đã làm nhưng kết quả chưa rõ nét thì họ cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái thành công vì Đảng cũng tham nhũng, suy thoái”... Khi Đảng và Nhà nước ta thể hiện quyết tâm chính trị, đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, kiên quyết xử lý hàng loạt cán bộ, đảng viên có hành vi tham nhũng, tiêu cực thì chúng lại tung ra những giọng điệu lạc lõng, dựng chuyện, xuyên tạc rằng thực chất cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay là “cuộc chiến thanh trừng phe phái trong nội bộ Đảng”, "là sự đấu đá nội bộ, phe phái trong Đảng Cộng sản Việt Nam". Đề cập đến câu hỏi làm thế nào để dẹp bỏ nạn tham nhũng ở Việt Nam, họ cho rằng: “Chỉ khi nào ở Việt Nam có chế độ đa đảng thì nạn tham nhũng mới có thể dẹp bỏ được”... Từ những thông tin cóp nhặt trên mạng xã hội, họ còn vẽ ra, dựng nên những câu chuyện nói rằng các phe nhóm nội bộ ở Trung ương và địa phương đang đấu đá nhau... Những giọng điệu ấy không nhằm mục đích gì khác là xuyên tạc mục đích, ý nghĩa tốt đẹp của cuộc đấu tranh này; bôi nhọ, hạ thấp uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; chia rẽ nội bộ ta, gây phân tâm trong xã hội, làm giảm sút ý chí và niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

Trong những năm gần đây, đặc biệt là những năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, công tác phòng chống tham nhũng được Đảng, Nhà nước ta chỉ đạo rất quyết liệt, tạo được một bước tiến mạnh, đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội. Nhiều vụ án tham nhũng, kinh tế đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm được phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, đúng pháp luật, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai. Trong 10 năm qua (2012 - 2022), đã xử lý kỷ luật 2.740 tổ chức đảng và hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó có hơn 190 cán bộ diện Trung ương quản lý (có 4 ủy viên Bộ Chính trị, nguyên ủy viên Bộ Chính trị; 36 ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương; hơn 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang); qua thanh tra, kiểm toán kiến nghị xử lý trách nhiệm gần 44.700 tập thể, cá nhân, chuyển cơ quan điều tra xử lý gần 1.200 vụ việc có dấu hiệu tội phạm. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XIII của Đảng đến nay, “đã khởi tố, điều tra gần 4.200 vụ/7.572 bị can về các tội tham nhũng, chức vụ, kinh tế (trong đó, các tội về tham nhũng đã khởi tố, điều tra 455 vụ/1.054 bị can). Đã kỷ luật 50 cán bộ diện trung ương quản lý, trong đó có 8 ủy viên, nguyên ủy viên Trung ương Đảng, 20 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Các cơ quan chức năng đã chủ động, công khai cung cấp thông tin, định hướng dư luận trong hoạt động phòng chống tham nhũng, phát huy vai trò tích cực của các cơ quan truyền thông, báo chí trong phòng chống tham nhũng. Vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức xã hội và người dân trong phòng chống tham nhũng ngày càng được phát huy tốt hơn... Hoạt động hợp tác quốc tế về phòng chống tham nhũng được mở rộng. Kết quả công tác phòng chống tham nhũng của Việt Nam những năm gần đây đã được các tổ chức quốc tế ghi nhận có nhiều chuyển biến tích cực. Theo đánh giá của tổ chức Minh bạch quốc tế, chỉ số nhận thức tham nhũng của Việt Nam(CPI) năm 2022tăng 3 điểm CPI so với năm 2021, từ 39 lên 42 trên thang điểm 100 (với thang điểm 0 là tham nhũng nhất và 100 là trong sạch nhất). Trong bảng xếp hạng CPI 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, Việt Nam đã tiến 10 bậc, xếp thứ 77 (năm 2022), cho thấy những nỗ lực, sự quyết tâm mạnh mẽ chống tham nhũng của Việt Nam đã được ghi nhận.

Ngoài việc góp phần tạo ra bước phát triển về kinh tế-xã hội, công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng góp phần tăng cường, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa. Kết quả của công tác phòng chống tham nhũng đã tạo động lực mới, khí thế mới để toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Những kết quả ấy càng khẳng định rõ quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước về phòng chống tham nhũng. Đồng thời đó cũng là minh chứng để khẳng định rõ việc đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kiên quyết xử lý nghiêm khắc nhiều cán bộ, đảng viên sai phạm không làm hạn chế sức sáng tạo, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của những người tâm huyết, vì sự nghiệp đổi mới của Đảng, với động cơ trong sáng, lành mạnh, không “làm chậm” sự phát triển, mà ngược lại làm trong sạch, tạo sức mạnh thật sự của bộ máy và đội ngũ cán bộ, củng cố và tăng cường lòng tin của nhân dân, tạo động lực mới, khí thế mới để thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ, thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới đất nước. Những kết quả trên càng chứng minh những luận điệu của các thế lực phản động về cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng của Việt Nam là xuyên tạc, bịa đặt, vô căn cứ.

Mỗi cán bộ, đảng viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam luôn nhận thức đúng đắn về công tác đấu tranh phòng, chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta là trong sáng, công khai, minh bạch, khách quan, tôn trọng nhân dân và coi trọng dư luận; không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai. Muốnđạt hiệu quả cao trong công tác nhận diện và đấu tranh với âm mưu lợi dụng vấn đề tham nhũng để chống phá sự nghiệp đổi mới hiện nay, cần phải có giải pháp nhận diện và đấu tranh với âm mưu lợi dụng vấn đề tham nhũng để chống phá sự nghiệp đổi mới hiện nay.

Giải pháp nhận diện và đấu tranh với âm mưu lợi dụng vấn đề tham nhũng để chống phá sự nghiệp đổi mới hiện nay.

Để đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí ở nước hiện nay.Mỗi cán bộ, đảng viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam cần tập trung thực hiện tốt những giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước,nhận diện và chủ động đấu tranh, phản bác có hiệu quả mọi luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch, phản động về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Đây là giải pháp cơ bản, quan trọng và có ý nghĩa quyết định trong triển khai công tác đấu tranh, phòng, chống, làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch về vấn đề này. Cần khẳng định quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là đúng đắn và việc xử lý cán bộ, đảng viên thiếu trách nhiệm, tham ô, tham nhũng, tiêu cực trong thời gian qua đã mang lại hiệu quả thiết thực, đã góp phần củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, cần thừa nhận đây là cuộc đấu tranh lâu dài, khó khăn, phức tạp. Vì vậy, các cấp, ngành, địa phương và cả hệ thống chính trị cần tập trung thực hiện đồng bộ, quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp, nhằm đập tan âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, giữ vững ổn định chính trị đất nước và từng địa phương. Tiếp tục nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, hoàn thiện chính sách, pháp luật của Nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội và công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, để không thể, không dám, không cần, không muốn tham nhũng. Đẩy mạnh công tác tuyên tuyền nâng cao nhận thức của toàn xã hội về ý nghĩa, tầm quan trọng và sự cần thiết của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá ta về vấn đề này. Các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan chức năng phải nhận diện đúng, chủ động đấu tranh, không ngừng nâng cao nhận thức, kỹ năng, xây dựng chiến lược, sách lược, tổ chức lực lượng một cách bài bản, khoa học trong đấu tranh, phản bác; thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục và hiệu quả của hoạt động này. Cần có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân. Trong đó, đi đầu là đội ngũ cán bộ, đảng viên, với lực lượng nòng cốt là Ban Chỉ đạo 35 các cấp, các ngành cùng hệ thống các cơ quan truyền thông và đội ngũ nhà khoa học, báo cáo viên, tuyên truyền viên,… tạo thành mạng lưới đấu tranh ngày càng đông đảo và hiệu quả phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta hiện nay.

          Thứ hai, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong Quân đội nhân Việt Nam trong công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.

Giải pháp này, góp phần tạo sự đồng thuận, thống nhất về nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên, của cả hệ thống chính trị, các cấp, ngành trong thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí ở nước ta. Theo đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao lập trường tư tưởng, có bản lĩnh chính trị vững vàng để nhận diện và kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm, sai trái thù địch, xuyên tạc, vu khống, phủ nhận thành tựu cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí ở Việt Nam. Thường xuyên tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu vùng xa nhận diện âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, những luận điệu sai trái đăng tải trên các trang mạng xã hội; không để thế lực thù địch kích động, lôi kéo vào các hoạt động biểu tình, khiếu kiện đông người hoặc vô tình bị các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá Đảng và Nhà nước. Cùng với đó, cấp ủy, các cấp, người đứng đầu các đơn vị cần chủ động chỉ đạo cơ quan chính trị, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, thường xuyên tuyên truyền các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu về cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí ở nước ta. Không ngừng củng cố, nâng cao nhận thức chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; làm tốt công tác vận động quần chúng, tăng cường và nâng cao hiệu quả từ phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc, thực hiện mỗi cán bộ, đảng viên là chiến sĩ trên mặt trận bảo vệ quan điểm của Đảng về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phíở nước ta.

Thứ ba, chủ động đổi mới nội dung, đa dạng các hình thức, biện pháp đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.

Đổi mới, bổ sung nội dung đấu tranh trên cơ sở giữ vững quan điểm và nguyên tắc của Đảng và Nhà nước; mềm dẻo, linh hoạt, nhân văn trong phương pháp; công khai, minh bạch đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kết quả công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần tạo đồng thuận xã hội về vấn đề này. Trong đó, sử dụng các kênh truyền thông chính thống và các mạng xã hội để tiếp cận đông đảo cán bộ, đảng viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam, vừa tuyên truyền, vừa bóc trần những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch lợi dụng những vấn đề chính trị, xã hội để chống phá Đảng và Nhà nước, Quân đội nhân dân Việt Nam. Nắm chắc tình hình, dự báo sớm âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; chủ động có biện pháp đấu tranh phù hợp. Cùng với đấu tranh “trực diện” cần không ngừng nâng cao ý thức cảnh giác, tăng cường ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đa dạng hóa các hoạt động đấu tranh, thiết lập và sử dụng các biện pháp kỹ thuật, ngăn chặn một cách có hiệu quả. Kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm kỷ luật đảng và quy định của tổ chức, cơ quan, đơn vị, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Ngoài ra, thường xuyên tuyên truyền để các tầng lớp nhân dân và bạn bè quốc tế thấy rõ quan điểm cũng như kết quả mà Việt Nam đã đạt được trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí.

Nhận diện và đấu tranh với âm mưu lợi dụngvấn đề tham nhũng để chống phá sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay, là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị hiện nay. Vì vậy, bên cạnh sự vào cuộc quyết liệt của nhiều cơ quan, tổ chức, lực lượng, đơn vị, địa phươngtrong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, thì ở đâu đó vẫn còn những biểu hiện thiếu kiên quyết, né tránh, tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”, “trên vội vã, dưới thư thả”.Thời gian tới, khi mà công tác đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phíngày càng được đẩy mạnh thì các thế lực thù địch, phản động cũng sẽ gia tăng sự chống phá. Dù cam go, phức tạp, dù khó khăn đến mấy cũng không ai có thể phủ nhận, xóa nhòa những thành công của chúng ta, không ai có thể làm nhụt ý chí, quyết tâm của mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta. Vấn đề đặt ra là mỗi cán bộ, đảng viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam phải đề cao cảnh giác, nhận diện rõ ràng về những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, những phần tử cơ hội để từ đó kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động hòng phá hoại, ngăn cản công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng,tiêu cực, lãng phí của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đang tiến hành.

                         ThS Trần Quốc Hoàn – Học viện Biên phòng

Ghi chú:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.117.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.II, Sđd, tr.54.

3. Nguyễn Phú Trọng, Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr.26 - 27 và tr.321.

4. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Báo cáo số 06-BC/TW ngày 23/7/2022 của Bộ Chính trị về tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012 - 2022.

Đọc tiếp »

Tăng cường hoạt động đối ngoại nhân dân theo tư tưởng hồ chí minh trong công tác dân vận của bộ đội biên phòng giai đoạn hiện nay

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một hệ thống các quan điểm toàn diện, bao hàm nội dung rất rộng, liên quan đến toàn bộ sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Trong đó, tư tưởng đối ngoại Nhân dân là một bộ phận quan trọng về chiến lược, sách lược cách mạng, không chỉ có giá trị lịch sử mà còn có ý nghĩa thời đại to lớn.

Ngay từ những ngày đầu hoạt động cách mạng, tìm con đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận thức đúng đắn về vai trò của công tác đối ngoại Nhân dân, nhờ đó vận động được Nhân dân các nước trên thế giới ủng hộ dân tộc ta chống thực dân Pháp xâm lược, đặc biệt là hình thành mặt trận Nhân dân thế giới rộng lớn ủng hộ, đoàn kết với Nhân dân ta chống Mỹ. Đối ngoại Nhân dân cũng tạo điều kiện mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, tranh thủ sự hợp tác quốc tế, tạo thế đứng quốc tế vững chắc, môi trường bên ngoài thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đối ngoại Nhân dân thực chất là công tác dân vận, vận động các đối tượng quần chúng Nhân dân trong và ngoài nước đồng tình, ủng hộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Lực lượng đối ngoại Nhân dân bao gồm các tổ chứcchính trị-xã hội, các tổ chức Nhân dân, các hội nghề nghiệp; Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam.

 Khi bàn về vai trò của đối ngoại Nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng địnhcông tác đối ngoại Nhân dân có sức mạnh của Nhân dân làm hậu thuẫn cho nên có lợi thế đặc thù. Lợi thế của đối ngoại Nhân dân là sử dụng lý lẽ và tình cảm để thuyết phục, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế; vận động dư luận Nhân dân ta và Nhân dân các nước phản đối các âm mưu chống phá cách mạngcủa các thế lực thù địch. Chính vì vậy, công tác đối ngoại Nhân dân cần tăng cường triển khai tại cấp cơ sở, địa phươngbằng những hình thức hấp dẫn, nhằm lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia cách mạng.

Quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đặc biệt coi trọng vai trò đối ngoại Nhân dân. Sau 35 năm đổi mới với nhiều thành tựu to lớn với nhiều thành tựu trong công tác đối ngoại, trong đó có đối ngoại Nhân dân, Đại hội XIII tiếp tục khẳng định nhiệm vụ “Triển khai nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại Nhân dân”. Tại Hội nghị đối ngoại toàn quốc vào ngày 15/12/2021,Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu : “Hơn 90 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cơ sở vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa và phát huy truyền thống, bản sắc đối ngoại, ngoại giao và văn hoá dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá thế giới và tư tưởng tiến bộ của thời đại, chúng ta đã xây dựng nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”, “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”. Trong đó đối ngoại Đảng là gốc, ngoại giao Nhà nước là thân, đối ngoại Nhân dân chính là cành. Đối ngoại Nhân dân với phương châm “chủ động - linh hoạt - sáng tạo - hiệu quả” đã và sẽ là một trong ba trụ cột của nền ngoại giao Việt Nam.



          Vùng biên giới, hải đảo có vai trò là phên dậu của Tổ quốc, có ý nghĩa to lớn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và đối ngoại của đất nước. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, quản lý, bảo vệ biên giới, hải đảo là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân mà Bộ đội Biên phòng là lực lượng nòng cốt, chuyên trách. Songthực hiện thắng lợi nhiệm vụ hay không, trước hết phải dựa vào Nhân dân. Trong lịch sử xây dựng và bảo vệ giang sơn, bờ cõi, ông cha ta đã đúc kết bài học kinh nghiệm phải “dựa vào dân”, “lấy dân làm gốc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng nói “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Nhân dân, chứ không phải của cá nhân anh hùng nào”. Thực tế cho thấy, Nhân dân khu vực biên giới là những người sinh sống, lao động, sản xuất trên biên giới, chính vì vậy, mọi diễn biến tình hình vi phạm chủ quyền lãnh thổ, hoạt động của các loại đối tượng không thể qua được tai mắt của Nhân dân. Bởi vậy, muốn bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia. Trước hết phải xây dựng “thế trận lòng dân”, cùng ăn, cùng ở với Nhân dân, phát huy vai trò,sức mạnh của Nhân dân khu vực Biên giới. Nhận thức được tầm quan trọng đó, Bộ đội Biên phòng luôn khẳng định vị trí, vai tròcủa Dân vận trong công tác Biên phòng:Là một trong những biện pháp công tác cơ bản, làm cơ sở, nền tảng để thực hiện các biện pháp công tác khác; là mũi tiến công chính trị cơ bản trong phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc, các thế lực thù địch và các loại tội phạm ở khu vực biên giới;  góp phần củng cố thế trận lòng dân, xây dựng nền Biên phòng toàn dân vững mạnh ở khu vực biên giới.

Những năm qua, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, sự đồng tình, ủng hộ,giúp sức củaNhân dân khu vực biên giới, Bộ đội Biên phòng đã phát huy tốt vai trò nòng cốt, chuyên trách trong quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia. Tình hình trên tuyến biên giới cơ bản ổn định; chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia được giữ vững; quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng ngày càng được củng cố và tăng cường, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, du lịch, giao lưu văn hóa với các nước và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên,trong giai đoạn hiện nay, tình hình thế giới, khu vực và trong nước có nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường; chiến sự tại Ukraineảnh hưởng đến kinh tế toàn cầu trong đó có Việt Nam. Trên Biển Đông và vùng biển Tây Nam tiềm ẩn nhiều bất ổn, các nước trong khu vực sử dụng nhiều biện pháp cứng rắn bảo vệ chủ quyền vùng biển, lợi ích quốc gia, dân tộc. Trên các tuyến biên giới, nhất là biên giới phía Bắc, Tây Nam tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp mới. Lợi dụng đặc điểm khu vực biên giới chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sốngtrình độ dân trí thấp, đời sống đồng bào còn khó khăn, quan hệ đồng tộc xuyên biên giớiphức tạp, nhiều phong tục, tập quán lạc hậu các thế lực thù địch, phản động triệt xuyên tạc, kích động, lôi kéo Nhân dân, chia rẽ gây mất đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân - dân, làm giảm lòng tin của đồng bào đối với Đảng, Nhà nước, Quân đội và cấp ủy, chính quyền địa phương.Hoạt động của các loại tội phạm trên khu vực biên giới diễn biến phức tạp...gây tác động không nhỏ đến tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và việc thực hiện nhiệm vụ của Bộ đội Biên phòng. Trước thực trạng đó,Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã đưara nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo công tác Biên phòng,trong đó tăng cường hoạt động đối ngoại Nhân dân nhằm đẩy mạnh công tác Dân vậnbằng những mô hình, việc làm thiết thực, cụ thể để dân hiểu, dân tin, dân làm theo và giúp đỡ bộ đội,được xác định là nhiệm vụ trọng tâm và là biện pháp công tác cơ bản, nền tảng nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới của Tổ quốc.

Vậndụng tư tưởng của Bác về đối ngoại Nhân dân vào công tác Dân vận, Bộ đội Biên phòng luôn chủ động tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh. Thực hiện tốt Quy chế Dân chủ cơ sở, giải quyết kịp thời những vướng mắc nảy sinh, không để xảy ra “điểm nóng” trên địa bàn. Đồng thời, tích cực tham gia vào việc lựa chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì các cấp; đẩy mạnh các phong trào thi đua, các cuộc vận động với nhiều nội dung, hình thức đa dạng, phong phú, như: phong trào “Quần chúng tham gia tự quản đường biên, mốc quốc giới và an ninh, trật tự xóm, bản khu vực biên giới”, “Xây dựng, củng cố cơ sở chính trị, phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo vệ biên giới”,  “Kết nghĩa bản - bản 2 bên biên giới”, “Điểm sáng văn hóa biên giới”,“Đường biên thanh niên làm chủ”, “Phụ nữ vì sự phát triển và bình yên tuyến biển”

Triển khai thực hiện chỉ thị Nghị quyết của Đảng, với phương châm ba bám (bám dân, bám trụ, bám địa bàn), bốn cùng(cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng dân tộc), Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Bộ đội Biên phòng đã điều động hàng nghìn cán bộ Biên phòngtăng cường cho các xã biên giới, xã đặc biệt khó khăn, tích cực tham gia giúp đỡ cấp ủy, chính quyền và Nhân dân địa phương triển khai các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèophù hợp với từng địa phương. Điển hình nhưmô hình: “Vận động đồng bào các dân tộc thiểu số trồng lúa nước”, Bò giống giúp người nghèo biên giới,Mái ấm chiến sĩ nơi biên cương”,“Nâng bước em tới trường”,“ Con nuôi đồn Biên phòng”. Bằng những việc làm thiết thực, cụ thể đó, Bộ đội Biên phòng đã tạo sự chuyển biến về mọi mặt của các địa phương nơi biên giới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của cấp ủy, chính quyền, đoàn thể địa phương, tăng cường niềm tin, sự tín nhiệm của Nhân dân đối với Bộ đội biên phòng.

Thời gian tới, đểtăng cường hoạt động đối ngoại Nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác Dân vận,xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, góp phần quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới, Bộ đội Biên phòng cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:

Thứ nhất,đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, chỉ huy, cán bộ, chiến sĩ trong Bộ đội Biên phòngvề công tác dân vận.Để tạo cơ sở, nền tảng đảm bảo cho công tác dân vận đạt hiệu quả cao trong thực tiễn, cấp ủy, chỉ huy các cấpđội ngũ cán bộ làm công tác dân vận trong Bộ đội Biên phòng cần tiếp tục quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác đối ngoại Nhân dân, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và hướng dẫn của Tổng cục Chính trị về công tác dân vận.Trọng tâm là các nhiệm vụ, giải pháp được xác định trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Chỉ thị số 12-CT/TW, ngày 5-1-2022của Ban Bí thư“Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu quả đối ngoại Nhân dân trong tình hình mới; Nghị quyết số 34-NQ/TW “Về một số định hướng, chủ trương lớn triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng”thường xuyên cập nhật những văn bản mới, trên cơ sở đó xây dựng chương trình, kế hoạch sát với tình hình thực tiễn của đơn vị và địa bàn. Việc tuyên truyền, giáo dụcphải được tiến hành thường xuyên, bằng nhiều hình thức, nhằm chuyển biến sâu sắc về nhận thức, hành động của cấp ủy, chỉ huy các cấp và đội ngũ cán bộ dân vận, để họ nhận thức rõ việc tiến hành công tác dân vận vừalà chức năng, nhiệm vụ của quân đội nói chung, Bộ đội Biên phòng nói riêng, vừa là tình cảm và trách nhiệm chính trị của mỗi quân nhân đối với Nhân dân khu vực biên giới. Từ đó có những chủ trương, biện pháp, kế hoạch và hành động tích cực vận động Nhân dân khu vực biên giới cùng tham gia bảo vệ vững chắc, hiệu quả chủ quyền, an ninh biên giới của Tổ quốc.

Thứ hai,chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác dân vận trong Bộ đội Biên phòng. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần lựa chọn những cán bộ Biên phòng có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng, có bản lĩnh, lập trường kiên định, có phẩm chất đạo đức tốt, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong, độ tuổi phù hợp.Trong đó, đặc biệt chú trọng quy hoạch, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ là người địa phương, người dân tộc thiểu số; đề xuất các chế độ, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ dân vận ở vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới, xã trọng điểm về quốc phòng, an ninh.Mở các đợt học tập chính trị, các lớp tập huấn công tác dân vận và các chương trình phối hợp dạy tiếng dân tộc cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận. Qua đó, nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, phát huy hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ dân vận ở các đơn vị bộ đội Biên phòng trong xây dựng và củng cố thế trận biên phòng toàn dân ngày càng vững chắc, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới.

Thứ ba,làm tốt hơn nữa công tác tham mưu, phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương xây dựng, củng cố hệ thống chính trị cơ sở.Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động Nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh. Chính vì vậy,lãnh đạo, ch huy các cấp trong Bộ đội Biên phòng cần chủ động phối hợp với cấp ủy, chính quyền, ban, ngành, đoàn thể các địa phương khu vực biên giới và các đơn vị đóng quân trên địa bàn nắm chắc tình hình, kịp thời tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương đề ra những chủ trương, giải pháp củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở. Tiếp tục thực hiện hiệu quả chủ trương tăng cường cán bộBiên phòng cho các xã biên giới; phân công đảng viên phụ trách các hộ gia đình ở khu vực biên giới; đẩy mạnh thực hiện mô hình đảng viên đồn Biên phòng tham gia sinh hoạt tại các chi bộ thôn, buôn, bon, bản của xã biên giới.Qua đó, cấp ủy, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể của địa phương phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với bộ đội Biên phòng trong công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân.

Thứ tư, đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia của Nhân dân khu vực biên giớiCấp ủy, chỉ huy các cấptrong Bộ đội Biên phòng cần lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị thực hiện có hiệu quả “3 bám, 4 cùng”, thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, vận động Nhân dân về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Luật Biên giới quốc gia, Luật Biên phòng Việt Nam, các Hiệp định, Quy chế quản lý biên giới, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, cần đổi mới hình thức, phương pháp, kết hợp chặt chẽ với thực hiện công tác biên phòng, xây dựng địa bàn phù hợp với điều kiện, đặc điểm, tình hình dân trí, dân cư trên địa bàn. Các đồn Biên phòng, nòng cốt là các đội công tác dân vận  phải dựa vào cấp ủy, chính quyền, phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành, đoàn thể ở địa phương, phát huy vai trò của già làng, trưởng thôn, bản, người có uy tín trong các dòng họ, dân tộc để nâng cao chất lượng, hiệu quả vận động, tuyên truyền, chú trọng phối hợp, tổ chức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng của địa phương, Trung ương gắn với tổ chức các hoạt động “Ngày biên phòng toàn dân” hằng năm. Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức của Nhân dân về biên giới quốc gia, ý thức rõ chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, từ đó Nhân dân tích cực tham gia bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới; đề cao tinh thần cảnh giác, không để các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá.

Thứ năm, triển khai có hiệu quả hơn nữa các phong trào, chương trình, mô hình giúp dân phát triển kinh tế - xã hội, giảm nghèo bền vững ở khu vực biên giới. Khu vực biên giới chủ yếu là vùng sâu, vùng xa, đời sống của Nhân dân còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, tỷ lệ hộ nghèo còn cao. Xuất phát từ tình hình thực tiễn ở cơ sở,cần triển khai  thực chất và hiệu quả các phong trào tiêu biểu như: Phong trào “Bộ đội Biên phòng chung sức xây dựng nông thôn mới”, Chương trình “Xuân Biên phòng ấm lòng dân bản”, “Thầy giáo quân hàm xanh”; “Nâng bước em tới trường - Con nuôi đồn Biên phòng”, mô hình: “Cán bộ Biên phòng tăng cường xã”, “Thầy thuốc quân hàm xanh”... gắn với thực hiện hiệu quả chương trình phối hợp mà Bộ đội Biên phòng đã ký kết với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương, huy động sức mạnh của các cấp, các ngành hướng về biên giới, hải đảo, như Chương trình: “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới”, “Bò giống cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo”,“Đồng hành cùng phụ nữ biên cương”...Qua đó củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng, Nhà nước và Quân đội, Bộ đội Biên phòng, làm nền tảng để “xây dựng lực lượng bảo vệ biên giới toàn dân rộng khắp”, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân”, nền Biên phòng toàn dân vững chắc ở khu vực biên giới.

  Lê Thị An, Khoa LL Mác - Lênin, TT Hồ Chí Minh

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Ngoại giao: Bác Hồ và hoạt động ngoại giao - Một vài kỷ niệm về Bác, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008

2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự Thật, H.2011, tập 15, tr.675.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (tập I + II), Nxb. CTQGST, H. 2021.

 

Đọc tiếp »

Phát triển văn hóa Đảng trong không gian số

Chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong đời sống chính trị, văn hóa và xã hội. T...