Vạch trần luận điệu xuyên tạc sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động gia tăng nhiều hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước ta trên tất cả lĩnh vực, trong đó có nội dung xuyên tạc hoạt động quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia (BGQG).

Âm mưu tinh vi, thủ đoạn thâm độc

Chủ quyền lãnh thổ, BGQG trong tâm thức mỗi người dân là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, liên quan đến hòa bình, an ninh và phát triển của đất nước, quan hệ giữa Việt Nam và các nước láng giềng nên việc xuyên tạc chống phá dễ gây ra tâm lý bất bình, dễ kích động trong một bộ phận quần chúng nhân dân nhẹ dạ, cả tin.

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động sử dụng nhiều hình thức và thủ đoạn rất tinh vi, giảo hoạt, tung ra những thông tin và tư liệu lịch sử, kỹ thuật không có tính pháp lý để đánh lừa dư luận. Trước hết, chúng xuyên tạc kết quả phân giới cắm mốc giữa Việt Nam với các nước có chung đường biên giới, chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng, từ đó tạo nên môi trường xã hội, chính trị bất ổn để dễ bề thực hiện mưu đồ chính trị của mình.

Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Cha Lo, BĐBP tỉnh Quảng Bình thực hiện nghi thức chào cột mốc chủ quyền trong quá trình tuần tra, bảo vệ biên giới. Ảnh minh họa: bienphong.com.vn

Ngay từ những ngày đầu khi Việt Nam tham gia giải quyết vấn đề biên giới với các nước cho đến nay, các thế lực thù địch vẫn xuyên tạc kết quả đạt được giữa các bên, đặc biệt đối với những vấn đề về biên giới chưa được giải quyết dứt điểm, chúng thường tập trung tuyên truyền theo hai hướng, đó là xuyên tạc Việt Nam nhu nhược nên nhượng đất cho nước láng giềng nhằm kích động tâm lý bất bình trong nhân dân; bịa đặt Việt Nam xâm chiếm đất của nước láng giềng nhằm phá hoại tiến trình phân giới cắm mốc của nước ta với các nước Trung Quốc, Lào và Campuchia.

Cùng với những luận điệu xuyên tạc về công tác bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh BGQG trên đất liền, các thế lực thù địch, phản động còn rêu rao rằng, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội nhân dân Việt Nam nhu nhược, hèn yếu nên không có những động thái kiên quyết để bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia; thậm chí chúng còn trắng trợn bịa đặt rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước im lặng vì đã thỏa hiệp với nước ngoài thao túng chủ quyền biển, đảo của nước ta (!).

Tinh vi hơn, núp dưới chiêu bài “hiến kế, góp ý”, chúng đã đưa ra luận điệu cho rằng: Do sức mạnh của Hải quân nhân dân Việt Nam hiện nay là “quá yếu”, “lạc hậu”... nên “chỉ có liên minh quân sự với các cường quốc quân sự thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo, bảo vệ được lợi ích quốc gia-dân tộc” (!). Từ đó, chúng đòi hỏi Việt Nam cần từ bỏ chính sách “4 không” và liên minh quân sự với các nước lớn có tiềm lực quân sự, quốc phòng mạnh thì mới bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo quốc gia (!).

Trên khu vực biên giới, các thế lực thù địch, phản động ra sức xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, xuyên tạc lịch sử tộc người, quan hệ tộc người, bôi nhọ chủ trương phát triển kinh tế-xã hội. Chúng cho rằng việc phát triển các dự án kinh tế là nguyên nhân “đẩy” đồng bào các dân tộc lâm vào tình cảnh khốn khó, mất nguồn sinh kế, vì thế, đời sống bà con luôn thiếu thốn, khó khăn. Chúng còn kích động mâu thuẫn giữa các dân tộc và xuyên tạc người Kinh đã lấy đất, phá rừng, gây khó khăn cho đồng bào các dân tộc trong phát triển kinh tế-xã hội, qua đó nhằm phá hoại khối đoàn kết dân tộc, làm suy yếu sức mạnh của quân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Để tán phát những thông tin sai lệch, xuyên tạc, chúng tận dụng tối đa các phương tiện truyền thông xã hội, các diễn đàn, nhất là triệt để lợi dụng một số văn nghệ sĩ, trí thức bất mãn, có quan điểm chính trị lệch lạc để ngấm ngầm cài cắm, tán phát những quan điểm sai trái, phản động về chủ quyền lãnh thổ, BGQG; lợi dụng các hoạt động nhân đạo, từ thiện, tổ chức truyền đạo, lập đạo trái phép để tuyên truyền, lôi kéo những người thiếu hiểu biết, nhẹ dạ cả tin, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở biên giới, vùng sâu, vùng xa.

Kiên trì, kiên quyết bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia

Trước tình hình chống phá đó, việc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc về quản lý bảo vệ BGQG hiện nay là nhiệm vụ quan trọng, cơ bản, lâu dài đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; là nhiệm vụ quan trọng của công tác đấu tranh tư tưởng, lý luận nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Để đấu tranh có hiệu quả với các luận điệu xuyên tạc về quản lý, bảo vệ BGQG hiện nay, chúng ta cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau.

Một là, nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân về tầm quan trọng của việc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc về bảo vệ BGQG hiện nay.

Tập trung tuyên truyền, giáo dục cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức rõ việc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc về quản lý, bảo vệ BGQG hiện nay là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Trong đó, tăng cường giáo dục, tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên và nhân dân những quy định pháp lý về BGQG, chủ quyền biển, đảo của Việt Nam; về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền, an ninh BGQG. Tích cực tuyên truyền, giáo dục cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ nhận rõ mục đích, âm mưu, thủ đoạn và các luận điệu sai trái, thù địch mà các thế lực thù địch, phản động sử dụng để xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ BGQG hiện nay, nhằm nâng cao sức đề kháng của các tầng lớp nhân dân trước những thông tin xấu độc, xuyên tạc về quản lý, bảo vệ BGQG.

Hai là, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân trong chủ động đấu tranh làm thất bại các luận điệu xuyên tạc về quản lý bảo vệ BGQG.

Quản lý, bảo vệ BGQG là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó cần phải dựa vào dân, lấy dân làm gốc, nhân dân là trung tâm, là chủ thể trong sự nghiệp bảo vệ BGQG. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nhân dân trong đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, đối tượng phản động, nhất là ở vùng dân tộc thiểu số, khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng biển, đảo; ngăn chặn kịp thời hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để chống phá, lôi kéo di dân tự do; tích cực đấu tranh ngăn chặn kịp thời âm mưu, thủ đoạn kích động, chia rẽ nhân dân với cấp ủy, chính quyền địa phương, chia rẽ đồng bào các dân tộc và khối đại đoàn kết toàn dân.

Cùng với đó, đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn đồng bào khu vực biên giới thực hiện nếp sống văn minh gắn với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Thực hiện hiệu quả các dự án bảo tồn và phát triển bền vững một số dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn; đẩy lùi, xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan. Quan tâm, chăm lo phát triển kinh tế-xã hội, giảm nghèo, bảo đảm cuộc sống, lao động sản xuất ổn định cho đồng bào các dân tộc trên khu vực biên giới, hải đảo.

Ba là, đẩy mạnh tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý, bảo vệ BGQG; kiên quyết xử lý các đối tượng có hành vi sai trái, xuyên tạc về BGQG và quản lý, bảo vệ BGQG.

Đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, tích cực đăng tải các bài viết trên những phương tiện thông tin đại chúng, trên hệ thống internet thể hiện rõ lập trường, quan điểm của Việt Nam đối với những vấn đề liên quan đến chủ quyền, an ninh BGQG trên bộ và trên biển. Tổ chức đưa phóng viên, nhà báo, đại diện các tầng lớp nhân dân trong nước và kiều bào tham quan thực địa biên giới, biển, đảo để tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách về BGQG đến người dân trong nước và người Việt Nam ở ngoài nước.

Kịp thời cập nhật thông tin, đưa tin chính xác và cụ thể về những diễn biến phức tạp trên biên giới, trên Biển Đông để định hướng dư luận, không để những thông tin thật-giả lẫn lộn, mập mờ làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh BGQG.

Áp dụng các giải pháp kỹ thuật tăng cường rà quét, bóc gỡ, ngăn chặn những thông tin xấu độc về tình hình Biển Đông nói chung và chủ quyền biển, đảo của Việt Nam nói riêng. Tăng cường xử lý các đối tượng đăng tải, chia sẻ các bài viết, video, hình ảnh có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề chủ quyền biển, đảo. Thiết lập các trang mạng, tài khoản chính thống để huy động cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch trên internet và mạng xã hội để tạo thành thế trận liên hoàn, rộng khắp.

Bốn là, thường xuyên tiến hành công tác tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển và hoàn thiện lý luận về quản lý, bảo vệ BGQG.

Quan tâm tổng kết thực tiễn sự nghiệp quản lý, bảo vệ BGQG để tiếp tục làm rõ nhận thức, quan niệm về quản lý, bảo vệ BGQG ở nước ta, tập trung vào các vấn đề: Mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc, phương châm, nhiệm vụ, giải pháp về quản lý, bảo vệ BGQG... Đây là những vấn đề lớn, đòi hỏi công sức, trí tuệ, tâm huyết của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, trước hết là của đội ngũ cán bộ chuyên làm công tác tư tưởng, lý luận và lực lượng chuyên trách quản lý, bảo vệ BGQG. Tích cực khai thác tiềm năng sáng tạo trong nghiên cứu lý luận về quản lý, bảo vệ BGQG để phục vụ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nói chung và quản lý, bảo vệ BGQG nói riêng.

Quản lý, bảo vệ BGQG là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị và cả nước; là vấn đề hết sức thiêng liêng, nhưng cũng không ít khó khăn, phức tạp. Các luận điệu xuyên tạc về quản lý, bảo vệ BGQG thực chất là những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, phản động nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, tiến tới từng bước làm thay đổi chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần hết sức cảnh giác, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc về quản lý, bảo vệ BGQG, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tình hình hiện nay.

Thiếu tướng, PGS, TS NGUYỄN THÁI SINH, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Học viện Biên phòng


Đọc tiếp »

Danh dự là điều cao quý nhất


Các tôn giáo lớn đều trực tiếp hay gián tiếp khuyên dạy rằng phẩm chất quý giá nhất ở con người là tình yêu thương, cao thượng, vì người khác, trong sáng, liêm khiết, chân chính để cống hiến được nhiều nhất cho xã hội.

Thánh tích đạo Công giáo kể, Thánh Joseph vốn xuất thân là một người thợ mộc, còn Đức mẹ Maria thời thiếu nữ rất xinh đẹp, có nhiều đám đến mối mai. Nhà Maria chọn rể bằng cách cho mỗi chàng trai đặt một chiếc gậy của mình vào chung một chỗ, gậy của ai nở hoa thì được lấy Maria. Chỉ có người thợ mộc Joseph được toại nguyện. Họ cưới nhau.

Thiên sứ Gabriel báo cho Maria biết nàng sẽ sinh ra Jesus là con của Đức Chúa trời và sau này sẽ là Đấng Cứu thế. Joseph thì mơ thấy mình được trao nhiệm vụ giữ Maria làm vợ còn Jesus sẽ là con nuôi. Maria là mẹ nhưng vẫn đồng trinh. Bà sinh con trai, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ vì họ không tìm được nhà trọ... Tích này như muốn cắt nghĩa giàu-nghèo không phải là lý do để được tôn trọng, sùng bái. Như Jesus đó thôi, có cha làm nghề thợ mộc, sinh ra ở nơi thiếu thốn, nghèo nàn, thế mà trở thành Đấng Cứu thế được hàng tỷ người ngưỡng vọng!

Sự ra đời của Đức Phật Thích Ca là thật chứ không phải huyền thoại. Đang là một thái tử có vợ đẹp, con ngoan, ở trong kinh thành xa hoa tráng lệ và tương lai gần sẽ kế vị ngôi vua, nhưng năm 29 tuổi, ngài rời bỏ tất cả gia đình quyền quý, của cải, chức vụ để xuất gia. Sau 6 năm tự mình tu học theo lối khổ hạnh luyện thân thất bại, ngài chọn con đường thiền định. Qua 49 ngày đêm bất động ngồi dưới gốc cây bồ đề, ngài chứng thành Phật quả với đủ tam minh, lục thông, trí tuệ. Ngài trở thành Phật tổ, không có một đồng xu nhưng có hàng triệu triệu người sùng bái!

Thì ra của cải, địa vị có làm nên hạnh phúc đâu, thậm chí, với Đức Phật thì của cải, địa vị càng cao lại càng đau khổ vì không được tự do làm theo ý của mình là đi tìm con đường giải thoát nỗi trầm luân cho chúng sinh!

Ông tổ của đạo Nho là Khổng Tử (trong cuốn Luận ngữ) dạy học trò: “Ăn cơm gạo thô, uống nước lã, co cánh tay gối đầu mà ngủ, coi đó là niềm vui. Làm điều bất nghĩa để có được giàu có, cao sang thì ta coi như đám mây nổi”. Ông thường kể chuyện có học trò rất nghèo đi cày ruộng, một lần bắt được cả hũ vàng nhưng vẫn cày lấp lên vì cho rằng vàng ấy không phải của mình. Người ấy sau này làm đến chức Thượng thư... Ông đúc kết thành châm ngôn sống mà sau này các bậc “cửa Khổng sân Trình” thuộc làu: “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” (giàu sang mà không hoang dâm, nghèo hèn mà không đổi chí khí, gặp uy vũ không khuất phục).

Như vậy, các tôn giáo lớn đều trực tiếp hay gián tiếp khuyên dạy rằng phẩm chất quý giá nhất ở con người là tình yêu thương, cao thượng, vì người khác, trong sáng, liêm khiết, chân chính để cống hiến được nhiều nhất cho xã hội. Điều này cũng được người Việt triết lý danh dự là điều cao quý nhất, qua các châm ngôn: “Chết trong còn hơn sống đục”, “Giấy rách phải giữ lấy lề”...

Con cò trong ca dao cũng: “Có xáo thì xáo nước trong/ Đừng xáo nước đục đau lòng cò con”. Chính sử ghi lại chuyện tướng quân Trần Bình Trọng bị giặc Nguyên bắt. Chúng dụ dỗ, mua chuộc nếu ông đầu hàng sẽ được là “vua”. Mang dòng máu Việt, lại sinh ra trong thời hào khí Đông A lẫm liệt, tất nhiên ông từ chối, còn mắng kẻ xâm lược: “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc!”. “Làm vương đất Bắc” thì vừa có quyền vừa có tiền nhưng vẫn là tay sai. Như thế là nhục. Ông đã “chết vinh” chứ không chịu “sống nhục”!

Thế nhưng tại sao ở thời buổi văn minh này lại có người có học, chức trọng quyền cao, của nả nhiều hơn tài sản Thạch Sùng trong cổ tích mà vẫn “chịu nhục” tham ô, hối lộ, ăn của đút, không hề có chút tự trọng? Nguyên nhân ở đâu? Điều này không khó lý giải. Đó là do lòng tham làm mờ mắt, không phân biệt được tốt xấu, phải trái nên không còn sự liêm sỉ. Thực ra lòng tham là bản năng tồn tại của con người. Đúng như cổ nhân dạy, người mạnh là người thắng được chính mình. Những kẻ tham lam thì không thắng được mình nên chịu làm nô lệ cho tiền bạc...

Làm gì để chữa trị căn bệnh này? La Fontaine, một nhà ngụ ngôn, cũng là nhà giáo dục thiên tài kể câu chuyện “Lão nông và các con” chính là đưa ra “bài thuốc” chữa. Trước khi từ giã trần gian, lão nông dặn các con: Ngày xưa các cụ có chôn hũ vàng ở mấy đám ruộng nhà mình nhưng cha không biết chỗ. Cha chết, các con gắng tìm. Đám con y lời bèn “cày sâu cuốc bẫm” tìm vàng. Vàng không thấy nhưng mùa vụ liên tiếp. Đám con giàu to. Câu kết của truyện chính là bài học lớn phổ quát cho mọi thời, mọi người: “Lấy câu “lao động là vàng” dạy con”. Thế nên giải pháp chung cho tất cả là phải lao động. Trong lao động và qua lao động, người ta mới thấy được giá trị, ý nghĩa của “đồng tiền bát gạo”, mới biết thương người lao động... Đó là sự tự hoàn thiện nhân cách tốt nhất.

Những kẻ tham ô, tham nhũng đang làm việc trong cơ quan nhà nước có lao động không? Không. Với họ, “làm việc” chỉ là cái bình phong che đậy những ý đồ đen tối để có điều kiện là “tham”. Đó là những kẻ ăn bám đích thực. Thế nên kẻ lười, kẻ làm việc được chăng hay chớ nên sớm đuổi ra khỏi biên chế nhà nước!

“Nghèo cho sạch, rách cho thơm”, “Tốt danh hơn lành áo”. Cha ông ta dạy thế. Đó là truyền thống đạo lý trọng giá trị tinh thần (trọng nghĩa khinh tài-“tài” nghĩa là tài sản vật chất) rất quý của cha ông. Nhưng trên thực tế thì vừa “sạch” vừa “thơm”, vừa “tốt” vừa “lành” vẫn  tốt hơn, nhất là ở thời buổi văn minh hôm nay. Người trọng danh dự, đạo lý càng không cho phép mình để người khác thương hại vì nghèo. Thế nên bằng sự cần cù, thông minh, năng động, ai ai cũng cố gắng vươn lên sự giàu có, miễn là trong khuôn khổ pháp luật, sự cho phép của cơ quan, tổ chức.

                                PGS, TS NGUYỄN THANH TÚ

Đọc tiếp »

Không thể xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội

 


Đúng vào dịp cả nước tổ chức các hoạt động chào mừng kỷ niệm 79 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2023) và 34 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 - 22/12/2023), các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước tăng cường đăng các tin, bài xuyên tạc, bôi nhọ, chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội. Mới đây nhất, trên trang Thoibao.de có đăng tải bài viết “Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân đội Việt Nam Cộng hòa”, của Nguyễn Đức Hạo Nhiên, y ngỏ ý “khuyên” xây dựng quân đội Việt Nam “trung lập về chính trị” không nên lệ thuộc Đảng Cộng sản… Có thể thấy, mục đích của y là từng bước làm cho quân đội xa rời phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu, phai nhạt lý tưởng, mất sức chiến đấu, không còn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước. Do vậy, cần đề cao cảnh giác, nhận diện và đấu tranh kịp thời.

Thực tiễn lịch sử cho thấy, từ khi xuất hiện nhà nước, bất kỳ giai cấp, đảng phái nào khi nắm quyền lãnh đạo đất nước cũng đều tổ chức ra quân đội để bảo vệ quyền lợi chính trị, kinh tế của mình và sự toàn vẹn của lãnh thổ quốc gia. Bởi thế, quân đội là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp, mang bản chất giai cấp sâu sắc, không có quân đội phi giai cấp, siêu giai cấp, trung lập, đứng ngoài chính trị. Trong xã hội hiện đại, mỗi quốc gia đều có một hay đa đảng lãnh đạo và quân đội của quốc gia đó luôn gắn và phục tùng sự lãnh đạo của đảng chính trị cầm quyền. Những gì đã trải qua trên thế giới cho thấy, quân đội của bất kỳ nước nào, trong quá trình xuất hiện và trưởng thành cũng luôn là một lực lượng chính trị quan trọng được nhà nước, giai cấp cầm quyền quan tâm lãnh đạo, xây dựng. Theo đó, cả về chính trị, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, về tư tưởng hay về đường lối, nguyên tắc tổ chức xây dựng quân đội cũng đều do giai cấp, nhà nước sinh ra nó quyết định.
Thực tế bài học về sự buông lỏng, coi nhẹ sự lãnh đạo của đảng cầm quyền đối với quân đội đều phải trả giá đối với sự tồn vong của chế độ, đất nước. Ví dụ như ở Liên Xô những năm 80 của thế kỷ XX, những người lãnh đạo Đảng Cộng sản do mắc bẫy chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nên đã rời bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị theo học thuyết Mác - Lênin, xóa bỏ cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội và xóa bỏ hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp, dẫn đến phân rã về tư tưởng, tổ chức, mất phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu, khiến Đảng Cộng sản Liên Xô tan rã. Và gần đây là những sự kiện bất ổn chính trị - xã hội liên miên, kéo dài làm suy yếu đất nước đang diễn ra ở một số nước châu Á, châu Âu và hàng loạt nước theo thể chế đa nguyên, đa đảng ở Trung Đông, Bắc Phi.
Tiếp thu học thuyết Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới, thực tiễn xây dựng, lãnh đạo quân đội của các nước trên thế giới, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện Quân đội thông qua thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, bảo đảm cho Quân đội luôn mang bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc; lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Tổ quốc và Nhân dân; lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta là vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.
Cần phải khẳng định thêm rằng, chỉ khi đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt, Quân đội ta mới có đường hướng phát triển đúng đắn, thực sự là đội quân có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước, Tổ quốc, nhân dân và luôn có ý chí quyết tâm, sức mạnh chiến đấu cao trước mọi kẻ thù xâm lược. Đảng thực hiện sự lãnh đạo Quân đội thông qua hệ thống tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp và các tổ chức quần chúng ở đơn vị cơ sở. Nhà nước thống nhất quản lý quân đội theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Các tổ chức đảng trong Quân đội hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, phân công cá nhân phụ trách, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình. Dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, Quân đội ta đã hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.
Thực tiễn lịch sử gần 80 năm, xây dựng, chiến đấu và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội là điều không thể xuyên tạc, phủ nhận; mọi luận điệu cho rằng xây dựng quân đội Việt Nam “trung lập về chính trị” không nên lệ thuộc Đảng Cộng sản của Nguyễn Đức Hạo Nhiên và đồng bọn của y là bịa đặt, phản khoa học, cần đấu tranh bác bỏ./.
Đọc tiếp »

Cảnh giác với âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội


Như một thông lệ, cứ vào dịp kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lại ra sức tung ra những điệp khúc xuyên tạc quen thuộc, hòng chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội. Mới đây, trên trang “Hung-viet” đã phát tán bài viết “Quân đội nhân dân Việt Nam: Hãy trở về đúng tên gọi của mình” với những luận điệu xuyên tạc nhằm chia rẽ, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội. Bởi vậy, cảnh giác, nhận rõ và chủ động đấu tranh, bác bỏ các luận điệu đó là vấn đề quan trọng, cấp thiết.

Vẫn luận điệu cũ, Nguyên Anh rêu rao rằng: “Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng đang bảo vệ đảng cầm quyền, họ hoàn toàn không bảo vệ người dân, bởi vì toàn bộ cấu trúc hệ thống đều do hệ thống đảng ủy chỉ đạo”. Đây là luận điểm vô căn cứ, phản khoa học nhằm tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hòng thực hiện mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội. 

Về bản chất, quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực của một giai cấp, nhà nước và do nhà nước, giai cấp đó thành lập, nuôi dưỡng, sử dụng để tiến hành đấu tranh vũ trang, thực hiện mục đích chính trị của giai cấp, nhà nước đã tổ chức và nuôi dưỡng nó. Ở một số quốc gia, quân đội còn tuyên thệ trung thành với người đứng đầu nhà nước (đương nhiên cũng là người đứng đầu đảng chính trị cầm quyền). Điều II, khoản 2 Hiến pháp Mỹ ghi rõ: “Tổng thống là Tổng Tư lệnh các lực lượng Lục quân và Hải quân Hoa Kỳ và lực lượng dự bị ở một số bang” . Rõ ràng, không có và không thể có bất kỳ một quân đội nào lại không gắn với một đảng chính trị cầm quyền, không bảo vệ lợi ích của giai cấp nào trong một chế độ xã hội nhất định.

Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Sự lãnh đạo của Đảng đã trở thành nguyên tắc căn bản trong xây dựng quân đội, quyết định bản chất giai cấp, mục tiêu lý tưởng chiến đấu, sự trưởng thành, lớn mạnh và chiến thắng của Quân đội ta trong mọi thời kỳ cách mạng. Điều đó được khẳng định rõ tại Điều 25, Chương VI, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam: “Đảng lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt”. Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội và sự trung thành tuyệt đối của Quân đội đối với Đảng là hai mặt thống nhất của một chủ thể; hai mặt đó có mối quan hệ biện chứng, không tách rời, được thực tiễn kiểm nghiệm trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta. Mối quan hệ giữa Đảng với Quân đội là mối quan hệ lãnh đạo và phục tùng, Đảng giữ vai trò lãnh đạo đối với Quân đội bằng một cơ chế đặc thù, bảo đảm cho Đảng thường xuyên giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt. 

Thực tiễn gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội ta không chỉ là công cụ, lực lượng chính trị tin cậy, trung thành của Đảng, Nhà nước mà còn là của nhân dân, của dân tộc, chiến đấu cho lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn toàn và triệt để quần chúng nhân dân lao động, phấn đấu không mệt mỏi cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng và cũng là vì độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dù công tác ở đâu, đi đến đâu, làm những nhiệm vụ gì, trong điều kiện chiến tranh hay hòa bình, ở đất liền hay trên biển đảo, cán bộ, chiến sĩ Quân đội đều ra sức bảo vệ, giúp đỡ, tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia xây dựng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói giảm nghèo, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, phấn đấu vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đó là biểu hiện sự thống nhất giữa trung thành với Đảng và trung hiếu với nhân dân với đất nước, dân tộc trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam, xứng đáng với lời khen tặng của Bác Hồ: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”

Do đó, luận điệu của Nguyên Anh chỉ là chiêu trò đánh lừa dư luận, hòng phủ nhận sự độc tôn lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, nhằm phá vỡ nền tảng chính trị của Quân đội, làm cho Quân đội mất phương hướng, mục tiêu chiến đấu, không còn khả năng làm nòng cốt cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì thế, chúng ta cần kiên quyết đấu tranh bác bỏ.


Đọc tiếp »

PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI - CHỦ NGHĨA CHỦ TRƯƠNG ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG TA

 Kinh tế thị trường là thành quả của văn minh nhân loại, được Đảng và Nhà nước Việt Nam vận dụng một cách đúng đắn, khách quan, khoa học, sáng tạo, trở thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó nhấn mạnh vị trí, vai trò của con người chính là động lực và cũng là mục tiêu cao nhất của sự phát triển. Song, các thế lực thù địch cho rằng, không có nền kinh tế nào là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; gán ghép định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường là chủ quan, duy ý chí, không có cơ sở khoa học, không thuyết phục; nếu bỏ cái đuôi định hướng xã hội chủ nghĩa thì nền kinh tế đất nước còn phát triển nhanh hơn, hiệu quả hơn; kinh tế thị trường là của chủ nghĩa tư bản, vận động theo các quy luật của chủ nghĩa tư bản, không thể dung hòa và kết hợp với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, với định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế của các quốc gia vì giữa chúng có sự mâu thuẫn, đối lập. Nếu ghép định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường thì chẳng khác nào râu ông nọ cắm cằm bà kia, ghép nước với lửa, hai củ khoai bỏ trong một rọ... Họ cho rằng, Việt Nam phải chuyển sang kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Thực tế, các thế lực thù địch đang cố tình xuyên tạc bản chất tốt đẹp của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

1. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đây, thực chất là kiểu tổ chức nền kinh tế - xã hội vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên những nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Tức là, có hai nhóm nhân tố cơ bản tồn tại trong nhau, kết hợp với nhau và bổ sung cho nhau. Đó là, nhóm nhân tố của kinh tế thị trường và nhóm nhân tố của xu hướng mới đang vận động, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó, nhóm thứ nhất đóng vai trò động lực thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển nhanh, hiệu quả; nhóm thứ hai đóng vai trò hướng dẫn, chế định sự vận động của nền kinh tế theo những mục tiêu đã xác định, bổ sung những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của thị trường, hoàn thiện mô hình chủ nghĩa xã hội. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta vừa mang những đặc trưng chung của kinh tế thị trường, vừa mang tính đặc thù, đó là định hướng xã hội chủ nghĩa. Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường không phủ nhận các quy luật kinh tế thị trường, mà là cơ sở để xác định sự khác nhau giữa kinh tế thị trường ở nước ta với các nước khác, cụ thể là giải quyết tốt các vấn đề xã hội, nói cách khác là phát triển kinh tế thị trường để thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Điều này khẳng định bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
2. Bên cạnh tính ưu việt của mô hình này, thì kinh tế thị trường vẫn còn tồn tại những hạn chế cố hữu, đó là: gia tăng tình trạng tham nhũng; bội chi ngân sách; cạnh tranh gay gắt, “cá lớn nuốt cá bé”; mâu thuẫn tổng cung và tổng cầu; gia tăng số lượng doanh nghiệp phá sản; gia tăng tình trạng thất nghiệp, lạm phát; bất bình đẳng, gia tăng khoảng cách giàu nghèo; tài nguyên bị cạn kiệt; môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng… Những hạn chế cố hữu này, bản thân kinh tế thị trường không những không thể tự khắc phục được, mà còn gia tăng theo thời gian. Để khắc phục chúng, không có cách nào khác tốt hơn bằng sự định hướng và can thiệp của Nhà nước xã hội chủ nghĩa thông qua đường lối, chủ trương, cơ chế, chính sách, pháp luật và lực lượng vật chất Nhà nước có trong tay để định hướng, điều tiết nền kinh tế. Do vậy, khi thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ khắc phục được những hạn chế cố hữu trên. Đồng thời, bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường, nhân lên tính nhân văn, nhân đạo, ưu việt, cao cả của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Việc các thế lực thù địch bôi nhọ, vu cáo, trắng trợn, xuyên tạc nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đi ngược lại chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và lợi ích nguyện vọng, chính đáng của nhân dân ta. Do đó, chúng ta cần kiên quyết đấu tranh vạch trần bộ mặt phản động của chúng để nhân dân hiểu rõ và cảnh giác.





Đọc tiếp »

Đấu tranh chống luận điệu “ chủ nghĩa xã hội dân chủ” của các thế lực thù địch hòng phá hoại nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

 


Các thế lực thù địch vẫn ráo riết tìm mọi cách phá hoại nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó luận điệu “chủ nghĩa xã hội dân chủ” được chúng ra sức truyền bá, tung hô, ca ngợi và ra sức rêu rao rằng, chỉ có “chủ nghĩa xã hội dân chủ” của đảng dân chủ xã hội mới thật sự "dân chủ”, còn nền dân chủ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng và các đảng cộng sản nói chung tiến hành xây dựng không thể có dân chủ - đó là thuật “nguỵ biện” của các thế lực thù địch.

Lịch sử ra đời của “chủ nghĩa xã hội dân chủ” bắt nguồn từ chủ nghĩa Cantơ mới mà nội dung của chủ nghĩa này là truyền bá chủ nghĩa xã hội đạo đức. Theo quan niệm này, chủ nghĩa xã hội là một lý tưởng đạo đức. Vì vậy, vấn đề cải tạo xã hội theo chủ nghĩa xã hội chủ yếu là vấn đề đạo đức. Về mặt lý luận, đại diện của nó là “chủ nghĩa Becstanh” và “chủ nghĩa Causky” - một thứ chủ nghĩa cải lương.

Nhìn lại thời kỳ cách mạng dân chủ tư sản châu Âu, thấy rằng, năm 1848, Ở Đức xuất hiện nhóm “Thợ thuyền anh em”, tự xưng là những người chủ nghĩa xã hội dân chủ. H nêu ra một số cải cách xã hội, nhưng vẫn chưa vượt ra khỏi yêu cầu cải lương của giai cấp tư sản và tiểu tư sản lúc bấy giờ. Năm 1849, xuất hiện Đảng Dân chủ xã hội Pháp. Chủ trương, đường lối của Đảng này là xây dựng nhà nước cộng hoà của giai cấp tư sản, thực hiện một số thay đổi nào đó trong khuôn khổ chủ nghĩa tư bản. Vào thời điểm này, tuy thế giới chưa xuất hiện đảng cộng sản, nhưng C.Mác và Ph.Ăngghen đã sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học. Những lý luận đầy sức thuyết phục của C.Mác và Ph.Ăngghen nêu trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đã làm cho những người theo chủ nghĩa xã hội dân chủ phải suy nghĩ. Trong giai đoạn đầu, C.Mác và Ph.Ăngghen chủ trương tiến hành triệt để cuộc cách mạng dân chủ tư sản, tiến tới quá độ lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Từ đó, khái niệm “chủ nghĩa xã hội dân chủ” vừa xuất hiện đã có sự nhận thức khác nhau và sự phân biệt về nguyên tắc giữa cách mạng và cải lương. Sự khác nhau cơ bản của hai xu hướng này chỗ: Có phải chỉ cần hoàn thành cách mạng dân chủ tư sản, xây dựng nhà nước cộng hoà tư sản mà không cần phải tiếp tục tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa không? Có phải chỉ cần dựa vào nhà nước tư sản thông qua biện pháp “dân chủ” là có thể thoát khỏi sự nô dịch và bóc lột của tư bản, giành quyền bình đẳng không? Câu trả lời: Không. Bởi vì, trong thực tế các cuộc cách mạng tư sản châu Âu (1848 - 1849) đã chứng minh một khi giai cấp tư sản nắm được chính quyền, củng cố được sự thống trị của mình, lập tức dùng vũ lực phủ quyết các đòi hỏi của giai cấp công nhân. C.Mác và Ph.Ăngghen thấy lập trường chính trị và khuynh hướng của những người tham gia đảng xã hội dân chủ rất khác nhau. Nhiều người nhận thức về “chủ nghĩa xã hội dân chủ” hoàn toàn khác với chủ nghĩa cộng sản. Vì vậy, hai ông đã uốn nắn những nhận thức sai lệch của những người theo “chủ nghĩa xã hội dân chủ” trước việc cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới.

Từ cuối những năm 80 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa Mác được truyền bá ngày càng rộng rãi trên trường chính trị quốc tế và trong phong trào công nhân các nước, thực tế đã giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa cải lương và chủ nghĩa cơ hội, dần dần trở thành hình thái ý thức tư tưởng, chiếm vị trí chủ đạo và lôi kéo được nhiều người có xu hướng xã hội dân chủ ngả theo chủ nghĩa cộng sản. Đến những năm 90 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa Mác hoàn toàn chiến thắng các hệ tư tưởng khác trong phong trào công nhân. Nhiều đảng dân chủ xã hội lấy lý luận C.Mác - Ph.Ăngghen làm cơ sở để thảo cương lĩnh chính trị của đảng mình. Từ năm 1889 đến năm 1895, hoạt động của Quốc tế 2 do Ph.Ăngghen chỉ đạo, về thực chất là một tổ chức công nhân phát triển trên cơ sở chủ nghĩa Mác, mặc dù lấy tên gọi là “Liên minh quốc tế của các đảng xã hội”. Song, Ph.Ăngghen đã giải thích rằng, tên gọi không quan trọng. Cái quan trọng chính là nó có theo những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản hay không? Trong thời gian ấy, nhiều đảng dân chủ xã hội châu Âu trở thành lực lượng chính trị quan trọng. Sau khi Ph.Ăngghen qua đời (1895), quan lãnh đạo trong Quốc tế 2 rơi vào tay những người cải lương, cơ hội chủ nghĩa, đòi xét lại chủ nghĩa Mác.

Với V.I.Lênin, lúc đầu xem “chủ nghĩa xã hội dân chủ” có cái gì gần gũi với chủ nghĩa Mác.Vì vậy, năm 1898, V.I.Lênin đặt tên cho chính đảng của giai cấp công nhân đầu tiên Nga là “Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga”. Về sau, V.I.Lênin đã nhận rõ tính chất xa rời chủ nghĩa Mác về tư tưởng của các đảng dân chủ xã hội, nên Ông đã vạch trần những diễn biến phức tạp của nó và đổi tên Đảng thành “Đảng Cộng sản (Bônsơvích) Nga” vào năm 1918. Từ đấy, dưới sự lãnh đạo của V.I.Lênin, ngọn cờ chủ nghĩa xã hội khoa học đã được phất lên trong cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội khoa học.

Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch H Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã kiên trì con đường chủ nghĩa xã hội khoa học, thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng H Chí Minh. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là ngọn cờ đã, đang và sẽ được phất lên trong quá trình xây dựng và bảo vệ T quốc. Đó là một sự lựa chọn lịch sử đúng đắn nhất. Dân chủ của Việt Nam là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải dân chủ tư sản. Bản chất của dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa là khác nhau. Dân chủ tư sản là một trong những hình thức chính trị của nhà nước tư sản. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là một trong những hình thức chính trị của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nó bắt nguồn từ chính bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Cơ sở kinh tế của dân chủ tư sản là những điều kiện tiên quyết của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, các trào lưu xã hội dân chủ vẫn rêu rao là đại diện cho phong trào công nhân quốc tế ngày nay, thực chất là thứ chủ nghĩa xã hội dân chủ cải lương. Nét thể hiện của kiểu dân chủ này là xu hướng thay thế đấu tranh giai cấp bằng hợp tác giai cấp, quan niệm về tính chất “siêu giai cấp”, “đa giai cấp” của nhà nước và của dân chủ, quan niệm về chủ nghĩa xã hội như là một phạm trù đạo đức. Lý thuyết này, những người xã hội dân chủ đã áp dụng vào việc quản lý xã hội tại nhiều nước phương Tây. Có được khả năng nắm tay lái điều khiển bộ máy nhà nước, các vị thủ lĩnh xã hội dân chủ tự cho mình là “thầy thuốc bên giường bệnh” của chủ nghĩa tư bản. Nhiều đảng xã hội - dân chủ chuyển sang hệ tư tưởng chiết trung, “đa nguyên” và tuyên bố “chủ nghĩa xã hội dân chủ” là cương lĩnh tư tưởng của họ. Một số đảng xã hội dân chủ thực hiện chính sách hai mặt. Một mặt, họ gắn với nhà nước tư bản, mặt khác, họ lại liên hệ với phong trào công nhân, với công đoàn và các tổ chức quần chúng khác. Hiện nay, phái xã hội - dân chủ vẫn là một lực lượng chính trị - xã hội quan trọng những nước tư bản chủ nghĩa phát triển. Tuy nhiên, trước sự phản ứng của một bộ phận trong công nhân và nông dân, nhiều đảng xã hội - dân chủ đã tính đến sự hoà dịu, ủng hộ chính sách cùng tồn tại hoà bình. Một số người trong phái xã hội - dân chủ thừa nhận tính ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và có những quan hệ về đảng với đảng cộng sản.

Sự hình thành và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một quá trình khách quan do những yếu tố muôn màu muôn vẻ xác định. Sự bình đẳng, công bằng xã hội, tự do cá nhân và quyền lực nhân dân là mục đích có tính chất lịch sử của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Cái cốt lõi của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã được xác định, đó là quyền lực của nhân dân. Tất cả các công dân đều có quyền tham gia vào công việc của nhà nước. Dân chủ xã hội chủ nghĩa đồng nghĩa với tính chủ động sáng tạo của quần chúng nhân dân hết sức rộng rãi. Hệ thống dân chủ của chủ nghĩa xã hội xây dựng trên những điều kiện mới của sự phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Hình thức cơ quan lãnh đạo dân cử, quyền công dân, những thể chế và những yếu tố dân chủ được những lực lượng tiến bộ của xã hội xây dựng và bảo vệ. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, những hình thức dân chủ trực tiếp khác nhau cũng được phát triển rộng rãi, biểu hiện trong những hoạt động của các tổ chức xã hội. Nhà nước xã hội chủ nghĩa tạo cho công dân những khả năng rộng rãi để tự do bày tỏ nguyện vọng và trình bày những ý kiến của mình về những vấn đề thuộc về đời sống xã hội. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa tuyên bố bảo đảm những quyền xã hội của công dân, quyền đi lại, lao động, nghỉ ngơi, học hành, quyền tham gia vào những vấn đề chính trị, xã hội. Lực lượng chủ đạo của toàn bộ quá trình phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là Đảng Cộng sản. Nghị quyết, đường lối, chính sách của Đảng phản ánh những lợi ích của nhân dân.

Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thể hiện và thực hiện theo Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đó là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, quyền bình đẳng nam nữ, quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật, quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng tác, học tập... Để bảo đảm quyền làm chủ thật sự của nhân dân, Hiến pháp ghi rõ Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang được phát huy và đã gặt hái được những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Vai trò xã hội của nhân dân không ngừng được nâng cao. Quy chế dân chủ đang được xác lập từng cấp và đang được thực hiện cơ sở. Không khí dân chủ trong xã hội đang được phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng. Việt Nam đang từng bước khắc phục những hiện tượng vi phạm dân chủ cơ sở; làm rõ cơ sở lý luận dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện một đảng cầm quyền và nhiều đoàn thể nhân dân. Đẩy lùi được những hiện tượng quan liêu, tham nhũng, cơ hội chính trị, mất dân chủ sẽ dần dần làm cho bộ mặt dân chủ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam sáng lên trong lòng bầu bạn trên thế giới.

Thực hiện dân chủ phải đi đôi với việc chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước. Luật pháp của Nhà nước bảo đảm cho việc thực hiện quyền dân chủ của nhân dân. Sống và làm việc theo pháp luật chính là cơ sở pháp lý bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân.

Năm 1949, Chủ tịch H Chí Minh viết bài “Dân vận”, Người khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ”. Nội dung của một nước dân chủ là:

“Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.

Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra.

Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều nơi dân” [1, tr. 698].

Trong quá trình hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang đẩy mạnh thực hiện lời giáo huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều đó, được thể hiện ở sự nhất quán và xuyên suốt qua các kỳ đại hội của Đảng. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [2, tr. 27 - 28].

Vì vậy, mọi luận điệu xuyên tạc, công kích nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều đi ngược lại quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam; tất yếu tự các luận điệu đó sẽ bị đào thải.

                                                 * Trần Trí Dũng Khoa Quân sự chung

Tài liệu tham khảo:

1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 698.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 27-28).

Đọc tiếp »

Phát triển văn hóa Đảng trong không gian số

Chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong đời sống chính trị, văn hóa và xã hội. T...