Bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho quân nhân ở đơn vị cơ sở Bộ đội Biên phòng theo Tư tưởng Hồ Chí Minh

 


Thời gian vừa qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tận dụng mọi cơ hội để chống phá cách mạng nước ta. Tăng cường hoạt động phi chính trị hóa quân đội là một trong những mũi nhọn các đối tượng hướng đến. Xây dựng đạo đức quân nhân ở đơn vị cơ sở Bộ đội Biên phòng theo Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng có thể được xem là “vacin”  ngăn chặn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch

Quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam từ khi ra đời với tiền thân là Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (22/12/1944) đến nay, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ qua các thời kỳ đã hun đúc, tạo dựng, giữ gìn và phát huy tốt truyền thống trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng của Quân đội ta - đó là truyền thống hết sức quý báu và vẻ vang, thể hiện đầy đủ và rõ nét bản chất đạo đức tốt đẹp của mội quân đội cách mạng. Tuy nhiên, trước công cuộc đổi mới toàn diện, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá với bối cảnh thế giới, khu vực và trong nước có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, các thế lực thù địch, phản động cùng với những phần tử cơ hội chính trị không ngừng đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta và chế độ xã hội chủ nghĩa, trong đó chúng coi truyền thống Quân đội, các giá trị đạo đức cốt lõi của người quân nhân cách mạng trong Quân đội ta nói chung và Bộ đội Biên phòng (BĐBP) nói riêng là một trong những mục tiêu, nội dung trọng điểm để chống phá. Thủ đoạn của chúng thường lợi dụng những sự kiện có thật, khoét sâu vào những thiếu sót, hạn chế của một số quân nhân để thổi phồng, suy diễn, bóp méo, bịa đặt, quy kết thành những hạn chế, yếu kém của toàn lực lượng BĐBP cũng như của Quân đội. Vì vậy, nhiệm vụ đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái, thù địch đó thông qua hoạt động xây dựng đạo đức quân nhân cho cán bộ, chiến sĩ ở các cơ quan, đơn vị BĐBP, nhất là ở các đơn vị cơ sở BĐBP theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh càng phải được chú trọng, lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ và hiệu quả.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên chăm lo xây dựng con người mới - con người xã hội chủ nghĩa vừa “hồng”, vừa “chuyên”, trong đó Người luôn khẳng định tầm quan trọng của đạo đức cách mạng - đó là cái “gốc”, là “nền tảng”, là “cái căn bản” của người cách mạng; là động lực tinh thần, là cái bảo đảm cho người cách mạng giữ vững lập trường giai cấp, vượt mọi khó khăn hoàn thành nhiệm vụ. Theo Người: “Có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ, rụt rè, lùi bước. Vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của cả loài người mà không ngần ngại, hy sinh cả tính mạng mình cũng không tiếc. Đó là biểu hiện rất rõ rệt, cao quý của đạo đức cách mạng”[1]. Đặc biệt, Người đã chỉ rõ thực chất đạo đức cách mạng là quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích của mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Đối với quân đội ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh những phẩm chất đạo đức cơ bản, cốt lõi nhất của người quân nhân cách mạng, đó là: 1. Trung với nước, với cách mạng, với Đảng, hiếu với dân. 2. Yêu thương con người. 3. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. 4. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. 5. Tinh thần quốc tế trong sáng. Người nhận xét: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” [2].

Trong điều kiện hiện nay, nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia có sự phát triển cả về quy mô, tính chất, đòi hỏi phải xây dựng BĐBP cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; một số thành phần tiến thẳng lên hiện đại. Thực tiễn đó đặt ra những đòi hỏi cao và toàn diện về mọi mặt đối với cán bộ, chiến sĩ BĐBP, trực tiếp là vấn đề phẩm chất đạo đức người quân nhân cách mạng của cán bộ, chiến sĩ ở đơn vị cơ sở BĐBP; bảo đảm họ luôn có ý chí, quyết tâm cao, đủ sức vượt qua mọi khó khăn, thử thách, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Để vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng vào xây dựng đạo đức quân nhân cho cán bộ, chiến sĩ, đòi hỏi cấp uỷ, chỉ huy các đơn vị cơ sở BĐBP cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp cơ bản sau:

Một là, thường xuyên giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền, nhất là những người giữ các cương vị lãnh đạo, chỉ huy; trong đó cần chủ động xây dựng kế hoạch khoa học, cụ thể, tỷ mỉ, triển khai toàn diện, đồng bộ các nội dung, hình thức và phương pháp tiến hành bồi dưỡng nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng, rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, trình độ trí tuệ và tác phong, phương pháp công tác cho cán bộ, chiến sĩ ở đơn vị. Nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục, bồi dưỡng đạo đức phải sát hợp với từng đối tượng, có yêu cầu cụ thể, gắn với từng cương vị, chức trách của cán bộ, chiến sĩ.

Hai là, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, tổ chức đoàn thanh niên và tập thể quân nhân trong đơn vị. Duy trì nghiêm chế độ tự phê bình và phê bình; giữ vững nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng; tăng cường công tác quản lý cán bộ, đảng viên. Thực hiện “nói đi đôi với làm”, “nêu gương về đạo đức”, “xây đi đôi với chống”. Trong đó, tập trung xây dựng những phẩm chất, những chuẩn mực đạo đức mới, nêu những tấm gương sáng xuất hiện trong cuộc sống và xây dựng ý thức lành mạnh để mỗi người tự giác thực hiện trách nhiệm đạo đức của mình. Đấu tranh, khắc phục, loại bỏ cái xấu, cái sai, cái cản trở đạo đức cách mạng phát triển; kiên quyết loại bỏ những cá nhân đang làm mất uy tín, trở thành nguy cơ đe doạ vai trò cầm quyền của Đảng.

Ba là, kết hợp đẩy mạnh việc thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” với duy trì nghiêm quy chế dân chủ ở cơ sở. Tạo môi trường thuận lợi để cán bộ, chiến sĩ phát huy quyền dân chủ theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” cũng như biết cách kiểm tra, giám sát công việc của cán bộ, đảng viên. Thực hiện tốt việc “tự soi, tự sửa”, tham gia ý kiến đóng góp xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, tập thể đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”.

Bốn là, kịp thời tham mưu, kiến nghị trên bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với quân nhân và hậu phương, gia đình quân nhân trong đơn vị khi phát hiện những vấn đề bất cập mới nảy sinh; kết hợp chặt chẽ với thực hiện đồng bộ cơ chế, chính sách pháp luật, kỷ luật trong đơn vị. Chú trọng phát hiện, đề nghị trên bổ nhiệm, đề bạt cán bộ đúng người, đúng việc, đúng chỗ, đúng sở trường, đúng phẩm chất, năng lực.

Năm là, đề cao trách nhiệm cá nhân từng cán bộ, chiến sĩ trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức quân nhân. Toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị, trước hết là cán bộ lãnh đạo chủ chốt, phải tích cực học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị, kiến thức chuyên môn, năng lực hoạt động thực tiễn, đồng thời thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng theo các tiêu chuẩn chức danh cán bộ theo nguyên tắc: Cán bộ, đảng viên có chức, có quyền càng cao thì ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng càng

Trần Tố Uyên

Giảng viên Khoa CTĐ, CTCT

TLTK:


[1]
 Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 1996, tr. 284.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 14, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2011, tr. 435.

 

Đọc tiếp »

Cán bộ, đảng viên trong quân đội nhân dân việt nam tích cực bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trước thềm đại hội đảng các cấp, tiến tới đại hội đảng toàn quốc lần thứ xiv, nhiệm kỳ 2025 - 2030

 

Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trước thềm Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2025 - 2030 là nội dung cơ bản, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Trong đó, mỗi cán bộ, đảng viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam cần chủ động, tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch khi tham gia vào mạng xã hội; cần nêu cao tinh thần, trách nhiệm trong việc học tập, nghiên cứu và vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành “kim chỉ nam”, là nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội trong giai đoạn mới, kỷ nguyên mới, kỳ nguyên vươn mình của đất nước Việt Nam.



Thời điểm Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2025 - 2030 là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trên phạm vi cả nước, diễn ra trong bối cảnh nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực. Trước những thành công của đất nước Việt Nam đã đạt được các thế lực thù địch, phản động đang rất “hằn học” ra sức tăng cường các hoạt động chống phá sự nghiệp đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước, nhất là về nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Viết Nam. Các thế lực thù địch, phản động, bất mãn lại ra sức tăng cường chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, họ lợi dụng các kỳ đại hội Đảng là lúc nhân dân ta đặc biệt quan tâm đến tình hình chính trị của đất nước nên cho rằng đây là cơ hội để tấn công, làm chuyển hoá tình hình, thay đổi đường lối chính trị ở nước ta. Chính vì vậy các thế lực thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị đang điên cuồng, chống phá bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn khác nhau. Chúng dùng các lực lượng, phương tiện từ bên ngoài, vừa tận dụng phát triển lực lượng ở trong nước ta để tạo ra sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, chống đối từ nội bộ Đảng hòng phá ta từ bên trong phá ra, làm cho ta hoang mang, dao động mất phương hướng, nghi ngờ lẫn nhau dẫn đến mất đoàn kết mà tự diễn biến, tự tan vỡ. Họ làm như vậy để cố tìm ra và tạo dựng nên những sự kiện “nóng”, “nhạy cảm”, “ngọn cờ” “thủ lĩnh” để chống ta. Một số phần tử cơ hội chính trị, bất mãn cũng lợi dụng tập hợp các diễn đàn, tọa đàm, phản biện, góp ý cho Đảng, lợi dụng các mối quan hệ để truyền bá những quan điểm sai trái của mình, liên tiếp viết “tâm thư”, “thư ngỏ”, “kiến nghị”, tung tài liệu vu cáo, đả kích chế độ ta, để tác động vào đội ngũ cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân, học sinh, sinh viên...

Trong quá trình thực hiện tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta, các thế lực thù địch sử dụng chiêu bài đề cao, tuyệt đối hóa vai trò của Tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng cho rằng nước ta không cần Chủ nghĩa Mác - Lênin mà chỉ cần Tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ. Hay trong các nội dung xuyên tạc về Đảng ta, các thế lực thù địch luôn lặp đi lặp lại rằng trong Đảng cũng có “phe này”, “phe kia”, “phe thân chỗ này”, “phe thân chỗ kia”...Lợi dụng vấn đề đoàn kết trong Đảng để chống phá, chúng cho rằng nguyên nhân dẫn đến thủ tiêu đấu tranh, khiến cho việc tự phê bình và phê bình không còn thực chất vì đảng viên sợ mang tiếng là “mất đoàn kết”. Họ cho rằng đề cao dân chủ chính là phải “đa nguyên”, “đa đảng”, thì Đảng ta mới phát triển mạnh mẽ được…

Nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình, đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam đã tích cực, chủ động tham gia đấu tranh, phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, ngăn chặn hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, chống phá đường lối lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; các biểu hiện cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, giảm sút niềm tin, mơ hồ, mất cảnh giác; không để suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, góp phần vào sự thành công Đại hội Đảng bộ các cấp và Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng thì cán bộ, đảng viên trong trong Quân đội nhân dân Việt Nam cần quán triệt và thực hiện đồng bộ một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, tích cực tuyên truyền, làm sáng tỏ và bảo vệ các nguyên lý, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản.

Nhằm thực hiện âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam, một trong những hành động chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch là tiến công chống phá vào nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã xác định về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản. Tại đây, chúng ta cần nhận diện rõ các luận điểm tư tưởng sai trái, thù địch, cơ hội về chính trị mà chúng thường xuyên bám lấy, rêu rao, tuyên truyền, xuyên tạc trong thời gian qua và sẽ diễn ra trong thời gian tới đây, đó là: “Quân đội trung lập về chính trị”, “Quân đội đứng ngoài chính trị”, “Quân đội luôn là quân đội phi giai cấp, phi đảng phái”, “Quân đội chỉ có nhiệm vụ bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ nhân dân”, “Quân đội không phải là của bất cứ đảng phái nào”; “Quân đội không đặt dưới quyền lãnh đạo của bất cứ đảng phái nào”; “Quân đội chỉ trung với nước, hiếu với dân mà thôi”… Trước âm mưu, thủ đoạn tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá những nguyên lý, lý luận căn bản, nền tảng đó của các thế lực thù địch, đòi hỏi đấu tranh tư tưởng, lý luận nói chung, đấu tranh tư tưởng, lý luận nói riêng ở các đơn vị Quân đội, bên cạnh việc nhận diện, tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái trên đây, cần phải kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh với tuyên truyền sâu rộng trong các đơn vị của Quân đội, để làm sáng tỏ những nguyên lý, lý luận gốc mà C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định.

Hai là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục và bảo vệ đường lối, cơ chế, nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam.

Hiện này, các thế lực thù địch tập trung tiến công về tư tưởng, lý luận vào đường lối, cơ chế, nguyên tắc lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Chúng coi đây là hướng mũi tấn công chủ yếu, cần phải làm sụp đổ nguyên tắc lãnh đạo và tổ chức Quân đội của Đảng ta. Nếu có thể làm lung lay và sụp đổ nguyên tắc này, thì công cụ bạo lực vũ trang cách mạng của Đảng sẽ tất yếu đổ vỡ, chuyển hóa được Quân đội vào vòng tay, sự thao túng, điều hành của các thế lực phản động, chống cộng, chống Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, trong công tác đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận nói chung, trong công tác tuyên truyền nói riêng, chúng ta luôn luôn tỉnh táo, nhận diện được nhanh chóng, kịp thời các tư tưởng, quan điểm chống phá về đường lối, cơ chế và nguyên tắc lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, mà ở đó nguyên tắc căn bản nhất, sống còn nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, để nhận diện những tư tưởng, quan điểm chống phá đường lối, cơ chế và nguyên tắc lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam của các thù địch là không dễ dàng. Bởi thực tế cho thấy, bên cạnh việc nêu lên những quan điểm, tư tưởng chống phá trực tiếp, rõ ràng, phần nhiều là các thế lực thù địch dùng thủ đoạn ngụy trang, che lấp các tư tưởng, luận điểm chống phá trực tiếp đó. Chúng thường áp dụng các thủ đoạn phát tán các nguyên tắc tổ chức quân đội của giai cấp, nhà nước tư sản; tuyên truyền những hình thức tổ chức “quân đội trung lập”, “quân đội đứng ngoài chính trị” của một số nước trong khu vực, trên thế giới để gợi ý hướng lái tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ quân đội, lực lượng vũ trang, các nhà lập pháp của nước ta; hoặc có thể tác động “nhẹ nhàng” như “tư vấn” chính sách, pháp luật, không “đao to, búa lớn”, đầy vẻ “trí tuệ” khoa học, uyên thâm, bác học, với một “tinh thần khoa học”, hoặc núp bóng dưới tinh thần của “những người yêu nước”, “nhà thông thái”…đây là những âm mưu rất thâm độc, tinh vi và xảo quyệt. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả đấu tranh tư tưởng, lý luận ở các đơn vị Quân đội, một trong những vấn đề quan trọng là đội ngũ cán bộ, đảng viên phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục và bảo vệ đường lối, cơ chế, nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam trong các bài viết, các chuyên đề, hình thức đấu tranh tư tưởng, lý luận mà các đơn vị đang tiến hành, vận dụng, đang tổ chức thực hiện trong phạm vi công tác của mình cho phù hợp.

Ba là, đẩy mạnh đấu tranh tư tưởng, lý luận, bảo vệ Hiến pháp, pháp luật về sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân

Trong thời gian vừa qua, cũng như trong thời gian tới đây, một trong những nội dung tư tưởng, lý luận mà các thế lực thù địch đã đang và tiếp tục tuyên truyền chống phá, đó là tiến công tư tưởng, lý luận vào các nguyên tắc tổ chức, điều hành và quản lý Quân đội nhân dân Việt Nam mà Hiến pháp, luật pháp của Nhà nước ta đã xác lập. Về lý thuyết, nếu để cho các thế lực thù địch tiến công thành công trong sự chống phá và chuyển hóa các cơ sở pháp luật của Nhà nước ta về sự quản lý điều hành của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, thì xem như chúng đã làm phai mờ được học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản và đường lối, cơ chế, nguyên tắc tổ chức và lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi đúng như chủ nghĩa Mác - Lênin đã từng chỉ ra, nhà nước là sự biểu hiện tập trung và cuối cùng của chính trị, vấn đề căn bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền nhà nước, ai giành được chính quyền nhà nước, người đó sẽ có tất cả.

Mỗi cán bộ, đảng viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam chúng ta phải xác định rõ trách nhiệm của bản thân trong việc đấu tranh tư tưởng, lý luận, là một lực lượng cơ bản, quan trọng trong sự đấu trí, đấu tài về sự thông thái và khoa học trên lĩnh vực chính trị quân sự với chúng. Vì lẽ đó, trong thời gian tới, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần tập trung và hướng đến bảo vệ những vấn đề căn bản nhất của Hiến pháp và pháp luật đã hiến định và quy định về sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Những bài viết, những bài đấu tranh không chỉ phản bác một cách khoa học và thuyết phục về vấn đề này, mà còn tích cực tuyên truyền làm sáng tỏ, củng cố vững chắc sự đúng đắn và niềm tin của Nhân dân, cán bộ, đảng viên và chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam về những nội dung căn bản, quan trọng nhất mà Hiến pháp và pháp luật đã quy định về sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân Việt Nam.

Bốn là, tập trung đấu tranh phản bác các tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc chống phá về chức năng, nhiệm vụ, truyền thống bản chất của Quân đội, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”.

Chúng ta cũng cần có nhiều những bài viết tuyên truyền, giáo dục truyền thống chiến đấu anh dũng vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam trong lịch sử chiến tranh bảo vệ Tổ quốc cũng như trong hòa bình, xây dựng đất nước. Cần có những bài đi sâu, phản bác trực diện với những điệu xuyên tạc làm sai lệch nhận thức về lịch sử chiến đấu và chiến thắng bảo vệ Tổ quốc, nhân dân và lợi ích quốc gia, dân tộc, thực hiện nghĩa vụ quốc tế vô sản cao cả của Quân đội ta. Cùng với đó, cũng cần có những bài viết, những video clip tuyên truyền, làm rõ và khẳng định những hình ảnh tốt đẹp về bản chất, phẩm chất, đạo đức cách mạng của “Bộ đội Cụ Hồ” trong những năm tháng chiến tranh giữ nước hào hùng, cũng như trong quá trình xây dựng đất nước, giúp đỡ Nhân dân, bảo vệ và giữ vững độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, nhất là các tấm gương, hành động thể hiện quyết tâm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo hiện nay của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam.

Bên cạnh đó, các đơn vị Quân đội cần gắn kết chặt chẽ yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục cán bộ, đảng viên với công tác tổ chức, cán bộ, bảo vệ nội bộ, xây dựng tổ chức đảng và xây dựng đơn vị trong sạch, vững mạnh. Đặc biệt đẩy mạnh công tác tuyên truyền rộng rãi trong Nhân dân, nhất là trong giới trẻ về lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và lịch sử Đảng, từ đó hình thành nhân sinh quan cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực phân biệt đúng - sai, khả năng miễn nhiễm trước các thông tin xấu, độc. Tiếp tục phát triển đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác tư tưởng, lý luận có bản lĩnh, trí tuệ, năng lực, phương pháp và kỹ năng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng đội ngũ chuyên gia đầu ngành, có nhiệt huyết và tầm cao về lý luận; xây dựng đội ngũ cán bộ kế cận, cán bộ trẻ. Tạo môi trường thuận lợi, bảo đảm điều kiện làm việc để người tài chuyên tâm, nỗ lực đóng góp vào công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Tích cực tìm kiếm, nhân rộng những mô hình hay, những cách làm đổi mới, sáng tạo, hiệu quả, những tấm gương người tốt, việc tốt, điển hình tiên tiến; chia sẻ kinh nghiệm tuyên truyền, đấu tranh; khen thưởng những cá nhân có thành tích xuất sắc trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Để đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam mang lại hiệu quả cao. Mỗi cán bộ, đảng viên trong Quân đội Nhân dân Việt Nam cần chủ động thực hiện đồng bộ cả bốn giải pháp nêu trên để góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội… trước thềm Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2025 - 2030; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn giữ vai trò chủ đạo, là “kim chỉ nam” trong đời sống xã hội của đất nước ta.

                                 ThS Trần Quốc Hoàn – Học viện Biên phòng

          Ghi chú:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, T.1, T.2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021.

2.     Hiến pháp năm 2013. Nxb Lao Động – H2014.

3. Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Báo cáo số 06-BC/TW ngày 23/7/2022 của Bộ Chính trị về tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012 - 2022.

4. Nguyễn Phú Trọng, Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2023, tr.26 - 27 và tr.321.

5. Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại Lễ trao giải Cuộc thi chính luận về Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ Tư, năm 2024. Tạp Chí của Ban Tuyên  giáo Trung ương (10/2024).

6. V.I. Lênin Toàn tập, tập 37, Nxb CTQG, Hà Nội, 2005, tr.610.

Đọc tiếp »

Phản bác luận điệu xuyên tạc chủ trương, tinh gọn tổ chức bộ máy theo Nghị quyết 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII

 


Chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị với quan điểm “Tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả” dưới sự chỉ đạo của Đảng ta, đứng đầu là Tổng Bí thư Tô Lâm nhận được sự quan tâm, đồng tình ủng hộ, ý chí, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị và đông đảo quần chúng nhân dân. Thế nhưng, như thường lệ, trước, trong và sau khi diễn ra nhưng sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các thế lực thù địch luôn lợi dụng triệt để không gian mạng để tuyên truyền những thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch về chủ trương tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị nhằm chống phá Đảng và Nhà nước ta. Bởi vậy, cần nhận diện rõ bản chất, kiên quyết đấu tranh, bác bỏ những luận điệu, quan điểm sai trái, phản động, những thông tin xấu độc làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước và lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của đất nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện tư tưởng nhất quán, đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác cán bộ và cán bộ. Người luôn khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, do vậy, “Công tác cán bộ phải có vai trò quyết định trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ vừa hồng vừa chuyên” [1].

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác cán bộ và cán bộ, Đảng ta đã luôn quan tâm đến công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Văn kiện Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Đảng ta đã xác định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”. Điều đó có nghĩa là, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt thì công tác cán bộ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng, then chốt của then chốt.

Nhận thức rõ tầm quan trọng đặc biệt của công tác cán bộ, trong bất cứ giai đoạn cách mạng nào, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm đến đổi mới công tác cán bộ và kiểm soát thực thi quyền lực trong công tác cán bộ, đặc biệt coi trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, tăng cường hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị; trong đó, công tác tổ chức bộ máy là then chốt của then chốt, quyết định to lớn đến sự phát triển của đất nước. Đây chính là một trong những yếu tố quan trọng nhất, quyết định nhất đưa Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành người cầm lái vĩ đại, người thuyền trưởng tài ba chèo lái đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua mọi ghềnh thác, gặt hái được những thắng lợi kỳ tích vẻ vang trên con đường vinh quang đi lên chủ nghĩa xã hội.

Đặc biệt, từ khi đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), Đảng ta đã xác định nhiệm vụ quan trọng song hành cần làm ngay là kết hợp đổi mới cơ chế kinh tế đồng thời với đổi mới bộ máy quản lý Nhà nước. Trong suốt 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã nhiều lần ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực hiệu quả, xây dựng cơ cấu đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất và năng lực ngang tầm nhiệm vụ, biên chế tổ chức hợp lý, chuẩn hóa các vị trí chức danh cán bộ.

Những năm qua, chủ trương tinh giản biên chế và sắp xếp lại tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở nước ta đã được Đảng và Nhà nước triển khai đồng bộ, mạnh mẽ, được đa số cán bộ đảng viên đồng tình hưởng ứng và đạt được một số kết quả quan trọng, bước đầu tạo chuyển biến tích cực trong đổi mới. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tiến bộ đó, với quan điểm nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá khách quan và toàn diện, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Nhận thấy rõ vấn đề này, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã có nhiều bài phát biểu, bài viết phân tích rõ thực trạng công tác cán bộ, tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị nước ta hiện nay.

Đặc biệt, ngày 5-11-2024, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có bài viết quan trọng: “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”, trong đó, người đứng đầu Đảng ta đã thẳng thắn chỉ rõ: Việc đổi mới công tác cán bộ vẫn chưa có đột phá lớn; nhận thức và hành động của một số cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu chưa đầy đủ và sâu sắc, quyết tâm chưa cao; tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh; hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhiều cơ quan, bộ phận còn trùng lắp, chồng chéo, tinh giản biên chế mới tập trung giảm số lượng, chưa gắn với nâng cao chất lượng, nhất là chi phí vận hành hệ thống tổ chức quá lớn, chiếm tới 70% tổng ngân sách chi tiêu thường xuyên của Nhà nước… Đây là nguyên nhân dẫn đến tệ tham ô, tham nhũng, gây thất thoát, lãng phí rất lớn nguồn lực xã hội, làm giảm nguồn lực cho đầu tư phát triển và nhiều hệ lụy tiêu cực khác, những hạn chế bất cập này nếu không giải quyết triệt để sẽ là lực cản to lớn kìm hãm quá trình đổi mới, phát triển đất nước.

Từ việc phân tích rõ thực trạng hạn chế, bất cập còn tồn tại, Tổng Bí thư Tô Lâm đã một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng, tính tất yếu phải đẩy mạnh sắp xếp, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo quan điểm bảo đảm “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”, xác định đây là nhiệm vụ chính trị hệ trọng, yêu cầu cả hệ thống chính trị phải tập trung giải quyết. Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Hiện nay đã là thời điểm, thời cơ; là sự cấp thiết, là đòi hỏi tất yếu khách quan cho cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị để bộ máy hoạt động hiệu lực, hiệu quả hay chưa? Câu trả lời là: Không thể chậm trễ hơn được nữa”.

Như vậy, tinh gọn bộ máy giờ đây đã trở thành mệnh lệnh tất yếu của cuộc sống. Nói một cách dung dị và dễ hiểu như đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm là “Nhẹ để cất cánh”, hay như các bậc tiền nhân thì “Thà ít mà tốt”. Rõ ràng, quan điểm “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” và sự chỉ đạo quyết liệt của Tổng Bí thư Tô Lâm, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị đã cho thấy quyết tâm chính trị rất lớn của Đảng, Nhà nước ta. Cần khẳng định rằng, chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy đã đạt được sự thống nhất tuyệt đối cả về nhận thức và hành động, nhận được sự đồng tình ủng hộ cao của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, thực tiễn đó đã khẳng định chân lý: Đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, kịp thời, tiến bộ, nhân văn, khách quan và khoa học, bởi nó đáp ứng được đòi hỏi bức thiết của thực tiễn cuộc sống và hội tụ đầy đủ “Ý chí của Đảng - Nguyện vọng của nhân dân”, dựa trên cơ sở vận dụng thế giới quan, phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Do vậy, tại thời điểm này, việc đẩy mạnh cải cách tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo quan điểm bảo đảm “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” hoàn toàn không phải là một chủ trương mới của Đảng, mà là phương thức tiến hành mới trên cơ sở tổng kết, tiếp nối, kế thừa, bổ sung và phát triển các quan điểm của các kỳ Đại hội trước đây của Đảng ta cho phù hợp với thực tiễn sinh động của đất nước và bối cảnh thế giới, vận dụng sáng tạo và giải quyết tốt mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, nhằm hướng tới mục tiêu tối thượng, vô cùng nhân văn và cao đẹp là nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, giảm chi phí nuôi bộ máy, ưu tiên nguồn lực cho phát triển đất nước, phục vụ nhân dân, xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu, vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

Ấy vậy mà, lợi dụng việc Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết liệt triển khai thực hiện chủ trương tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” nhằm chuẩn bị tốt về mọi mặt để đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng vào đầu năm 2026, tạo điều kiện thuận lợi để đất nước vững tin bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, một số đối tượng có tư tưởng thù địch, chống đối vẫn cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật, tung tin bịa đặt, đánh tráo khái niệm, đưa ra những quan điểm không đồng thuận, phản biện vô nguyên tắc, phản đối gay gắt chủ trương, quan điểm của Đảng, gây hoang mang, hoài nghi trong dư luận, với âm mưu phá hoại thành quả cách mạng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá Đảng và Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Các thế lực thù địch, chống đối lợi dụng việc Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo kết thúc hoạt động của một số bộ, ban, ngành cấp Trung ương do không còn phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới, nhằm khắc phục sự chồng lấn, trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ giữa một số bộ, ban, ngành ở Trung ương, đáp ứng yêu cầu triển khai thực hiện hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội để bóp méo, xuyên tạc bản chất chủ trương, quan điểm đúng đắn của Đảng ta. Chúng xảo biện cho rằng, “chủ trương tinh gọn chỉ là hình thức bề ngoài, thực chất vẫn chỉ là bình mới rượu cũ, tạo cơ hội chạy ghế, chạy chức, gây tốn kém tiền của của nhân dân”. Ấu trĩ đến nực cười, chúng thậm chí còn dựng lên thuyết âm mưu “tranh giành quyền lực, đấu đá nội bộ, hạ bệ đối thủ”, rêu rao rằng “tinh giản chẳng qua chỉ là cách hợp thức hóa để hạ bệ hoặc gia cố quyền lực trong hệ thống chính trị”. Một số cá nhân có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước ta lại cho rằng, “đây là cơ hội để quân đội giảm quân”, “kết thúc nhiệm vụ của nhiều quân, binh chủng, lực lượng không còn phù hợp”, “giảm tiền đóng thuế của dân để ưu tiên cho phát triển đất nước”.

Họ cho rằng, hiện nay ở Việt Nam, diễn biến hòa bình đã kết thúc, “không còn đối tượng tác chiến” vì “Việt Nam đã nhích lại gần phương Tây”, “đã thân thiện với các nhà tư sản khi một số nước phương Tây đã là đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam” và “Việt Nam muốn làm bạn với họ”… Từ đó họ tung tin: “Lãnh đạo Việt Nam đã mở rộng cửa để tiếp nhận công nghệ, đồng đô-la và các chuyên gia phương Tây vào Việt Nam”, “Tổng Bí thư và Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đang khẩn thiết mời chào các nhà tư bản phương Tây vào Việt Nam để đầu tư, phát triển”… do đó, “giảm quân, kết thúc hoạt động của một số cơ quan, đơn vị quân đội là yêu cầu cấp bách hiện nay”.

Đây là những luận điệu vu cáo, cố tình bóp méo sự thật của các thế lực thù địch, gây ra sự nhiễu loạn về thông tin, làm gia tăng các biểu hiện “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ cán bộ, đảng viên, tạo ra khoảng trống về ý thức hệ, hòng làm phai nhạt dần lý tưởng cách mạng vô sản và bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của quân đội, gieo rắc hạt giống hệ tư tưởng phi vô sản có cơ hội nảy mầm trong đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, hướng lái dư luận theo mục đích và ý đồ đen tối, âm mưu vô cùng thâm độc của các thế lực thù địch là phủ nhận “diễn biến hòa bình” và đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ ở Việt Nam, tuyệt đối hóa sức mạnh kinh tế, ảo tưởng và tung hô tới mức thần thánh hóa sự trợ giúp của các nước phương Tây; từ xem nhẹ vai trò quân đội rồi tiến tới “phi chính trị hóa quân đội”, tách lực lượng vũ trang ra khỏi sự lãnh đạo trực tiếp và tuyệt đối của Đảng, vô hiệu hóa sức mạnh của “thanh bảo kiếm” - tấm khiên bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ nhân dân.

Đảng mất đi chỗ dựa vững chắc, kẻ thù càng dễ bề thao túng, khi đó, đồng thời một mũi tên chúng có thể đánh trúng hai mục tiêu: Phi chính trị hóa quân đội và phi xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đây là biểu hiện rõ nhất của tư duy phi logic, siêu hình và tư tưởng phản động, chống phá vô cùng nguy hiểm, cần nhận diện làm rõ bản chất và kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn “chiến thắng không cần chiến tranh”, sử dụng biện pháp phi vũ trang để chống phá, nhằm tiến tới lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Tinh gọn bộ máy, giảm biên chế là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt, thể hiện sự thống nhất cao độ và quyết tâm chính trị rất lớn của Đảng và Nhà nước ta, với mục đích rất rõ ràng, tiến bộ, nhân văn, cao đẹp, không hề có chuyện “làm cho có”, làm vì động cơ “tranh giành, đấu đá”... như các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc vì ý đồ, động cơ đen tối.

Xét về bản chất, cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm là cuộc cách mạng nhân lực, nhằm cải cách toàn diện tổ chức bộ máy, góp phần “cởi trói” cho lực lượng sản xuất, giải phóng sức sản xuất, tạo điều kiện khai thác và phát huy tối đa nguồn lực con người - yếu tố quan trọng nhất quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất, tạo “lực đẩy” để đất nước ta tiến vào kỷ nguyên cất cánh, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Mục tiêu của cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy lần này là nhằm tạo ra bước đệm, tạo thế và lực để cả dân tộc chuyển mình, bứt phá mạnh mẽ, cùng hướng tới thực hiện mục tiêu cao cả, vĩ đại của dân tộc: Xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh, sớm sánh vai với các cường quốc năm châu như ước nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Dẫu biết rằng, chẳng có con đường nào trải bước trên hoa hồng, đặc biệt là cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy lần này có liên quan chặt chẽ tới vấn đề lợi ích, quan hệ lợi ích; cải cách và đổi mới chẳng bao giờ là đơn giản, sẽ luôn gặp những trở lực, cách mạng nào cũng đòi hỏi phải có sự dũng cảm, thử thách và hy sinh của những người cộng sản chân chính, nhưng “lửa thử vàng, gian nan thử sức”, chúng ta hoàn toàn có cơ sở khách quan và khoa học để khẳng định và tin tưởng rằng: Dưới sự lãnh đạo tài tình, trí tuệ và đạo đức của Đảng ta, sự vào cuộc đầy trách nhiệm và quyết tâm của cả hệ thống chính trị, sự đoàn kết một lòng của cả dân tộc - trăm triệu người như một, cuộc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả” tất sẽ thành công.

TS Đặng Thị Thu Hiền, Phó chủ nhiệm Khoa Lý luận chính trị, Học viện Kỹ thuật mật mã/Theo qdnd.vn

 

Đọc tiếp »

Công tác tư tưởng trong quân đội trước hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên internet và mạng xã hội hiện nay

 Công tác tư tưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phận công tác tư tưởng của Đảng, một mặt hoạt động cơ bản của công tác đảng, công tác chính trị, luôn giữ vai trò quan trọng nhằm bồi dưỡng phẩm chất, năng lực, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ, góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội góp phần nâng cao hiệu quả công tác quán triệt, giáo dục, động viên cán bộ, chiến sĩ tích cực nghiên cứu, học tập, nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ trong Quân đội, các quy định của đơn vị và yêu cầu đặt ra đối với phẩm chất, nhân cách, lối sống của người quân nhân cách mạng; đấu tranh ngăn chặn tư tưởng tiêu cực và hành động chống phá của các thế lực thù địch. Trên cơ sở đó, hình thành ý thức, văn hóa pháp luật, làm cho cán bộ, chiến sĩ tự nguyện, tự giác ghép mình vào khuôn khổ, chấp hành nghiêm chế độ, nền nếp, rèn luyện tư thế, tác phong quân nhân, không vi phạm các chế độ quy định; coi đó là vấn đề tất yếu trong quá trình phấn đấu, rèn luyện của bộ đội.

Trong điều kiện hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), Internet, mạng xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt của đời sống xã hội nói chung và hoạt động quân sự nói riêng. Đặc biệt, thông qua Internet và các nền tảng mạng xã hội như: Facebook, Zalo, tiktok, Twitter, Instagram... cho phép người dùng kết nối, mở rộng các mối quan hệ xã hội, tiếp nhận, chia sẻ thông tin một cách có hiệu quả và có tác động tích cực nhất định đến đời sống tư tưởng, tâm lý, tình cảm, đạo đức, lối sống và cách ứng xử của một bộ phận khá lớn những người sử dụng, trong đó có quân nhân trong Quân đội. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực do Internet và mạng xã hội đem lại, các thế lực thù địch, phản động đang triệt để lợi dụng Internet và mạng xã hội để đẩy mạnh các hoạt động phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” Quân đội… với những nội dung, phương thức, thủ đoạn ngày một tinh vi, xảo quyệt.

Đối với công tác tư tưởng trong Quân đội hiện nay, thông qua Internet và mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động tăng cường chống phá trên các mặt nội dung cơ bản như: Mục tiêu, lý tưởng cách mạng, bản chất, truyền thống Quân đội; vấn đề đất quốc phòng, doanh nghiệp Quân đội; tài sản, đời tư, mối quan hệ cán bộ cấp cao; mối quan hệ đoàn kết cán binh, tác phong sinh hoạt, đạo đức, lối sống, bệnh công thần của cán bộ… Với các phương thức, thủ đoạn chủ yếu sau: 1. Tuyên truyền, kích động, đòi “phi chính trị hóa” Quân đội, kêu gọi Quân đội đứng về phía nhân dân để bảo vệ Tổ quốc, không bảo vệ Đảng; đòi hỏi phải “dân sự hóa”, “công khai hóa” nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; 2. Giả danh, mượn danh, nhân danh cán bộ cấp cao để viết, tán phát thư ngỏ, đơn thư nặc danh; 3. Thông qua diễn đàn hội thảo, trả lời phỏng vấn báo chí để hạ uy tín Quân đội, cán bộ cấp cao Quân đội; 4. Thổi phồng, bóp méo thông tin cũ, xuyên tạc, bịa đặt, quy chụp thông tin mới; 5. So sánh tướng Quân đội nhiều hơn tướng Công an, tổ chức biên chế Quân đội nhiều hơn Công an; 6. Quy chụp có nhiều vụ án ma túy phát hiện trong nước là do đã có tiêu cực đối với lực lượng Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển; 7. Tuyên truyền, xuyên tạc, kích động chia rẽ mối quan hệ ngoại giao quân sự - quốc phòng của Việt Nam trên trường quốc tế, nhất là với các nước láng giềng... Mục đích của chúng nhằm truyền bá các quan điểm, tư tưởng chính trị, đạo đức lỗi thời, lạc hậu, phản động; xuyên tạc, bôi nhọ, thậm chí dựng chuyện, vu cáo nhằm phủ định sạch trơn thành quả cách mạng Việt Nam hòng làm suy yếu công tác tư tưởng trong Quân đội, tiến tới xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội.

Trước sự tác động của điều kiện, nội dung và hình thức mới cùng với các phương thức, thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, phản động trong giai đoạn hiện nay, nếu công tác tư tưởng trong Quân đội không được chú trọng, tăng cường giáo dục, định hướng và đổi mới cả về nội dung, hình thức, phương pháp tất yếu sẽ dẫn đến tình trạng suy giảm khả năng “miễn dịch” trước sự tấn công của các thế lực thù địch, phản động trên mặt trận tư tưởng, lý luận, nhất là trên không gian mạng. Vì vậy, để tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội góp phần đấu tranh ngăn chặn hiệu quả sự ảnh hưởng bởi những tư tưởng tiêu cực và hành động chống phá của các thế lực thù địch, đáp ứng yêu cầu đặt ra đối với phẩm chất, nhân cách, lối sống của người quân nhân cách mạng thời kỳ mới, thiết nghĩ cần phải thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:

Một là, nắm chắc và kịp thời cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng đúng đắn cho bộ đội.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ, giải pháp này, đòi hỏi các chủ thể tiến hành công tác tư tưởng phải quán triệt sâu sắc và nắm toàn diện các nội dung cần thông tin, định hướng tư tưởng cho bộ đội, trong đó cần tập trung vào những nội dung trọng tâm như: Quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của Quân đội, đơn vị; những vấn đề phức tạp nhạy cảm đang được dư luận xã hội quan tâm tác động đến tư tưởng, bộ đội và Nhân dân; tình hình và âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chống đối chính trị, một số thủ đoạn chống phá mới đáng chú ý. Về phương pháp, cần biên soạn thành các chuyên đề; thông báo tuần; lồng ghép trong thông báo thời sự chính trị tuần, tháng; lồng ghép trong giáo dục chính trị cơ bản, giáo dục nhiệm vụ thường xuyên hằng tuần. Về yêu cầu, phải bảo đảm tính chiến đấu, tính định hướng; ngắn gọn, dễ nhớ, dễ hiểu; đúng thẩm quyền, quy trình, kịp thời, có tính thời sự.

Hai là, phát huy tốt vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ chủ trì các quan, đơn vị trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, duy trì nền nếp công tác tư tưởng trong quản lý bộ đội đơn vị sở.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ, giải pháp này, đòi hỏi các chủ thể tiến hành công tác tư tưởng ở đơn vị cơ sở trong Quân đội, trước hết cần có nhận thức đúng về vị trí, vai trò và ý nghĩa của công tác tư tưởng nói chung và công tác tư tưởng trong quản lý bộ đội nói riêng; đánh giá đúng mức độ khó khăn, phức tạp của công tác tư tưởng, công tác quản lý bộ đội trong tình hình hiện nay. Trên cơ sở đó, tích cực nghiên cứu, đề ra các chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo sát, đúng; chú trọng vào việc xác định các khâu yếu, mặt yếu trong công tác quản lý bộ đội, nhất là quản lý các mối quan hệ xã hội. Duy trì nghiêm nền nếp, chất lượng công tác tư tưởng; động viên được đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhân viên, chiến sĩ chủ động khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đồng thời, thường xuyên phát huy tốt vai trò chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức thực hiện công tác tư tưởng trong quản lý bộ đội của đội ngũ cán bộ chủ trì các cơ quan, đơn vị. Kịp thời nắm vững tình hình tư tưởng, tâm tư nguyện vọng, hoàn cảnh bộ đội; chủ động tiến hành công tác tư tưởng theo phạm vi chức trách, nhiệm vụ được giao, giải quyết có hiệu quả các tình huống tư tưởng nảy sinh, không để bị động, bất ngờ về tư tưởng trong đơn vị.

 Ba là, đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp lãnh đạo, thực hiện ở tất cả các khâu, các bước tiến hành công tác tư tưởng trong quản lý bộ đội.

Để nhiệm vụ, giải pháp này triển khai trong thực tiễn đạt hiệu quả cao, đòi hỏi các chủ thể tiến hành công tác tư tưởng ở đơn vị cần phải thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp cụ thể sau:

Về dự báo tư tưởng, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực, trong nước, những vấn đề bức xúc của xã hội; trước sự chống phá của các thế lực thù địch; trước những sự kiện trọng đại của đất nước, nhiệm vụ quan trọng, đột xuất của đơn vị… cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần bám sát định hướng của trên, chủ động dự báo diễn biến tư tưởng sẽ nảy sinh, nhất là dự báo những nhận thức tư tưởng lệch lạc để chủ động quản lý, định hướng và có biện pháp xử lý kịp thời. Chủ động tiến hành giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, quần chúng thực sự nhạy bén trước tình hình, có nhãn quan chính trị đúng đắn, có sức “đề kháng” trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực cũng như trong nước.

Về quản lý tư tưởng, phải bám sát phương châm “4 không - Không quát mắng, dọa nạt bộ đội; không áp đặt, rập khuôn, máy móc; không phân biệt đối xử giữa các chiến sĩ; không làm trái các quy định trong quản lý bộ đội“3 có - Có tinh thần trách nhiệm cao; có kỷ luật nghiêm; có tình, có lý trong quản lý, giáo dục bộ đội“3 nên - Nên gần gũi, quan tâm, động viên giúp đỡ bộ đội; nên tôn trọng, lắng nghe, tiếp thu ý kiến; nên cụ thể, tỉ mỉ trong hướng dẫn bộ đội. Đặc biệt, cần thực hiện tốt 5 biết - Biết lai lịch chính trị, hoàn cảnh gia đình; biết năng lực, trình độ cá nhân; biết năng khiếu, sở trường, đặc điểm cá nhân; biết các mối quan hệ xã hội; biết hoạt động hàng ngày của cá nhân. Phát huy tốt vai trò trách nhiệm của cấp ủy, hệ thống chỉ huy và đội ngũ cán bộ đảng viên trong nắm, phản ánh tình hình tư tưởng trong đơn vị; thường xuyên quản lý, đánh giá, phân loại tư tưởng chặt chẽ, chú trọng nắm, quản lý tư tưởng của các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn, các trường hợp dễ nảy sinh tư tưởng do nhiều lý do khác nhau . . .

Về định hướng tư tưởng, cần bám sát đường lối, nghị quyết của Đảng, sự lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan chính trị, nghị quyết của cấp ủy cấp trên và cấp mình; các sự kiện chính trị nổi bật trong nước và quốc tế, những vấn đề chính trị xã hội quan trọng của đất nước, những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch; yêu cầu, nhiệm vụ của đơn vị.., để định hướng tư tưởng, dư luận, xây dựng niềm tin cho cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị.

Về đấu tranh tư tưởng, cần phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tham gia có hiệu quả vào cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chống lại các quan điểm sai trái, thù địch đồng thời củng cố nhận thức tư tưởng cho các lực lượng trong đơn vị. Nâng cao tinh thần tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên ở các cơ quan, đơn vị, đấu tranh thẳng thắn, phê phán những biểu hiện, nhận thức tư tưởng chưa đúng, lệch lạc, nhất là đấu tranh, phê phán những tư tưởng ngại khó ngại khổ, thiếu tinh thần trách nhiệm trong học tập, rèn luyện, tư tưởng “trung bình chủ nghĩa”…

Về xử lý tư tưởng, cấp uỷ, đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp cần tiến hành chặt chẽ việc xử lý các tình huống tư tưởng nảy sinh. Những vướng mắc, băn khoăn về tư tưởng, những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, những vấn đề bức xúc của cán bộ, đảng viên phải được quản lý và giải quyết theo phân cấp từ tổ đảng, chi bộ và các hệ thống tổ chức chỉ huy, tổ chức quân nhân và tổ chức quần chúng. Đối với những vấn đề tư tưởng phức tạp nảy sinh, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần chủ động bám nắm diễn biến tư tưởng, phân tích nguyên nhân, xác định các biện pháp định hướng nhận thức kết hợp xử lý phù hợp, kiên quyết, dứt điểm, tạo sự thống nhất nhận thức tư tưởng trong đơn vị.

Bốn là, thực hiện tốt công tác kết, tổng kết, rút kinh nghiệm, biểu dương kịp thời những tập thể, cá nhân tiêu biểu, đồng thời phê bình những tập thể, cá nhân tiến hành chưa tốt công tác tư tưởng trong quản lý bộ đội.

Thông qua sơ, tổng kết, rút kinh nghiệm, đánh giá đúng những ưu điểm, khắc phục kịp thời những hạn chế, khuyết điểm về nhận thức và tổ chức thực hiện các khâu, các bước của công tác tư tưởng trong quản lý bộ đội, của công tác quản lý, duy trì kỷ luật.. Đồng thời, thông qua sơ kết, tổng kết để bình xét, khen thưởng những tập thể và cá nhân có thành tích tiêu biểu; chấn chỉnh những biểu hiện nhận thức chưa đúng, tổ chức tiến hành công tác tư tưởng trong quản lý bộ đội với hiệu quả, chất lượng chưa cao. Bên cạnh đó, cần coi trọng việc phát huy sức mạnh của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, trong đó cùng với Công an nhân dân, Quân đội là lực lượng nòng cốt trong Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng; đồng thời, xác định đó là một yêu cầu tất yếu đặt ra trong tình hình mới.

Năm là, đẩy mạnh xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, môi trường văn hóa phong phú, lành mạnh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội.


Để tư tưởng bộ đội ổn định vững chắc, cần tiếp tục thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu” gắn với xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, các tổ chức quần chúng vững mạnh. Trong đó, tập trung xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ về bản lĩnh chính trị, ý chí quyết tâm, đạo đức, lối sống, văn hóa, ý thức pháp luật, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tinh thần vượt qua khó khăn, thử thách để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Duy trì nghiêm nền nếp, chế độ công tác, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, thực hành dân chủ; giải quyết hài hòa các mối quan hệ giữa lãnh đạo với chỉ huy, cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ, chiến sĩ cũ với chiến sĩ mới, tạo đời sống văn hóa lành mạnh trong các cơ quan, đơn vị. Đẩy mạnh phong trào Thi đua Quyết thắng và các phong trào, các cuộc vận động trong toàn quân. Tích cực xây dựng môi trường văn hóa quân sự phong phú, lành mạnh, thực sự là nơi để bộ đội gửi gắm tình cảm, niềm tin và sự khát khao cống hiến. Thường xuyên chăm lo, bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện tốt chính sách hậu phương Quân đội để bộ đội yên tâm công tác, gắn bó, tâm huyết với môi trường Quân đội.

Như vậy, trước hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trên internet và mạng xã hội hiện nay, việc tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội là nhiệm vụ hết sức quan trọng, quyết định kết quả xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao sức mạnh chiến đấu, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Do đó, các cấp cần nhận thức sâu sắc vai trò, tầm quan trọng của công tác này để quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả trong thực tiễn, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội cánh mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; quyết tâm  bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống./.

Tài liệu tham khảo:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (tập I, II), Nxb CTQGST, Hà Nội.

2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, 3, 8, Nxb CTQG, Hà Nội - 2011. 

3. Quân uỷ Trung ương (2022), Nghị quyết về đổi mới công tác giáo dục đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới, số 1657- NQ/QUTW.

* Thượng tá Dương Ngọc Hưởng - Giảng viên, Khoa Lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

 

Đọc tiếp »

Đặc trưng của quốc phòng việt nam

Quốc phòng một trong những lĩnh vực mà các thế lực thù địch luôn tập trung chống phá. Nắm vững những đặc trưng của Quốc phòng Việt Nam là cơ sở quan trọng để đấu tranh làm thất bại âm mưu chiến lược “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch. 

Pháp điển hóa, khái quát ngắn gọn quan niệm về quốc phòng, Luật Quốc phòng của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam số 39/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 xác định: “Quốc phòng là công cuộc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt”[1].

Nếu như đặc trưng xét theo nghĩa danh từ là “Nét riêng và tiêu biểu, nhờ đó phân biệt được các sự vật hiện tượng”, xét theo nghĩa tính từ là “Có tính chất riêng khác và tiêu biểu”[2] thì đặc trưng của quốc phòng Việt Nam có thể được hiểu là những đặc điểm riêng, những tính chất riêng, tiêu biểu của quốc phòng Việt Nam, qua đó có thể nhận diện và phân biệt được quốc phòng Việt Nam với quốc phòng các nước khác.

Lịch sử hình thành và phát triển quốc phòng Việt Nam đến nay cho thấy quốc phòng Việt Nam có những đặc trưng sau:

Một là, mục tiêu của quốc phòng là hòa bình và tự vệ

Hòa bình và tự vệ là mục tiêu duy nhất, là dòng chảy xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của quốc phòng Việt Nam. Nó đối lập hoàn toàn với mục tiêu xâm lược, hiếu chiến và phản động. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh “dùng binh là việc nhân nghĩa, muốn cứu nước, cứu dân”. Hiện nay, mục tiêu này không chỉ được khẳng định và thể hiện rõ trong Luật Quốc phòng, Sách trắng quốc phòng Việt Nam mà còn được xác định rõ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước. Luật Quốc phòng năm 2005 chỉ rõ, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam củng cố và tăng cường quốc phòng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2009 cũng chỉ ra, mục đích của nền quốc phòng toàn dân là bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia trên mọi lĩnh vực, bảo vệ chế độ, bảo vệ mọi thành quả cách mạng, bảo vệ sự nghiệp đổi mới  đồng thời ngăn chặn, đẩy lùi mưu toan gây bạo loạn, xung đột vũ trang, chiến tranh xâm lược, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đồng thời đánh bại mọi cuộc chiến tranh xâm lược. Cương lĩnh xây dựng đất nước (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: Mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh là “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất



[1]Luật Quốc phòng và các văn bản hướng dẫn thi hành, (2014), Nxb Lao động, tr.75.

[2]Nguyễn Như Ý (Chủ biên, 1998), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin, tr.600

bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”[3].

Thực tiễn thời gian qua cũng chứng minh hòa bình và tự vệ luôn là đích hướng đến của mọi hoạt động quốc phòng. Việt Nam thực hiện sự nghiệp củng cố, tăng cường quốc phòng là nhằm xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; các biện pháp chính đáng, thích hợp được sử dụng để ngăn chặn, đẩy lùi chiến tranh, đánh bại mọi âm mưu và hành động xâm lược của các thế lực thù địch. Công tác đối ngoại quốc phòng được thực hiện phù hợp với chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, là bạn bè tin cậy của các nước, cùng phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển, chống chiến tranh dưới mọi hình thức; Việt Nam nhất quán không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; kiên trì giải quyết mọi bất đồng, tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ với các quốc gia bằng giải pháp hòa bình trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Việt Nam không tham gia bất cứ tổ chức liên minh quân sự nào và cũng không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của mình để chống nước khác... Mọi hoạt động quốc phòng của Việt Nam không nằm ngoài mục tiêu, tính chất hòa bình và tự vệ. Đây là đặc trưng chủ đạo cũng là bản chất của quốc phòng Việt Nam.

Hai là, nền quốc phòng vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành.

Nếu như mục tiêu hòa bình và tự vệ là đặc trưng phản ánh bản chất của quốc phòng Việt Nam thì vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành là đặc trưng phán ánh tư tưởng “dân là gốc” trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, phản ánh nét độc đáo về lực lượng và sức mạnh của quốc phòng Việt Nam. Nền quốc phòng vì dân thể hiện ở mọi hoạt động quốc phòng Việt Nam đều xuất phát từ lợi ích của nhân dân, đều là để thực hiện nguyện vọng, ước muốn cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân. Mục đích “vì dân” đã cho phép quốc phòng có thể huy động sức mạnh tổng hợp to lớn cả về vật chất, tinh thần và sức dân cho mọi nhiệm vụ. Vì vậy, “Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt”[4] đã trở thành một trong những nguyên tắc tiến hành hoạt động quốc phòng. Cụ thể hơn, lực lượng quốc phòng được hình thành bao gồm lực lượng của toàn dân với lực lượng vũ trang nhân dân là nòng cốt. Trong đó, lực lượng toàn dân là lực lượng của các cấp, các ngành và quần chúng nhân dân. Đây là lực lượng đông đảo nhất, nhanh nhất, kịp thời nhất và là chỗ dựa vững chắc nhất của quốc phòng. Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt, vững mạnh là nhiệm vụ trọng tâm của xây dựng lực lượng quốc phòng. Lực lượngnòng cốt  này cũng “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”. Như vậy nhân dân không chỉ là một bộ phận mà còn là nguồn đóng góp nhân lực cho quốc phòng. Bên cạnh đó, nhân dân còn đóng góp vật lực, tài lực chủ yếu để duy trì mọi hoạt động quốc phòng cả trong thời bình cũng như khi có chiến tranh xảy ra. Nhân dân chính là cội nguồn sức mạnh vô tận của quốc phòng và vì dân không chỉ là mục đích phản ánh bản chất quốc phòng



[3]Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr81-82.

 [4]Luật Quốc phòng và các văn bản hướng dẫn thi hành, (2014), Nxb Lao động, tr.8-9

Việt Nam mà còn là điều kiện tiên quyết để quốc phòng có được, nhân lên và phát huy sức mạnh vô địch đó.

Ba là, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ xa, giữ nước từ thời bình.

Chủ động bảo vệ Tổ quốc từ xa, giữ nước từ thời bình không chỉ là một trong những đặc trưng cơ bản của quốc phòng Việt Nam mà còn là phương châm chỉ đạo xuyên suốt trong hệ thống quan điểm giữ nước Việt Nam. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2009 chỉ rõ: Tích cực, chủ động ngăn ngừa và đẩy lùi nguy cơ chiến tranh là một trong các nhiệm vụ trọng yếu của quốc phòng Việt Nam trong thời bình nhằm thực hiện chiến lược quốc phòng tối ưu là bảo vệ được chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và các quyền lợi quốc gia khác mà không cần phải tiến hành chiến tranh… Quán triệt phương châm phòng thủ toàn diện, chủ động, bảo vệ Tổ quốc từ xa, quốc phòng Việt Nam sử dụng các biện pháp tổng hợp nhằm giữ vững ổn định bên trong, ngăn ngừa các nguy cơ can thiệp từ bên ngoài[5]

Không chỉ được khẳng định ở Sách trắng Quốc phòng, đặc trưng này còn được phản ánh trong tư duy của Đảng qua các kỳ Đại hội. Đặc biệt, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định: Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh… chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính chất toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống[6]

Khẳng định lại đồng thời thể hiện sự phát triển trong tư duy của Đảng về vấn đề này, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII nhấn mạnh: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”[7].

Bốn là, nền quốc phòng toàn dân gắn kết chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân

Giữa nền quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân có sự khác nhau về phương thức tổ chức lực lượng, về hoạt động cụ thể theo mục tiêu được phân công song đều là hai lĩnh vực trọng yếu, thường xuyên, liên quan và tác động trực tiếp đến bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, không như một số quốc gia khác coi an ninh quốc gia là một bộ phận của quốc phòng hoặc quốc phòng là một bộ phận của an ninh quốc gia, Việt Nam xác định quốc phòng và an ninh là hai lĩnh vực khác nhau nhưng có mối quan hệ gắn bó, kết hợp chặt chẽ với nhau. Xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân trong đó có thế trận biên phòng toàn dân luôn gắn kết chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI khẳng định: “Tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân vững chắc”[8].



[5]Bộ Quốc phòng (2009), Quốc phòng Việt Nam, Hà Nội, tr.20-21.

[6]Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.233.

[7]Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.148-149.

[8]Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr81-82

Sự kết hợp giữa xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân thể hiện tập trung ở những vấn đề chính như­­: Kết hợp trong công tác vận động quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị, xã hội ở địa bàn đóng quân, xử lý các tình huống; cùng nhau tổ chức, bố trí thành phong trào quần chúng rộng rãi bảo vệ Tổ quốc với các hình thức thích hợp; xây dựng, bố trí lực lượng nòng cốt, nhất là ở cơ sở, bảo đảm đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ; tổ chức mạng lưới bí mật trong thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và thế trận biên phòng toàn dân; xây dựng thế trận trên các tuyến, các trận địa, các địa bàn, mục tiêu trọng yếu; kết hợp trong việc làm trong sạch địa bàn, giữ bí mật quân sự, bí mật quốc gia, sử dụng và hoạt động của các lực lượng có liên quan đến thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh; kết hợp trong khai thác, trao đổi, phân tích, đánh giá, xử lý các loại thông tin cần thiết có liên quan, cả về địch, về ta, ở trong nước và ngoài nước, làm tham mưu đắc lực cho Đảng và chính quyền ở các cấp...

Tóm lại, những đặc trưng của Quốc phòng Việt Nam là những đặc điểm nổi bật riêng có vừa phản ánh bản chất của Quốc phòng Việt Nam vừa là những định hướng chính cho quá trình xây dựng, củng cố quốc phòng. Vì vậy, mỗi chúng ta cần phải tích cực nghiên cứu,nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đấu tranh với những biểu hiện sai trái và những luận điệu chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

          Thượng tá Đỗ Hoàng Ánh, Khoa Lý luận Mác - Lê nin, tư tưởng HCM

 





Đọc tiếp »

Phát triển văn hóa Đảng trong không gian số

Chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong đời sống chính trị, văn hóa và xã hội. T...