Đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở việt nam

 Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị đang tăng cường hoạt động với những chiêu thức, thủ đoạn mới, chống phá chủ nghĩa xã hội (CNXH), con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Các tổ chức phản động trong và ngoài nước lập hàng nghìn trang website, blog, tài khoản mạng xã hội đăng tải hàng chục nghìn tin, bài có nội dung xuyên tạc sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước. Chúng triệt để tận dụng công cụ thông tin hiện đại - mạng Internet để truyền bá các quan điểm sai trái, hành động chống phá chế độ ta với mức độ ngày càng tinh vi, thâm độc.

Có thể khái quát một số quan điểm sai trái, thù địch trực tiếp và gián tiếp chống lại con đường đi lên CNXH ở Việt Nam thể hiện ở một số vấn đề sau đây:

Thứ nhất, xuyên tạc bản chất cách mạng và khoa học của học thuyết Mác - Lênin về CNXH, phủ nhận nền tảng tư tưởng, cơ sở lý luận khoa học của con đường đi lên CNXH ở Việt Nam

Sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên xô, Đông Âu sụp đổ, một số cán bộ, đảng viên bi quan, hoang mang, dao động, niềm tin suy giảm, có những cán bộ cấp cao của Đảng mắc sai lầm về quan điểm thậm chí quay ngược lại, cá biệt có người từ bỏ lý tưởng, ý thức hệ, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng CNXH. Từ đó, nhiều người trong số họ tham gia vào các hoạt động trái với quy định của Đảng, lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để hoạt động dưới danh nghĩa các “tổ chức” thể hiện là người “cách tân”, là “xu hướng mới” để phê phán đường lối đổi mới của Đảng. Một số cán bộ, đảng viên đã từng giữ những cương vị, trọng trách trong lãnh đạo, quản lý, hoặc là những trí thức có uy tín khoa học nhưng lại tham gia vào các nhóm ký tên, gửi “ kiến nghị”, trong đó có nhiều vấn đề trái với nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, tạo dư luận xấu trong xã hội.

Đặc biệt, các thế lực thù địch của CNXH đã vu cáo rằng: “Chủ nghĩa xã hội mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được”1. Các lực lượng chống đối, cơ hội chính trị thì thừa cơ ra mặt xuyên tạc, chống phá, chúng tuyên truyền và kích động đổi mới phải là đổi hướng, phải từ bỏ CNXH, từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, đòi đa nguyên, đa đảng. Họ cố tình quy kết một cách sai trái những yếu kém, khuyết điểm trong quá trình cải tạo xây dựng CNXH là do chủ nghĩa Mác-Lênin, do Đảng Cộng sản, do định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Ý kiến khác cho rằng không cần phải định hướng xã hội chủ nghĩa, chỉ cần dân giàu, nước mạnh là được. Đây là những luận điệu xảo trá, thể hiện rõ mưu đồ của các thế lực thù địch khi cố tình xuyên tạc và phủ nhận bản chất cách mạng của học thuyết Mác - Lênin, do đó phải bị lên án. 

Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn đều chứng minh, cho đến nay, trên thế giới chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết duy nhất bàn về tổng thể mục tiêu, con đường, lực lượng, biện pháp, cách thức để xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột và bất công trong xã hội, nhằm mục đích nhân văn cao đẹp là giải phóng con người, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội. Cần phải khẳng định rằng, lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH của chủ nghĩa Mác - Lênin là chân lý khoa học, bởi lẽ, lý luận ấy không dựa vào nguyện vọng chủ quan và trí tưởng tượng, mà được xây dựng trên cơ sở khoa học và cách mạng của chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư. 

Thứ hai, xuyên tạc mục tiêu, con đường đi lên CNXH ở Việt Nam

Do không nhận thức được tính khó khăn, phức tạp, lâu dài của thời kỳ quá độ lên CNXH mà nhiều người đã dao động, mất lòng tin, cho rằng CNXH đã bị sụp đổ cả trên bình diện lý luận và thực tiễn. Nhiều lý luận gia phương Tây cũng đã rêu rao rằng CNXH đã cáo chung, chủ nghĩa tư bản đã toàn thắng. Hoặc CNXH do nảy sinh trên một mảnh đất hoang nên đã sụp đổ, thế kỷ XX là thế kỷ chứng kiến sự ra đời và cả hồi kết của chủ nghĩa cộng sản.

Bên cạnh đó, cũng có những ý kiến tán thành định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng trong thực tế lại coi nhẹ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, họ muốn trao tất cả nền kinh tế cho bàn tay vô hình của kinh tế thị trường. Thực chất, đó là sự hướng tới chủ nghĩa tự do mới vốn đang thịnh hành ở phương Tây. Đã có rất nhiều các luận điệu thù địch, công kích, bài bác CNXH, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo chủ nghĩa Mác-Lênin và con đường đi lên CNXH.

Đây thực chất là những luận điệu phi lịch sử, phản khoa học và phản động. Mục đích của chúng muốn xóa bỏ CNXH, thay đổi thể chế chính trị, hướng lái nước ta từ bỏ con đường đi lên CNXH. Những luận điệu sai trái, xuyên tạc này tác động làm cho một bộ phận quần chúng nhân dân, giới trẻ hồ nghi, bi quan, dao động, suy giảm niền tin vào CNXH, vào con đường đi lên CNXH mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn.

Thứ ba, các thế lực thù địch tìm mọi cách xuyên tạc, phá hoại sự nghiệp cách mạng của Nhân dân ta

Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị luôn lợi dụng khai thác, khoét sâu, suy diễn những yếu kém, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo, quản lý, lợi dụng sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, giải quyết khiếu nại tố cáo ở một số nơi, nhất là vùng dân tộc thiểu số để mua chuộc, lôi kéo những phần tử xấu, gây mất ổn định an ninh, trật tự và an toàn xã hội trên những địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng của Tổ quốc. Chúng núp dưới chiêu bài “dân chủ hóa”, hình thành “kênh phản biện” để cho ra đời các tổ chức đối trọng với các cơ quan, tổ chức trong bộ máy của Đảng, Nhà nước, đòi giám sát hoạt động của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội.

Các thế lực phản động ở trong và ngoài nước ra sức chống phá và chờ thời cơ thực hiện hành động bạo loạn, lật đổ. Lực lượng thù địch lưu vong ra sách báo, lập đài phát thanh chống cộng, thực hiện chiến dịch “chuyển lửa về quê hương”, hy vọng “diễn biến hòa bình”, can thiệp, bạo loạn diễn ra ở Việt Nam.

Chúng đưa ra các kiến nghị dưới nhiều hình thức, như “gửi thư”, “trao đổi”, “góp ý” kiến nghị, với các thủ đoạn chia rẽ Đảng với Nhân dân; lôi kéo kích động, tách Nhân dân ra khỏi ảnh hưởng của Đảng bằng việc vu cáo vi phạm dân chủ, nhân quyền...; kích động luận điệu xuyên tạc về “phe phái trong Đảng”, rằng nhà nước, xã hội cần nằm ngoài sự lãnh đạo của Đảng. Thực chất, đó là ý đồ muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới xóa bỏ CNXH, đưa nước ta vào quỹ đạo chủ nghĩa tư bản và dần dần lệ thuộc vào chủ nghĩa đế quốc.

Thực tiễn lịch sử Việt Nam cho thấy, con đường kết hợp độc lập dân tộc với CNXH là con đường tất yếu khách quan của dân tộc, là chân lý, là động lực xuyên suốt toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta, Nhân dân ta lựa chọn và khẳng định trong các Văn kiện của Đảng từ mùa xuân năm 1930, được bổ sung, phát triển qua 13 kỳ Đại hội Đảng và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, nhất quán, trong hành trình đi tới mục tiêu vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước sau 38 năm qua là bằng chứng sống động bác bỏ những toan tính của các phần tử chống đối, thù địch muốn Đảng và dân tộc ta từ bỏ con đường đi lên CNXH, chia rẽ sự gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân trong quá trình thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Đổi mới chính là đem lại nhiều giá trị của CNXH trong các lĩnh vực cho sự phát triển bền vững, cho từng con người. Vượt qua thách thức, Việt Nam đã đạt được những thành tựu bước đầu to lớn, toàn diện trên các lĩnh vực. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”2.

Trong tiến trình đổi mới, lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta từng bước được hình thành, bổ sung, phát triển, hoàn thiện. Điều đó được thể hiện tập trung trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991, được bổ sung, phát triển năm 2011. Cương lĩnh đã khái quát những đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà Nhân dân ta xây dựng, chỉ ra những phương hướng cơ bản để xây dựng CNXH và những vấn đề lớn (những mối quan hệ biện chứng) cần phải nắm vững và giải quyết tốt. Văn kiện các kỳ Ðại hội Ðảng toàn quốc trong thời kỳ đổi mới đều bổ sung những nhận thức mới làm cho lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng sáng tỏ hơn. Vì vậy, Văn kiện Ðại hội XIII nhận định: "Tư duy lý luận của Ðảng có bước phát triển. Hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam tiếp tục được bổ sung, phát triển3. Chúng ta tin tưởng rằng, Ðại hội XIII của Ðảng với những quyết sách đúng đắn, mạnh mẽ, sáng tạo được thể hiện trong 12 định hướng, các mục tiêu phát triển đất nước, 6 nhiệm vụ trọng tâm, 3 đột phá chiến lược sẽ đưa đất nước phát triển lên một giai đoạn mới trên con đường độc lập dân tộc và CNXH, để đến năm 2045 nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa có thu nhập cao.

Tuy nhiên, thẳng thắn nhìn lại trong cuộc đấu tranh này vẫn còn không ít những hạn chế, bất cập. Điều này được Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, chỉ rõ: Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao. Đồng thời, Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá” cũng tiếp tục chỉ ra: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước”4.

Do vậy, trong thời gian tới để đấu tranh làm thất bại các quan điểm sai trái, thù địch về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, cần thực hiện tốt các giải pháp sau:

Một là, kiên định mục tiêu và vận dụng sáng tạo lý tưởng cao đẹp của CNXH, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành vũ khí lý luận sắc bén, luôn là nền tảng tư tưởng vững chắc của Đảng ta

Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Ðảng đã nêu rõ: "Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Ðảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Ðảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa"5.

Cần nhận thức sâu sắc rằng: Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa mà làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn về CNXH, những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp. Quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo, trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Ðảng. Nghiên cứu, bổ sung, phát triển lý luận trên cơ sở đúc kết thực tiễn, vận dụng có phê phán, có sáng tạo, tuyệt đối không được giáo điều, máy móc dẫn đến tình trạng xơ cứng trí tuệ, lạc hậu và sai lầm trong nhận thức và hành động.

Hai là, chú trọng công tác chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức và trình độ lý luận, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo quản lý cấp chiến lược

Tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trang bị, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động kiến thức lý luận, góp phần khẳng định con đường đi lên CNXH, chống nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Nâng cao trách nhiệm và bản lĩnh trong việc bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; có giải pháp tích cực, cụ thể trong xây dựng các chương trình hành động thực hiện Nghị quyết, quan tâm đến việc tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo điều hành, kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện.

Cần phải có sự kết hợp giữa sự giáo dục nghiêm túc của Đảng với tự tu dưỡng rèn luyện của cán bộ, đảng viên. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống dễ dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thậm chí rất nguy hiểm, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc câu kết với các thế lực thù địch phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Ba là, đẩy mạnh công tác phòng ngừa, chủ động đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Cần chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình, xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc nền tảng tư tưởng, cương lĩnh đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, truyền thông trong đấu tranh vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, góp phần định hướng dư luận xã hội. Cần nhận diện từ sớm, chủ động phòng ngừa, giữ vững bên trong là chính, góp phần vô hiệu hóa sự tác động, ảnh hưởng của các quan điểm thù địch, độc hại. Tiếp tục đẩy mạnh và thực hiện tốt hơn nữa công tác tuyên truyền và giáo dục để tất cả cán bộ, đảng viên và toàn thể quần chúng nhân dân kịp thời phát hiện, nhận rõ bản chất của những âm mưu, thủ đoạn, cùng những quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực phản động trong tình hình hiện nay.

Đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả, đẩy lùi tình trạng tham nhũng, lãng phí, biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên nhằm củng cố niềm tin của Nhân dân, khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Bốn là, thường xuyên chăm lo công tác cán bộ và huấn luyện cán bộ

Làm tốt hơn nữa công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín và ngang tầm nhiệm vụ. Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, đó là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, và của toàn bộ hệ thống chính trị. Chủ động phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng, tiêu cực; xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, tiêu cực, hoặc bao che, dung túng, tiếp tay can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng, tiêu cực. Xây dựng và thực hiện tốt cơ chế khuyến khích và bảo vệ tổ chức, cá nhân phát hiện, tố cáo tham nhũng, tiêu cực. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và Nhân dân hiện nay./.

Trung tá, ThS Trần Tố Uyên - Giảng viên Khoa CTĐ, CTCT

Tài liệu tham khảo:

1. Phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam/Ban Tuyên giáo Trung ương, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr. 48.

2. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam/Nguyễn Phú Trọng, Nxb CTQGST, Hà Nội, 2022, tr.17, tr.28, tr.37.

3,5. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 25-26, 74, 109.

4. Kết luận 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá”.

Đọc tiếp »

Chủ nghĩa dân tuý và trách nhiệm của quân đội trong phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn những biểu hiện dân túy ở việt nam hiện nay

 


Thời gian gần đây, nhiều hãng tin và một số tờ báo lớn đã đưa những tít bài rất kêu trong phân tích tình hình chính trị thế giới: “Khi Chủ nghĩa Dân tuý lên ngôi”, “Chủ nghĩa Dân tuý và những cơn địa chấn”… Nhiều nhà phân tích chính trị lo lắng và cho rằng trước làn sóng dân túy có thể dẫn đến những kết quả khó đoán, bất ngờ và tác động bất ổn đến nền chính trị các nước, các khu vực và thế giới.

Chủ nghĩa dân tuý (Populism) bắt đầu xuất hiện trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế những năm giữa thế kỷ XIX ở Pháp. Nguồn gốc xã hội của chủ nghĩa dân tuý là cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân, chủ yếu là nông dân, đòi ruộng đất và thủ tiêu các hình thức bóc lột của chế độ nông nô. Thuật ngữ chủ nghĩa dân tuý được sử dụng rộng rãi từ năm 1890 ở Mỹ trong phong trào thúc đẩy người dân nông thôn và Đảng Dân chủ chống lại những người Đảng Cộng hòa thường sống tập trung ở đô thị. Thuật ngữ này cũng được đề cập rộng rãi đến phong trào dân túy ở Nga vào những năm nửa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Cuộc đấu tranh chính trị ở Nga trên cơ sở cuộc cải cách nông dân năm 1861 đã cho thấy tính chất phản dân chủ của chủ nghĩa tự do, sự cần thiết phải có phong trào độc lập của quần chúng để đạt được mục đích, cũng như ở các nước phương Tây. Nhưng, những điều kiện khách quan của nước Nga vào thời kỳ này đã đặt ra cho phong trào cách mạng là những nhiệm vụ dân chủ tư sản, chứ không phải xã hội chủ nghĩa và làm cho giai cấp nông dân trở thành lực lượng cách mạng chủ yếu… Từ đó, hình thành nên một cương lĩnh hành động của phái dân chủ nông dân. Tư tưởng chủ đạo của phái này là mộng ước xây dựng những “công xã nông thôn” cho giai cấp nông dân dựa trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng. Vào những năm 50 của thế kỷ XX, thuật ngữ chủ nghĩa dân tuý được sử dụng nhiều hơn để mô tả tất cả các phong trào chính trị khác nhau, từ chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa cộng sản châu Âu tới chủ nghĩa chống cộng McCarthy của Mỹ và chủ nghĩa Peron (Peronistas) của Áchentina.

Bản chất của chủ nghĩa dân tuý là sự pha trộn những tư tưởng dân chủ nông dân với những ước mơ xã hội chủ nghĩa, với hy vọng bỏ qua chủ nghĩa tư bản - một biến dạng của chủ nghĩa xã hội không tưởng tiểu tư sản, đó là hệ tư tưởng của phái dân chủ nông dân. Chủ nghĩa dân tuý đại diện cho những người sản xuất nhỏ, tiểu tư sản. Những người theo tư tưởng này cho rằng: Lịch sử của sự phát triển xã hội không phải do đấu tranh giai cấp, mà chỉ do những nhân vật lỗi lạc cá biệt, còn quần chúng nhân dân, giai cấp đều mù quáng theo những cá nhân anh hùng đó. Thực chất, chủ nghĩa dân tuý là sự biến dạng của chủ nghĩa cơ hội - trào lưu tư tưởng chính trị hình thành, phát triển trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, thể hiện sự thích nghi với lợi ích của tầng lớp tiểu tư sản và bộ phận giai cấp công nhân đã bị tư sản hóa; giả danh những người mác xít để xuyên tạc, phủ nhận những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng. Về vấn đề này, V.I.Lênin đã chỉ rõ, chủ nghĩa dân tuý đại diện quyền lợi của những người sản xuất về phương diện họ là người tiểu sản xuất, người tiểu tư sản[1]. Họ đặt “lòng tin vào khả năng có thể có một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa của nông dân”[2]; những “người dân túy” “hoàn toàn đứng hẳn trên mảnh đất của xã hội hiện tại (nghĩa là trên mảnh đất của chế độ tư bản chủ nghĩa và đó là điều mà họ không thấy) và họ muốn thoát khỏi chế độ đó bằng cách vá víu và sửa chữa qua loa chế độ ấy…” [3]

 Đặc điểm của chủ nghĩa dân tuý thường được biểu hiện trên 3 xu hướng cơ bản sau: 1. Một trào lưu tư tưởng theo đuổi những chính sách được dân chúng ủng hộ trong một giai đoạn ngắn hạn, nhưng không bền vững về lâu dài. Đó thường là những chính sách xã hội như: Trợ giá hàng hóa, trả tiền lương hưu hậu hĩnh hoặc miễn phí chăm sóc y tế… 2. Một xu hướng chính trị lấy danh nghĩa “nhân dân” làm căn bản cho tính chính danh của chế độ, tuy nhiên nhiều quan điểm dân túy không coi “nhân dân” là toàn bộ dân số, mà chỉ đứng trên quyền lợi và thể hiện tiếng nói của một bộ phận dân chúng. 3. Một xu hướng chính trị sùng bái phong thái của nhà lãnh đạo không chỉ là những phát ngôn mị dân, mà còn là thể hiện bằng hành động có tính chất biểu trưng. Các nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa dân tuý cổ vũ hiện tượng sùng bái cá nhân; tuyên bố họ được giao sứ mệnh nắm giữ quyền lực, không phụ thuộc vào các thiết chế như đảng phái chính trị. Như vậy, dù theo trào lưu, xu hướng nào, tất cả các phái “dân túy”, về lý luận thì phủ nhận đấu tranh giai cấp, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, cách mạng vô sản và chuyên chính vô sản; về chính trị thì hạ thấp đấu tranh chính trị mà đề cao đấu tranh kinh tế, chỉ thấy lợi ích trước mắt không thấy lợi ích lâu dài, phủ nhận cách mạng bạo lực, tuyệt đối hoá vai trò của đấu tranh “hợp pháp”, “hòa bình”; về tổ chức thì sùng bái tính tự phát, tính tản mạn tự do tiểu tư sản, phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ…

Đối với thế giới, những năm gần đây, chủ nghĩa dân tuý có xu hướng phục hồi và phát triển là do một số nguyên nhân chủ yếu sau: 1. Do sự bất ổn của nền kinh tế thế giới, vấn đề “siêu toàn cầu hóa” đã đưa đến nghịch lý: Công nghệ sản xuất phần lớn được đưa từ các quốc gia phát triển sang các quốc gia chậm hay đang phát triển và hàng hóa được chuyển theo chiều ngược lại. Do đó, lợi ích chủ yếu mang lại cho các công ty lớn hoặc đa quốc gia, trong khi đó những người lao động có tay nghề thấp bị mất việc làm, gây bất bình trong người lao động. 2. Sự già hóa dân số, sự xung đột về văn hóa, đời sống bấp bênh của người lao động, nhất là của những người yếu thế làm gia tăng sự bất mãn của người dân dẫn đến các phản ứng văn hóa. Việc ủng hộ chủ nghĩa dân tuý là phản ứng của các bộ phận người dân từng chiếm ưu thế trước những thay đổi về các giá trị vốn đe dọa vị thế của họ; sự chia rẽ theo bản sắc, xoay quanh nguồn gốc quốc gia, dân tộc hoặc tôn giáo… (nhóm văn hóa); và sự chia rẽ theo kinh tế, giai cấp xã hội (nhóm kinh tế - chính trị). Điều hấp dẫn của các nhà dân túy là họ giúp những người bị gạt ra bên lề nói lên tiếng nói của mình. 3. Sự phát triển cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nhất là sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, tự động hóa, số hóa (CM 4.0) đã thay đổi mọi mặt của đời sống, từ kinh tế đến quan hệ giữa con người; quá trình cá nhân hóa thông tin tăng cao, tin giả, tin sai lệch tràn lan, làm cho người dân hiểu không đủ rõ vấn đề, hoang mang, dễ bị các luồng thông tin chi phối, dẫn dắt. 4. Chính sách xã hội phải đối mặt với nhiều thách thức, chi phí cho chính sách an sinh xã hội đối với người già, tàn tật, thất nghiệp hay hưu trí càng làm gia tăng đáng kể số nợ của chính phủ. Mặt khác, toàn cầu hóa đã tạo ra các dòng di cư vào các nước phát triển, đặt ra thách thức đối với các chính phủ, khoét sâu sự ngăn cách về tâm lý giữa người di cư với người bản địa. 5. Sự quan liêu, xa rời dân của giới quan chức cầm quyền đã tạo ra một khoảng cách lớn giữa lợi ích và tiếng nói của người dân hoặc của một số tầng lớp dân cư với giới chức cầm quyền hoặc những người có quyền lực trong xã hội.

Đối với Việt Nam, hiện nay các biểu hiện dân tuý chưa thể gọi là chủ nghĩa dân tuý như ở nước Nga cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, hoặc một số nước châu Âu, Mỹ Latinh, vì ở Việt Nam không có cơ sở kinh tế, chính trị - xã hội để dân tuý tồn tại dưới dạng một “chủ nghĩa”. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, dân túy vẫn có điều kiện để xuất hiện và tồn tại thông qua những biểu hiện như: 1. Tư tưởng dân tộc hẹp hòi, đòi ly khai, tự trị, một bộ phận người dân dưới sự kích động, hậu thuẫn của các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước luôn tìm cách đòi ly khai thành lập nhà nước, vương quốc của mình, không chỉ gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội mà còn ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. 2. Tình trạng “dân chủ tự do” kiểu phương Tây của một phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, dưới sự tác động của hoạt động “diễn biến hòa bình” và tác động của mặt trái của cơ chế thị trường, nhất là những người đã từng giữ các vị trí trong bộ máy nhà nước sau khi nghỉ hưu quay lại phê phán đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, luật pháp của nhà nước ta, có những phát biểu vô nguyên tắc nhằm đánh bóng hình ảnh, lấy lòng đám đông, tạo sự nghi ngờ, chia rẽ trong nội bộ, tạo cớ cho các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá cách mạng nước ta. 3. Sự xa rời, vô cảm với quần chúng, sẵn sàng “trục lợi" từ quần chúng, khiến một bộ phận quần chúng suy giảm niềm tin với Đảng, đặc biệt trước sự tuyên truyền của các thế lực thù địch nhằm xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, gieo mầm quan điểm “dân chủ tư sản”, “chủ nghĩa dân túy” đã tác động đến tư tưởng, tinh thần của một bộ phận cán bộ, nhân dân; dẫn đến tình trạng tha hóa biến chất về đạo đức lối sống, suy giảm lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào các cơ quan bảo vệ pháp luật, trong khi đề cao quá mức tự do cá nhân, dẫn đến "nhờn luật”, thậm chí “phản kháng ý thức hệ” khi bị kích động hoặc bức xúc về lợi ích… Các hoạt động này còn được sự cổ vũ của một số phóng viên báo chí thân phương Tây càng làm cho công tác dân vận của Đảng bị bóp méo. Nguy hiểm hơn, các hành vi này đã được các thế lực thù địch khai thác để kích động, gây chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ vùng miền, sắc tộc, tôn giáo làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. 4. Tình trạng “tự diễn biến", “tự chuyển hóa", “lợi ích nhóm" trong nội bộ, trong đó tình trạng “tự diễn biến", “tự chuyển hóa" đã được Nghị quyết Trung ương 04-NQ/TW ngày 30/12/2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ chỉ rõ là một trong 03 nhóm suy thoái với 09 biểu hiện cụ thể. Ngoài ra, tình trạng “lợi ích nhóm” vẫn còn tồn tại trên nhiều lĩnh vực, như: Kinh tế, chính trị, truyền thông, báo chí... 5. Tình trạng bè phái, cục bộ địa phương, tư tưởng vùng, miền, những nhóm người này vì lợi ích cục bộ mà xung đột, mâu thuẫn với lợi ích chung của nhân dân, của xã hội và thậm chí là lợi ích của quốc gia, dân tộc. Khi đã cố kết với nhau, chúng sẽ lợi dụng chính sách, pháp luật, nhân danh lợi ích xã hội, thậm chí sẵn sàng nhân danh “bảo vệ lợi ích của người dân” để trục lợi. 6. Những phát ngôn và hành động của số phần tử cơ hội, chống đối chính trị mang tính “mị dân trên các phương tiện truyền thông đại chúng, các diễn đàn, các trang mạng xã hội, chúng tập trung xuyên tạc khái niệm tự do báo chí, viện dẫn, “tuyệt đối hóa” các quy định của luật pháp quốc tế, Việt Nam nhưng lờ đi những quy định, điều khoản chế tài, nghĩa vụ kèm theo để khẳng định “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận” là quyền tuyệt đối, không có bất cứ một hạn chế nào. Một số đối tượng cơ hội, chống đối chính trị, còn thiết lập ra hàng loạt các hội, nhóm, câu lạc bộ, tổ chức “xã hội dân sự” trên lĩnh vực truyền thông, báo chí như: “Hội nhà báo độc lập Việt Nam”, “Câu lạc bộ phóng viên tự do”, “Mạng lưới blogger Việt Nam”... dưới chiêu bài “tự do ngôn luận, tự do báo chí” để thu hút, tập hợp lực lượng.

Những biểu hiện của chủ nghĩa dân tuý ở Việt Nam tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, có nguy cơ tác động đến sự lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Cụ thể như: Về chính trị: Ảnh hưởng trực tiếp đến đường lối, chủ trương, chính sách, của Đảng và Nhà nước; số nhân sỹ, trí thức có tư tưởng “cấp tiến” lợi dụng việc viết “thư ngỏ”, “kiến nghị”, tọa đàm, thảo luận để hướng lái đường lối, quan điểm theo hướng “đa nguyên đa đảng”. Về lĩnh vực kinh tế, đầu tư: Tác động đến các chủ trương, chính sách kinh tế đầu tư; tác động tiêu cực đến các hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư, du lịch. Về đối ngoại: Ảnh hưởng đến vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên trường quốc tế; ảnh hưởng đến chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế; ảnh hưởng tiêu cực đến các cơ chế, hiệp định thương mại Việt Nam với các nước, khu vực; ảnh hưởng đến việc triển khai chủ trương, chính sách và hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước; tạo cớ để các tổ chức quốc tế, các nước can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Về Lập pháp: Ảnh hưởng đến công tác lập pháp của Quốc hội, vai trò của Quốc hội bị suy giảm; luật pháp bị lạm dụng; tác động đến uy tín công tác điều hành, quản lý xã hội của chính quyền nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Thúc đẩy xu hướng chất vấn mới theo kiểu “dân chủ”, “đấu tranh trực diện” như nghị trường các nước phương Tây và mang màu sắc dân túy. Về Xã hội: Làm xáo trộn đời sống tâm lý xã hội; làm giảm lòng tin của người dân đối với Đảng; làm phân hóa các giai tầng xã hội, tạo ra thói quen tâm lý phản kháng, chống đối, “bất tuân dân sự”. Về quốc phòng, an ninh: Làm suy yếu, dẫn đến chia rẽ lực lượng vũ trang, dẫn đến tạo bất ổn, xáo trộn về quốc phòng, an ninh, trực tiếp đe dọa đến vấn đề chủ quyền, lãnh thổ, biển đảo; gia tăng nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và sự tồn vong của chế độ. Về truyền thông: Tích tụ phản ứng, mâu thuẫn trong lòng xã hội, tiền đề khởi phát hoạt động “bất tuân dân sự” chống đối chính quyền; tạo dư luận tác động, “hướng lái” chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, chống phá quân đội; kêu gọi sửa đổi Hiến pháp, luật pháp để thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tại Việt Nam…

Là một lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, Quân đội ta có vai trò quan trọng trong tham gia phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn những biểu hiện của chủ nghĩa dân tuý ở nước ta. Đây là một nhiệm vụ chính trị quan trọng, đòi hỏi phải phát huy cao độ vai trò, trách nhiệm của Quân đội nói chung và mỗi cán bộ, đảng viên trong Quân đội nói riêng. Theo đó, cần thực hiện tốt những biện pháp chủ yếu sau:

Một là, chủ động, tích cực làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ giúp họ nhận diện đúng những biểu hiện dân túy ở nước ta. Đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội phải quán triệt, nhận thức sâu sắc những biểu hiện dạng thức khác nhau của chủ nghĩa dân tuý, nắm vững, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Từ đó, làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, xây dựng đời sống chính trị tinh thần lành mạnh trong toàn quân.

Hai là, chủ động, tích cực phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp tham gia công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân nhận rõ bản chất, tác hại của chủ nghĩa dân tuý, cảnh giác với những thủ đoạn, chiêu trò dân túy, vạch trần những phần tử dân túy mị dân, lừa bịp nhân dân để thực hiện mưu đồ chính trị. Trên cơ sở đó, giữ vững niềm tin với Đảng, với sự nghiệp cách mạng, quyết tâm xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Ba là, tích cực tham gia giúp đỡ nhân dân phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng cơ sở chính trị - xã hội vững chắc. Trong đó, cần chú trọng tham gia giúp đỡ nhân dân xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào có đạo, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Từ đó, tạo dựng lòng tin của nhân dân đối với cấp ủy đảng, chính quyền, Quân đội, không bị dụ dỗ hay mắc mưu những tư tưởng, hành vi dân túy dù biến tướng dạng thức này hay dạng thức khác.

Bốn là, chủ động, tích cực phòng ngừa, tham gia đấu tranh nhăn chặn với các biểu hiện dân túy cả về mặt nhận thức đến hành vi, hành động. Đặc biệt, đối với cấp ủy đảng, chỉ huy, cán bộ chính trị các cấp phải nêu cao vai trò, trách nhiệm chính trị đối với nhiệm vụ này, phát huy tốt vai trò, trách nhiệm của cơ quan tuyên huấn, báo chí, các học viện, nhà trường trong toàn quân. Kịp thời vô hiệu hóa những quan điểm sai trái, những luận điệu thù địch cũng như những hành vi, hành động mang dấu hiệu, màu sắc dân túy./.

* Dương Ngọc Hưởng, Khoa Lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

 



[1] Từ điển triết học, Nxb Tiến bộ, Matxcova. 1974, tr.225.

[2] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 1, Nxb Tiến bộ, Matxcova. 1974, tr.334.

[3] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 1, Nxb Tiến bộ, Matxcova. 1974, tr.298.

Đọc tiếp »

Phê phán luận điệu xuyên tạc quan điểm của V.I.Lênin “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ”

 

Một trong những luận điểm khoa học cơ bản trong học thuyết của V.I.Lênin về bảo vệ Tổ quốc là: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ”. Tuy nhiên, sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động đã bóp méo, xuyên tạc quan điểm đúng đắn của Lênin.

Tỉnh táo trước âm mưu xuyên tạc không cần bảo vệ Tổ quốc XHCN

Ngay từ năm 1916, đêm trước của cuộc cách mạng vô sản ở nước Nga, Lênin chỉ rõ: “Không cầm vũ khí bảo vệ nước cộng hòa XHCN, thì chúng ta không thể tồn tại được. Giai cấp thống trị không bao giờ nhường chính quyền cho giai cấp bị trị. Nhưng giai cấp bị trị phải chứng minh trên thực tế rằng họ không những có khả năng lật đổ bọn bóc lột, mà còn có khả năng tự tổ chức, huy động hết thảy để tự bảo vệ lấy mình”; và: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ”. Bởi tự vệ là để bảo vệ chính quyền và bảo vệ các thành quả cách mạng đã giành được là một tất yếu khách quan, mang tính chính nghĩa, đó là một trong những vấn đề có tính quy luật của cách mạng vô sản. Lenin còn cho rằng, “không phải cách mạng có thể biết ngay được cách tự vệ”, vì “cách tự vệ là một khoa học và nghệ thuật của cách mạng, cách mạng chỉ có thể đi tới thành công đến nơi đến chốn khi biết cách tự vệ đúng".

Sau khi tư tưởng “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ” của Lênin ra đời đã bị các thế lực thù địch, phản động chống phá quyết liệt. Chúng phủ nhận việc bảo vệ thành quả cách mạng của giai cấp vô sản khi tiến hành cách mạng thành công. Theo chúng, cách mạng vô sản giành thắng lợi xong không cần lập nên chính quyền nhà nước vì đã thành công rồi. Để đập tan luận điệu này, ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Lenin chỉ rõ: “Kể từ ngày 25-10-1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ tổ quốc. Chúng ta tán thành "bảo vệ tổ quốc", nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới, là một cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc XHCN, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là tổ quốc". 

Thời gian qua, lợi dụng hệ thống XHCN thoái trào và sự biến động mau lẹ, khó lường của tình hình thế giới, các thế lực thù địch, phản động càng ra sức chống phá các nước XHCN còn lại, trong đó có Việt Nam. Chúng cho rằng hiện nay không cần phải bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN vì không còn kẻ thù xâm lược và nếu có bảo vệ thì chỉ bảo vệ Tổ quốc chứ không bảo vệ chế độ XHCN. Đây là luận điệu hết sức thâm độc, dễ gây sự ngộ nhận trong việc thực hiện nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của công dân Việt Nam hiện nay.

Cả về phương diện lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, mọi cuộc cách mạng nổ ra đều gắn với một giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của thời đại và bao giờ vấn đề giành chính quyền cũng đều là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng gắn với một quốc gia, dân tộc cụ thể. Như vậy, không bao giờ có Tổ quốc tách rời với một chế độ xã hội, mà bao giờ cũng gắn chặt với một chế độ xã hội nhất định như chế độ xã hội chiếm hữu nô lệ, chế độ xã hội phong kiến, chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa, chế độ XHCN.

Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ở mỗi thời kỳ lịch sử đều gắn liền với chế độ ở giai đoạn lịch sử, quốc gia, dân tộc đó. Đáng tiếc là, ngoài sự chống phá của các thế lực phản động, thù địch, một số người trong nước vẫn ngộ nhận, chủ quan, không thấy hết các nguy cơ của đất nước và chế độ, không nhận thức được sự thống nhất giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta nên có biểu hiện coi nhẹ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN; không nhận thức đầy đủ mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Thậm chí một số người Việt Nam tuy mang trong mình dòng máu Lạc Hồng và đang được hưởng thành quả cách mạng nhưng quay lưng lại với dân tộc, ra sức công kích, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, rắp tâm phá hoại thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, cuộc sống thanh bình của nhân dân. 

Tăng cường sức mạnh tổng hợp, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN

Việc trung thành, vận dụng sáng tạo tư tưởng của Lênin “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ” có ý nghĩa rất quan trọng trong thời đại ngày nay. Vì vậy, chúng ta cần quán triệt, thực hiện hiệu quả Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8, khóa XIII.

Thấm nhuần tư tưởng nêu trên của Lênin và kế thừa truyền thống, quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta, ngay sau thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố trước thế giới dứt khoát rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kể từ đó, xuyên suốt cuộc trường chinh 30 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, nhân dân ta đã tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước, thu non sông về một mối, cả nước cùng bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Thực tiễn cho thấy, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ 20 đã chứng minh rằng việc giành chính quyền đã khó nhưng giữ gìn, sử dụng chính quyền để xây dựng và bảo vệ chế độ XHCN còn khó hơn nhiều. Một trong những nguyên nhân chủ yếu của sự sụp đổ đó là do sai lầm của các đảng cộng sản trong quá trình cải tổ, cải cách, sự mất cảnh giác và tự làm suy yếu, mất sức đề kháng từ bên trong của các đảng cộng sản và lực lượng cách mạng trước âm mưu, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt của các thế lực thù địch.

Đúng như Lênin đã từng cảnh báo: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta nếu chúng ta không mắc sai lầm, tự đánh đổ mình”. Như vậy, bài học thành công và thất bại về công cuộc bảo vệ Tổ quốc XHCN từ sau Cách mạng Tháng Mười ở các nước XHCN không chỉ khẳng định tư tưởng của Lenin “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ” mà còn là cơ sở để xác định ý chí, quyết tâm trong nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi chúng ta trong đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch hiện nay.

Giải pháp quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về sự cần thiết phải bảo vệ Tổ quốc gắn liền với bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đó là cơ sở để củng cố lập trường chính trị giai cấp, niềm tin và sự kiên định vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước. 

Bên cạnh đó, cần chú trọng giáo dục thống nhất nhận thức về đối tượng, đối tác và mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Sự phân định đối tác, đối tượng là rất cần thiết, tuy nhiên cần phải mềm dẻo, uyển chuyển trong nhận thức. Trong thực tế, ranh giới giữa đối tác và đối tượng đôi khi rất mong manh, có tính tương đối, nhận thức không phải dễ dàng, đơn giản. Do đó, cần xác định rõ những tiêu chí và quan điểm trong nhận thức và xử lý vấn đề này. Một trong những tiêu chí rất quan trọng để xác định đối tác đó là lợi ích. Bởi lợi ích (hiểu theo nghĩa đầy đủ của nó) phải được bảo đảm cho cả hai phía: Phía chúng ta và phía đối tác, làm sao để đôi bên cùng có lợi, phù hợp với pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế. Tiêu chí “cùng có lợi” trở thành cơ sở của quan hệ giữa các đối tác. Trên cơ sở lợi ích chung của quốc gia, dân tộc, cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong xác định đối tượng và đối tác là: Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh.

Về mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là toàn diện, bảo vệ cả phương diện tự nhiên-lịch sử và phương diện chính trị-xã hội trong chỉnh thể thống nhất bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8, khóa XIII đã chỉ ra: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ XHCN, nền văn hóa và lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng XHCN”.

Trong bối cảnh hiện nay, cần làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức đúng phương châm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy, với nhiều kế sách linh hoạt, mềm dẻo, kiên quyết tạo thành sức mạnh tổng hợp vững chắc trong công cuộc giữ nước. 

Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt, trụ cột. Đó là sức mạnh tổng hợp của các yếu tố chính trị, quân sự, kinh tế, khoa học-công nghệ, văn hóa, đối ngoại, biểu hiện trong sức mạnh vật chất, tinh thần của khoảng 100 triệu dân Việt Nam trong nước và hơn 5 triệu người Việt Nam sinh sống, học tập, lao động, công tác ở nước ngoài luôn hướng về Tổ quốc. Đó là sức mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay.

Đại tá, PGS, TS HÀ ĐỨC LONG, Chủ nhiệm Khoa Triết học Mác-Lênin, Học viện Chính trị

 

Đọc tiếp »

Phát huy vai trò của BĐBP trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng

 Biên giới quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm phạm; quản lý, bảo vệ biên giới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền quốc gia. Tuy nhiên, hiện nay, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có vấn đề chủ quyền lãnh thổ (CQLT), an ninh biên giới quốc gia (ANBGQG). Do vậy, phát huy vai trò của BĐBP trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng (KGM) về vấn đề CQLT, ANBGQG là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng trong tình hình hiện nay.

Trong những năm qua, các đơn vị BĐBP đã tổ chức quán triệt và thực hiện nghiêm túc nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP, chấp hành nghiêm sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của cấp ủy, chính quyền địa phương. Đồng thời, tích cực, chủ động tham mưu, đề xuất nhiều chủ trương, giải pháp bảo vệ vững chắc CQLT, ANBGQG; làm tốt công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới; thường xuyên duy trì quan hệ tốt với lực lượng bảo vệ biên giới nước láng giềng, góp phần xây dựng biên giới hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển; tích cực tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương các cấp trong việc xây dựng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh ở khu vực biên giới.

Tuy nhiên, hiện nay, các thế lực thù địch, phản động cơ hội chính trị triệt để lợi dụng mạng xã hội, internet để đăng tải những thông tin sai sự thật, hòng bẻ lái dư luận và kích động người dân nhằm mục đích xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, chia rẽ mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước và Quân đội. Cụ thể, các đối tượng quy chụp lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ta “phản ứng chậm” hoặc “né tránh, không dám đối đầu, đang tâm để CQLT quốc gia bị đe dọa”... Mưu đồ cốt lõi của những luận điệu sai trái này là khiến lòng dân mất yên, dần mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; phủ nhận vai trò, công sức của các lực lượng, trong đó có BĐBP trong bảo vệ, gìn giữ biên cương của Tổ quốc.

Càng nguy hiểm hơn khi nhiều đối tượng phản động lợi dụng vấn đề CQLT, trong đó có chủ quyền biên giới, biển, đảo để kích động, kêu gọi người dân “xuống đường” biểu tình thể hiện lòng yêu nước, từ đó gây mất an ninh, trật tự xã hội và kiếm cớ để tiếp tục chống phá. Một thực tế khác cần nhìn nhận, đó là trong khi đa số người dân nhận thức đúng đắn về quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước trong bảo vệ CQLT quốc gia, thì vẫn còn khá nhiều người “sập bẫy”, chủ yếu là những người mới hoặc ít tiếp xúc với internet, mạng xã hội, trong đó có giới trẻ. Sự thiếu nhận thức đúng đắn về chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước khiến họ chưa kịp chắt lọc thông tin đúng - sai, dễ bị cuốn vào “ma trận phản động” trên internet, mạng xã hội của các thế lực thù địch. Đây chính là những mầm mống, phương thức để các thế lực thù địch thực hiện âm mưu thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn trong nước, tạo cớ can thiệp từ bên ngoài.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, thời gian tới, các thế lực thù địch, phản động sẽ tiếp tục đẩy mạnh hành vi lợi dụng internet và mạng xã hội để chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có vấn đề CQLT, ANBGQG. Đây là cuộc đấu tranh mang tính lâu dài, phức tạp; việc xác định tư tưởng, sự chuẩn bị tâm thế và lực lượng luôn được đề cập tại văn kiện Đại hội Đảng các nhiệm kỳ. Do vậy, phát huy vai trò của BĐBP trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên KGM về vấn đề CQLT, ANBGQG hiện nay là hết sức cần thiết. Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó, cần quán triệt và thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho các cơ quan, đơn vị, đặc biệt là cấp ủy, chỉ huy các cấp về vị trí, vai trò của biên giới quốc gia; đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch trên KGM về vấn đề CQLT, ANBGQG. Đây là giải pháp quan trọng để đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch trên KGM về vấn đề CQLT, ANBGQG. Bởi, nhận thức có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động thực tiễn của con người và tổ chức. Nhận thức đúng là cơ sở để mỗi người xây dựng tư tưởng và ý chí quyết tâm cao, hạn chế được sai lầm, khuyết điểm trong hành động; đối với tổ chức, nhận thức đúng là cơ sở để thống nhất tư tưởng và chỉ đạo hành động.



Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên KGM về vấn đề CQLT, ANBGQG hiện nay chỉ có thể đạt chất lượng hiệu quả cao khi chủ thể và các tổ chức, lực lượng có nhận thức sâu sắc, đầy đủ về vị trí, vai trò cũng như nhận thức sự cần thiết phải đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên KGM về vấn đề CQLT, ANBGQG. Theo đó, cấp ủy, chỉ huy của các cơ quan, đơn vị BĐBP cần quán triệt và thực hiện nghiêm các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP và của cấp ủy, chính quyền các địa phương về phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia; đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch trên KGM về vấn đề CQLT, ANBGQG.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp; phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên KGM về vấn đề CQLT, ANBGQG.

Cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp trong BĐBP cần thường xuyên quán triệt và nắm chắc các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng và Nhà nước về đấu tranh bảo vệ CQLT, ANBGQG; kịp thời cung cấp thông tin, “chỉ thị mục tiêu” và định hướng để đấu tranh kịp thời, có trọng tâm, trọng điểm. Chỉ đạo thành lập, kiện toàn nhân sự và đẩy mạnh hoạt động của Ban Chỉ đạo 35, Lực lượng 47; tuyên truyền, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, các luận điệu xuyên tạc đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề CQLT, ANBGQG trên KGM.

Ba là, phát huy vai trò, trách nhiệm của Ban Chỉ đạo 35 và Lực lượng 47 BĐBP tỉnh, nòng cốt, đi đầu trong đấu tranh, phản bác với những quan điểm sai trái, thù địch trên KGM về vấn đề CQLT, ANBGQG.

Thực tiễn trong những năm qua cho thấy, hoạt động của Ban Chỉ đạo 35 và Lực lượng 47 của BĐBP từng bước được củng cố, kiện toàn, phát huy tốt vai trò, trách nhiệm. Công tác nắm bắt, đánh giá tình hình tư tưởng, dư luận xã hội được triển khai sâu rộng, công tác thông tin, tuyên truyền, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, thông tin xấu, độc trên mạng xã hội được tăng cường với nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Qua đó, kịp thời tuyên truyền, định hướng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của Quân đội và BĐBP, tạo sự đồng thuận cao trong cán bộ, chiến sĩ các đơn vị, góp phần tích cực thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao.

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên KGM về vấn đề CQLT, ANBGQG là trách nhiệm của mọi tổ chức, lực lượng và cá nhân. Trong đó, Ban Chỉ đạo 35 và Lực lượng 47 tại các đơn vị là lực lượng nòng cốt, tiên phong. Do vậy, cần chú trọng bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ được giao nhiệm vụ chuyên trách đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các đối tượng phản động, thế lực thù địch; bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, chính sách, quan điểm của Đảng. Những cán bộ, đảng viên được lựa chọn phải là những người có trình độ chuyên sâu về lý luận, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có khả năng lập luận, xâu chuỗi các vấn đề, am hiểu về công nghệ thông tin.

Bốn là, phát huy tinh thần xung kích, sáng tạo, ý thức trách nhiệm của tuổi trẻ BĐBP trong đấu tranh, phản bác với những quan điểm sai trái, thù địch trên KGM về vấn đề CQLT, ANBGQG.

Hiện nay, ứng dụng internet và mạng xã hội đã phổ biến trong công tác, học tập và sinh hoạt của giới trẻ, trong đó có cán bộ, chiến sĩ BĐBP. Bên cạnh thông tin tích cực, các bạn trẻ cũng dễ dàng tiếp xúc với những thông tin trái chiều, có nội dung chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Tuy nhiên, không phải ai cũng có khả năng kiên định hoặc nhận thức đúng bản chất của những thông tin đó, nên không ít thanh niên dễ bị lôi kéo, kích động.

Do đó, tổ chức Đoàn các cấp cần chủ động nắm, dự báo, báo cáo, cung cấp thông tin về hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; gắn bồi dưỡng nâng cao năng lực đấu tranh với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng cho đoàn viên, thanh niên. Đồng thời, thường xuyên nắm chắc tình hình tư tưởng, dư luận, tâm trạng của cán bộ, đoàn viên, từ đó, có biện pháp tuyên truyền, giáo dục, định hướng, giải quyết hiệu quả, tránh để các thế lực thù địch, phản động có cơ hội lôi kéo, mua chuộc; kịp thời tuyên truyền, giáo dục, uốn nắn những thanh niên có biểu hiện tư tưởng lệch lạc, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Năm là, bảo đảm tốt hơn nữa về cơ chế, chính sách và cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ đấu tranh, phản bác với những quan điểm sai trái, thù địch trên KGM về vấn đề CQLT, ANBGQG.

Thực tiễn cho thấy, để phát huy vai trò của BĐBP trong công tác này, cần phải bảo đảm tốt hơn nữa về cơ chế, chính sách và cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ quá trình đấu tranh. Theo đó, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần phải tổ chức quán triệt sâu sắc, nắm vững các chế độ, chính sách đã được quy định trong các văn bản của Đảng, Nhà nước và Quân đội; gặp gỡ, động viên, khen thưởng kịp thời đối với những tập thể, cá nhân có thành tích trong đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên KGM.

                                                                 Đại tá, Thạc sĩ Nguyễn Mạnh Trường, Khoa VTĐN

 

Đọc tiếp »

Phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ chính trị đồn Biên phòng trong đấu tranh chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội

 “Phi chính trị hóa” (PCTH) quân đội (QĐ) là âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta trên lĩnh vực quân sự, quốc phòng, an ninh. Thực chất đây là âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với QĐ; làm cho QĐ suy yếu về chính trị, từ bỏ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, phai nhạt bản chất giai cấp công nhân, tiến tới bị vô hiệu hóa, không còn là công cụ bạo lực vũ trang bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ XHCN.

Thời gian qua, lực lượng cực đoan người Việt ở nước ngoài luôn lôi kéo, kết hợp với số chống đối, bất mãn ở trong nước lập ra các tổ chức như Việt Tân, Việt Nam phục quốc, Triều đại Việt... Cùng với đó, một số cán bộ, đảng viên (có những đảng viên đã từng giữ chức vụ trung, cao cấp trong bộ máy, hệ thống chính trị của nước ta) suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Lực lượng này len lỏi, phức tạp, không khó để nhận ra nhưng lại rất khó để đấu tranh. Đây là những người phản bội lại quá khứ, phản bội lại lý tưởng và nguyên nhân của sự phản bội đó đôi khi lại bắt nguồn từ sự bất mãn, không đồng ý một số vấn đề cụ thể trong chính sách, ứng xử của những cơ quan, đơn vị nơi người đó công tác.

Nhằm thực hiện PCTH QĐ, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng, internet, mạng xã hội... để tuyên truyền những quan điểm sai trái, thù địch, phản khoa học về nguồn gốc, bản chất QĐ. Chúng rêu rao rằng: QĐ là lực lượng “siêu giai cấp”, “trung lập về chính trị”..., hòng tạo sự mơ hồ trong cán bộ, chiến sĩ (CBCS) và nhân dân ta về bản chất giai cấp của QĐ, đánh đồng bản chất QĐ ta với QĐ tư sản.

Với mưu đồ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với QĐ, chúng phủ nhận Điều 4 trong Hiến pháp hiện hành của nước ta xác định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; tuyên truyền, bóp méo, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót cả về đường lối, sự chỉ đạo thực tiễn trong quá khứ, những vấp váp trong công cuộc đổi mới hiện nay; đòi thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”.

Chúng xuyên tạc bản chất, truyền thống của QĐ ta, xuyên tạc tính chất chính nghĩa của các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược của nhân dân ta; kích động, chia rẽ nội bộ QĐ và Công an, chia rẽ QĐ với các cơ quan của Đảng, Nhà nước; chia rẽ QĐ với nhân dân, nhằm làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với QĐ, làm phai nhạt hình ảnh cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân.

Trong bối cảnh hiện nay ở nước ta, đấu tranh chống PCTH QĐ phải kết hợp chặt chẽ đấu tranh chống chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Đó cũng là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của lực lượng BĐBP, trong đó, đội ngũ cán bộ chính trị (CBCT) đồn Biên phòng là lực lượng quan trọng, trực tiếp tham gia xây dựng đồn Biên phòng vững mạnh về chính trị, đồng thời đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn PCTH QĐ của kẻ thù. Theo đó, cần nhận thức đúng và phát huy tốt vai trò của CBCT đồn Biên phòng trong đấu tranh chống PCTH QĐ của các thế lực thù địch.

Là những người chủ trì về chính trị hoặc đảm nhiệm hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị ở đồn Biên phòng, CBCT giữ vai trò chủ chốt trong việc xây dựng QĐ vững mạnh về chính trị. Trong tình hình mới, đòi hỏi CBCT không những phải kiên định, vững vàng, nhạy bén về chính trị, mà còn phải tích cực tham gia đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn PCTH QĐ, giữ vững trận địa tư tưởng, xây dựng đồn Biên phòng vững mạnh về chính trị, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.



Vai trò của CBCT trong đấu tranh chống PCTH QĐ là chức năng, tác dụng của họ trong phát hiện, ngăn chặn các hoạt động chống phá QĐ về chính trị nhằm giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với QĐ. Vai trò của CBCT đồn Biên phòng trong đấu tranh chống PCTH QĐ được biểu hiện ở những nội dung sau:

Một là, góp phần giữ vững, tăng cường trận địa tư tưởng, chính trị của đồn Biên phòng, nâng cao chất lượng xây dựng đơn vị về chính trị. Sự nghiệp xây dựng lực lượng BĐBP hiện nay phải đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng vững mạnh về chính trị. Giữ vững, tăng cường trận địa tư tưởng, chính trị, nâng cao chất lượng xây dựng đơn vị về chính trị là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của lực lượng nòng cốt bảo vệ biên cương của Tổ quốc.

Là lực lượng cơ bản trong hệ thống CBCT của lực lượng BĐBP, đội ngũ CBCT đồn Biên phòng có nhiệm vụ trực tiếp tham gia giữ vững, tăng cường trận địa tư tưởng, chính trị ở đơn vị. Do vậy, họ giữ vai trò cốt cán, quan trọng hàng đầu trong xây dựng, rèn luyện nâng cao phẩm chất, năng lực cho CBCS ở đồn Biên phòng, đặc biệt là về chính trị, tư tưởng. Mặt khác, đội ngũ CBCT cũng trực tiếp tham gia tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng, đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, đóng góp cho Đảng và QĐ những ý kiến quý báu về hoạch định đường lối, chính sách trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Hai là, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Để đấu tranh chống PCTH QĐ, đòi hỏi đội ngũ CBCT phải hiểu rất sâu sắc, toàn diện hệ thống lý luận Mác xít, biết phân tích, luận giải các vấn đề lý luận và thực tiễn một cách khoa học; nghiên cứu, bổ sung và vận dụng sáng tạo lý luận đó trong thực tiễn; kiên quyết chống lại những luận điệu xuyên tạc, chống phá của kẻ thù.

Qua đó, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng liên tục được luận giải, chứng minh, vận dụng vào thực tiễn, được thẩm thấu vào họ và lan tỏa đến mọi CBCS ở các đơn vị. Nhờ đó, đội ngũ CBCT nâng cao hiệu quả đấu tranh chống lại các luận điệu nhằm thực hiện âm mưu PCTH QĐ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện mới.

Đối tượng tác động trực tiếp của đội ngũ CBCT là CBCS, công nhân viên quốc phòng đang công tác tại các đồn Biên phòng. Họ được hấp thụ kiến thức, tác phong công tác, khả năng tổ chức hoạt động thực tiễn, vận dụng lý luận vào thực tiễn đấu tranh chống PCTH QĐ của đội ngũ CBCT. Vì vậy, hoạt động đấu tranh chống PCTH QĐ của CBCT góp phần trực tiếp nâng cao hiệu quả đấu tranh chống lại các luận điệu thù địch, để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng cho CBCS ở đơn vị; mở rộng ra các đối tượng khác trong và ngoài QĐ, nhất là cán bộ, nhân dân ở khu vực biên giới.

Ba là, góp phần nâng cao giác ngộ chính trị, xây dựng bản lĩnh vững vàng cho CBCS ở đồn Biên phòng. Bằng năng lực, trách nhiệm của mình, thông qua đấu tranh chống PCTH QĐ, đội ngũ CBCT góp phần nâng cao nhận thức về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của CBCS. Họ góp phần củng cố, làm sâu sắc thêm những kiến thức, kỹ năng mà CBCS đã được trang bị trong quá trình huấn luyện. Đây là cơ sở vững chắc để CBCS nâng cao giác ngộ chính trị, xây dựng mục tiêu, lý tưởng chiến đấu đúng đắn.

Với tinh thần trách nhiệm cao trong đấu tranh chống PCTH QĐ, đội ngũ CBCT có cách thức hiệu quả nhất luận giải cho CBCS hiểu rõ tính tất yếu đi theo con đường XHCN; vạch trần âm mưu PCTH QĐ, xây dựng QĐ “trung lập” về chính trị của các thế lực thù địch; vạch trần các âm mưu, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt của kẻ thù trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Đội ngũ CBCT góp phần làm rõ bản chất tốt đẹp của QĐND Việt Nam, của BĐBP, là một lực lượng chính trị tự giác đứng vững trên lập trường của Đảng, tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Do đó, đội ngũ này càng phải cố gắng phấn đấu học tập và rèn luyện nâng cao nhận thức, giữ vững mục tiêu, lý tưởng chiến đấu.

Bốn là, góp phần tạo môi trường lành mạnh để bồi dưỡng, giáo dục nhân cách cho CBCS ở đồn Biên phòng. Là chủ thể tích cực, hoạt động của đội ngũ CBCT có vai trò to lớn trong xây dựng môi trường ở các đồn Biên phòng. Trong đó, hoạt động đấu tranh chống PCTH QĐ của họ góp phần to lớn làm “sạch” môi trường chính trị tư tưởng, lý luận; giáo dục, bồi dưỡng nhân cách, tạo khả năng “miễn dịch” với các tư tưởng sai trái, phản động cho CBCS ở đơn vị cơ sở. Đội ngũ CBCT có cả về tri thức, kỹ năng, phương pháp hoạt động... và cả tình cảm, phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng nên có tác dụng rất lớn trong giáo dục, rèn luyện CBCS. Họ có năng lực truyền thụ tri thức, kỹ năng hoạt động..., có hành vi gương mẫu, lời nói đi đôi với việc làm, là tấm gương mẫu mực cho CBCS trong đơn vị noi theo.

Hoạt động đấu tranh chống PCTH QĐ của đội ngũ CBCT có tính chiến đấu cao, có giá trị giáo dục sâu sắc, được thể hiện thường xuyên trong quá trình công tác của họ. Chính vì vậy, hoạt động đó góp phần xây dựng, củng cố tinh thần đấu tranh phê bình và tự phê bình trong đơn vị, tạo môi trường thuận lợi cho giáo dục, rèn luyện CBCS. Từ đó, góp phần khắc phục các biểu hiện bàng quan, nể nang, né tránh phê bình những khuyết điểm của đồng đội, phê bình kiểu “đao to búa lớn”, vì mục đích vụ lợi; hoặc chỉ biết “phê” mà không chịu “tự phê”; nhằm đạt mục đích vừa khắc phục sai lầm, vừa tạo sự đoàn kết, thống nhất trong đơn vị. Đây là những điều kiện thuận lợi để bồi dưỡng, giáo dục nhân cách cho CBCS ở đồn Biên phòng.

                                                                     Trung tá Hoàng Thị Mỹ, Khoa KHCB

Đọc tiếp »

Phát triển văn hóa Đảng trong không gian số

Chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong đời sống chính trị, văn hóa và xã hội. T...