Kiên định vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng hồ chí minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa mác-lênin, tư tưởng hồ chí minh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng

         Hiểu đúng thực chất, bảo vệ và phát triển lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, đấu tranh, phản bác có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch trên mặt trận tư tưởng, lý luận ở nước ta hiện nay. Đó là một nhiệm vụ quan trọng, cấp bách của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta nhằm đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới.

Từ khóa:Phát triển; chủ nghĩa Mác-Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh; Độc lập dân tộc; chủ nghĩa xã hội;

Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh và bài học kinh nghiệm được Đảng ta tổng kết sau 35 đổi mới phát triển đất nước (1986 - 2021), Đại hội XIII tiếp tục khẳng định sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. So với Đại hội XII, Văn kiện Đại hội XIII có bổ sung, phát triển thêm nhiều điểm mới. Trong các bài học kinh nghiệm rút ra sau 5 năm (2016 - 2021), Văn kiện Đại hội XIII khẳng định cơ sở lý luận, tư tưởng của mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là “kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”1. Trong quan điểm chỉ đạo của tầm nhìn và định hướng phát triển đất nước, Văn kiện Đại hội XIII đưa ra quan điểm thứ nhất: “Kiên định và vận dụng phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Đặc biệt, điểm mới trong mục tiêu phát triển đất nước được Đại hội XIII xác định “phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”2, thể hiện nhất quán mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lựa chọn.

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội còn được thể hiện ở mục đích cuối cùng là vì nhân dân. Suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh “chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”3. Để góp phần thực hiện tâm nguyện đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Văn kiện Đại hội XIII tiếp tục khẳng định bài học “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”4. Có thể thấy, thành tố “Dân thụ hưởng” mọi giá trị của công cuộc đổi mới, là sự vận dụng, phát triển đúng theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là, cách mạng xong rồi thì phải “đem lại quyền lợi cho dân chúng số nhiều”. Theo đó, tư tưởng chủ đạo trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIII là đất nước phát triển đi liền với nhân dân phồn vinh, hạnh phúc.

Cùng với việc khẳng định, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Văn kiện Đại hội XIII còn hết sức quan tâm đến đấu tranh mạnh mẽ, không khoan nhượng với những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Bởi trước, trong và sau khi diễn ra Đại hội XIII, các thế lực thù địch, phản động, ra sức chống phá con đường, mục tiêu của ta, từ gốc rễ tư tưởng, lý luận đến thực tiễn. Chúng cho rằng, “du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử, chỉ đưa đến tai họa vì chủ nghĩa Mác - Lênin là tư tưởng ngoại lai, xa lạ với truyền thống dân tộc”; “Không có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội hoặc có mà đã lỗi thời (?!)”; “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là con đường sai lầm”, là lạc hậu nên cần phải xét lại, bỏ đi (?!)…những luận điệu đó là phản động, thiếu khách quan, phi thực tế.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng ta tiếp tục khẳng định bài học hàng đầu là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là minh chứng rõ ràng, dứt khoát phủ định những luận điệu chống đối, xuyên tạc. Không những vậy, Văn kiện Đại hội lần này còn hết sức quan tâm đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Từ việc đánh giá những hạn chế “Công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao” đến tiếp tục xác định: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những  biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”5.

Đảng ta xác định: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những  biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Đây là một điểm rất mới của Văn kiện Đại hội XIII, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới để kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Để vận dụng tốt tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng ta về kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đấu tranh mạnh mẽ, không khoan nhượng với những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh là người tìm ra con đường giải phóng dân tộc Việt Nam: Con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cũng chính là mục tiêu cao cả, bất biến của toàn Đảng, toàn dân ta. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đấu tranh giành được độc lập dân tộc, từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, vì đó là quy luật tiến hóa trong quá trình phát triển của xã hội loài người. Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đáp ứng được khát vọng của toàn dân tộc: độc lập cho dân tộc, dân chủ cho nhân dân, cơm no áo ấm cho mọi người dân Việt Nam. Thực tiễn phát triển đất nước cho thấy, độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Do đó, đổi mới là quá trình vận dụng và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới, chứ không phải là thay đổi con đương, mục tiêu cách mạng, cho nên phải kiên định mục tiêu “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.

Hai là, xây dựng Đảng chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Tiếp tục công cuộc đổi mới, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc xây dựng Đảng về chính trị trước hết đòi hỏi Đảng ta phải đề ra được đường lối cách mạng đúng đắn, đồng thời tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối đó ở tất cả các cấp, các ngành. Đặc biệt là cần chống nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa không chỉ ở đường lối mà ngay cả trong quá trình thực hiện đường lối đó. Đường lối của Đảng phải được xây dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể ở từng thời kỳ. Đường lối ấy phải dựa vào thực tế, có khả năng thực thi, đáp ứng được đòi hỏi của sự phát triển của đất nước. Trong quá trình thực hiện đường lối, Đảng phải tổng kết thực tiễn, nắm bắt xu thế của thời đại, nắm được sự biến động của tình hình trong nước và quốc tế để kịp thời bổ sung, phát triển đường lối. Sự kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa là một thước đo quan trọng nhất tính đúng đắn của đường lối, đồng thời, trong bối cảnh toàn cầu hóa phải tính đến những đặc điểm mới để đưa ra những quyết sách mới nhằm thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững, sớm đưa đất nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp hiện đại.

Ba là, tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Cuộc vận động học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh do Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng phát động đã được cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân hưởng ứng, tham gia rộng khắp và đã đạt được những kết quả tích cực. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, cần tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, theo hướng chỉ đạo thực hiện thiết thực bằng hành động hiệu quả, đi vào chiều sâu.Đối với tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội: Quán triệt đầy đủ tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước về "dân làm gốc"; chỉ đạo thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, cải cách hành chính, chủ động nắm bắt tâm tư, đánh giá, dự báo diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và có biện pháp giải quyết kịp thời.Đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức trong hệ thống chính trị: Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái trong đội ngũ cán bộ. Đặc biệt đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, những người đứng đầu, học tập tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Bốn là, đấu tranh có hiệu quả chống những luận điệu thù địch, xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Để đấu tranh có hiệu quả với những luận điểm phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh, các cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên cần nhận thức sâu sắc về lý luận, làm cơ sở đấu tranh quyết liệt với các thế lực thù địch, chống đối cách mạng nước ta, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.Mỗi cán bộ, đảng viên cần phải chú trọng học tập, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc học tập, nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh để hiểu sâu sắc bản chất và tin tưởng vững chắc vào tư tưởng Hồ Chí Minh, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng, lãnh đạo; để mỗi người không chỉ nói, viết và làm theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước mà còn vận dụng sáng tạo vào thực tiễn công tác, để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao phó.

Quán triệt tinh thần Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Từ đó triển khai xây dựng lực lượng chuyên trách theo hướng tinh gọn, đủ mạnh; đồng thời, phát huy cao nhất trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, trước hết là người đứng đầu trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch... Phát huy tốt vai trò của các lực lượng tác chiến không gian mạng, an ninh mạng.

 

Đặng Thành Nam  Khoa LL Mác – Lênin, TT Hồ Chí Minh

 Tài liệu tham khảo

1. Đảng Cộng sản Việt Nam : Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I,, Nxb CTQG.ST, H. 2021, tr. 95.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam : Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I,, Nxb CTQG.ST, H. 2021, tr. 112.

3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 187.

4. Đảng Cộng sản Việt Nam : Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I,, Nxb CTQG.ST, H. 2021, tr. 96.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam : Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I,, Nxb CTQG.ST, H. 2021, tr. 83.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam : Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I,, Nxb CTQG.ST, H. 2021, tr. 33.

Đọc tiếp »

Nhận diện và đấu tranh phòng, chống những quan điểm sai trái, thù địch về xây dựng ý thức xã hội mới ở Việt Nam hiện nay

 

Ý thức xã hội mới mà chúng ta đang xây dựng là ý thức xã hội chủ nghĩa mà hạt nhân là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước; ý thức xã hội mới phản ánh lợi ích căn bản của nhân dân lao động và của cả dân tộc, nhằm phục vụ công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức tuyên truyền, xuyên tạc những giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng ta bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, nham hiểm, tấn công trên nhiều lĩnh vực, trong đó trọng tâm là lĩnh vực tư tưởng, lý luận, nhằm xóa bỏ vai trò nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống xã hội Việt Nam.

Thông qua các diễn đàn trên các trang mạng xã hội và các sự kiện của quốc tế, khu vực và trong nước, chúng đưa tin, phân tích, bình luận dẫn lái dư luận, chúng cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời từ những điều kiện kinh tế - xã hội của thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX nên đến nay đã lỗi thời, lạc hậu. Sự thoái trào của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu cuối thế kỷ XX là cái cớ để chúng xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa C.Mác; chúng cho rằng chủ nghĩa C.Mác là sản phẩm của nền công nghiệp phương Tây, không phù hợp với văn hóa phương Đông và Việt Nam.

Lợi dụng những sự kiện chính trị của đất nước, những vụ án tham nhũng, tiêu cực của một số cán bộ, đảng viên trong thời gian vừa qua; tính chất phức tạp của ý thức xã hội trong thời kỳ quá độ hiện nay; sự đan xen, cùng tồn tại giữa ý thức xã hội cũ và ý thức xã hội mới mà chúng ta đang xây dựng..., các thế lực thù địch đã phủ nhận toàn bộ thành quả to lớn chúng ta đạt được trong gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước. Chúng còn đưa ra nhiều luận điệu sai trái hòng xuyên tạc, phủ nhận bản chất tốt đẹp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chúng xuyên tạc chủ trương “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của Đảng hiện nay, chúng cho rằng đó là là duy tâm chủ quan, trống rỗng, phi thực tế, phản khoa học[1]...

Từ những nhận định trên đây, chúng ta có thể thấy rõ âm mưu của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị hiện nay là xuyên tạc, phủ nhận sự tồn tại và bản chất tốt đẹp của ý thức xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Những luận điệu đó không chỉ phủ nhận tính khoa học, cách mạng của nền tảng tư tưởng xã hội mà nguy hiểm hơn là sự dẫn dắt định hướng dư luận xã hội, gây hoang mang, mất phương hướng trong cộng đồng, các tầng lớp dân cư, gây mất niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự nghiệp cách mạng. Điều đó ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình xây dựng ý thức xã hội mới hiện nay.

Một số giải pháp trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về xây dựng ý thức xã hội mới ở Việt Nam hiện nay

Nhận diện những quan điểm sai trái của các thế lực thù định, phản động về công cuộc xây dựng ý thức xã hội mới hiện nay; đấu tranh, phản bác lại những quan điểm này một cách hiệu quả chúng ta cần thực hiện một số nội dung, biện pháp cơ bản sau đây:

Một là, xây dựng ý thức xã hội mới Việt Nam hiện nay cần gắn với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng con người mới Việt Nam với đầy đủ những phẩm chất, đạo đức mới và ý thức thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Lý luận nhận thức của triết học Mác - Lênin chỉ rõ, để nhận biết nhận thức, tư duy, lý luận cũng như các quan điểm của con người là đúng hay sai, phản ánh đúng hiện thực khách quan hay duy tâm chủ quan cần dựa vào thực tiễn - đó là tiêu chuẩn khách quan duy nhất để kiểm tra chân lý. Bởi lẽ, chỉ có thực tiễn mới có thể vật chất hóa được tri thức, hiện thực hóa được tư tưởng, qua đó có thể chứng minh, kiểm nghiệm được nhận thức, chỉ dẫn đó là đúng đắn hay sai lầm. Những nhận định cũng như các chỉ dẫn lý luận hay những định hướng trong các văn kiện của Đảng hoàn toàn có thể nhận biết được tính đúng đắn, khoa học thông qua việc áp dụng vào quá trình cải biến xã hội.

Hai là, tấn công trực diện nhằm phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Cần có những bài viết đấu tranh trực tiếp, tấn công trực diện với những dẫn chứng sinh động, các luận điểm đanh thép, cách tiếp cận thuyết phục để phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, khẳng định tính đúng đắn, khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại hội XIII khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng chủ động, thiết thực, kịp thời và hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính giáo dục, tính thuyết phục trong tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”[2].

Ba là, làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, tăng cường cung cấp thông tin chính thức một cách kịp thời, hiệu quả, qua đó hạn chế tác động tiêu cực của những thông tin, luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực cơ hội, thù địch.

Thực tiễn đặt ra, việc phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, xây dựng đời sống ấm no cho người dân là một quá trình lâu dài, là mục tiêu trung tâm trong tiến trình cách mạng. Dù đạt được những thành tựu to lớn, song quá trình đổi mới đất nước còn một số bất cập, hạn chế. Vì vậy, cần nắm chắc tình hình tư tưởng, xử lý thông tin, định hướng dư luận kịp thời, tránh để các đối tượng cơ hội, thù địch lợi dụng để xuyên tạc, chống phá. Cần tận dụng triệt để mạng xã hội, đa dạng hóa hình thức giáo dục, tuyên truyền, động viên, cổ vũ các phong trào thi đua yêu nước, gương người tốt, việc tốt, các nhân tố tích cực trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Bốn là, áp dụng các biện pháp pháp lý trong công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng, xây dựng ý thức xã hội mới.

Cần thể chế hóa các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến phòng, chống thông tin xấu, độc trên mạng xã hội, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự xã hội, đẩy mạnh thực hiện Luật An ninh mạng là những căn cứ pháp lý quan trọng để phòng ngừa, đấu tranh với các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Xử lý nghiêm theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước đối với các cơ quan báo chí, phóng viên đăng tải các thông tin chưa được xác minh, kiểm chứng, không có cơ sở, căn cứ, gây ảnh hưởng không tốt tới dư luận xã hội.

Tóm lại, vấn đề xây dựng ý thức xã hội mới Việt Nam là một quá trình lâu dài, vừa “xây” vừa “chống”, trong đó, nhận diện và giải pháp đấu tranh phòng, chống những quan điểm sai trái, thù địch về xây dựng ý thức xã hội mới ở Việt Nam hiện nay là một trong những vấn đề cơ bản, là nội dung không thể thiếu để xây dựng ý thức xã hội mới Việt Nam. Đây là cuộc đấu tranh lâu dài, cần phát huy tính tích cực, chủ động của các chủ thể mà hạt nhân là Đảng, Nhà nước, cấp ủy các cấp, đồng thời không thể thiếu sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không phải là việc riêng của Đảng mà còn là việc chung, là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân”[3]. Vì vậy, việc nhận diện và giải pháp đấu tranh phòng, chống những quan điểm sai trái, thù địch về xây dựng ý thức xã hội mới ở Việt Nam hiện nay cần phải tiếp tục được bổ sung trong tình hình của Việt Nam hiện nay.

Thiếu tá, ThS Lê Khắc SơnKhoa Triết học Mác - Lênin, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

[1] Phê phán các luận điệu sai trái, xuyên tạc vấn đề “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, lyluanchinhtrivatruyenthong.vn.

[2] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 181.

[3] Phát biểu của đồng chí Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị tổng kết công tác Tuyên giáo năm 2019, Báo Quân đội nhân dân, ngày 30/12/2019, tr.1.

-----------------------------------------------------

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021.

Phát biểu của đồng chí Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị tổng kết công tác Tuyên giáo năm 2019, Báo Quân đội nhân dân, ngày 30/12/2019.

GS, TS Nguyễn Xuân Thắng: Tư tưởng, lý luận với đổi mới và phát triển đất nước, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021.



Đọc tiếp »

Đấu tranh phản bác luận điệu “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” của các thế lực thù địch chống phá cách mạng việt nam hiện nay

     Hiện nay các thế lực thù địch đang ráo riết chống phá cách mạng Việt Nam từ mọi phía, không từ bỏ bất cứ thủ đoạn nào. Chúng tiến hành phá hoại trên mọi lĩnh vực, một trong những thủ đoạn chống phá của chúng là vẽ ra các hình mẫu về xã hội dân chủ, với các tư tưởng và khẩu hiệu hành động gây chú ý, cốt lõi là lấy luận thuyết của chủ nghĩa “đa nguyên chính trị” làm nền tảng, từ đó đòi hỏi “đa đảng đối lập” để chống phá các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới trong đó Việt Nam.

Để thực hiện ý đồ trên, chúng rêu rao rằng, Việt Nam thực hiện chế độ nhất nguyên chính trị, độc đảng nên không có dân chủ  hoặc dân chủ hình thức vì vừa đá bóng, vừa thổi còi. Cùng với đó, chúng tìm cách cổ xúy cho các “hình mẫu dân chủ” kiểu phương Tây vào nước ta, xuyên tạc bịa đặt trắng trợn rằng Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, chế độ một đảng là chế độ độc tài, đảng trị nên cần phải thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” mới có dân chủ thực sự và đất nước mới phát triển được.

            Các thế lực thù địch đã cố tình đánh tráo khái niệm giữa vấn đề đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập với dân chủ và phát triển của đất nước. Mưu đồ thực chất của chúng là muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thông qua việc đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập từ đó tiến tới xóa bỏ chế độ chính trị định hướng XHCN của nước ta.

Thực chất “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” là gì? có phải là sự bảo đảm cho nền dân chủ thực sự trong xã hội hay không? Có nhất thiết phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở nước ta hay không?

Trong khoa học chính trị và đời sống chính trị thế giới, đa nguyên chính trị là thuật ngữ đã xuất hiện từ lâu nó bắt nguồn từ “chủ nghĩa đa nguyên” ở các nước phương Tây. Về bản chất, đa nguyên chính trị là sự phản ánh đặc trưng hệ thống chính trị của một quốc gia có nhiều cực, nhiều mục tiêu, nhiều con đường, nhiều đảng phái được tự do hoạt động và đại biểu cho những lợi ích khác nhau. Đa nguyên chính trị gắn liền với thể chế chính trị đa đảng. Bằng luận thuyết về đa nguyên chính trị, các thế lực phản động ca ngợi nền dân chủ tư sản và đòi “cải tiến”, “cải tổ” nền dân chủ xã hội chủ nghĩa nhằm tạo ra cái gọi là “sự tự quản” của người lao động và “quyền tự quyết” của nhân dân dưới chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa.

Cần thấy rằng, thể chế đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không phải là dấu hiệu của dân chủ, cũng không phải là cội nguồn bảo đảm cho dân chủ thực sự. Ngược lại, chế độ nhất nguyên chính trị, một đảng duy nhất cầm quyền cũng không phải là nguyên nhân của mất dân chủ. Cái gốc để bảo đảm cho nền dân chủ, chế độ dân chủ thực sự trong xã hội là tư liệu sản xuất nằm trong tay ai, phục vụ cho ai?

Tuy nhiên, trong xã hội tư bản chủ nghĩa, tư liệu sản xuất nằm trong tay thiểu số nhà tư bản của giai cấp tư sản, vì lẽ ấy nền dân chủ trong xã hội tư bản mang bản chất của giai cấp tư sản. Trong khi ấy, đại đa số quần chúng nhân dân lao động không có tư liệu sản xuất, chỉ là những người làm thuê, bán sức lao động cho nhà tư bản để kiếm sống. Hiện nay, chủ nghĩa tư bản đã có những điều chỉnh, thích nghi nên vị trí của giai cấp công nhân các nước tư bản đã có thay đổi nhất định, đời sống vật chất, tinh thần của họ có phần được cải thiện. Một bộ phận công nhân có cổ phần trong các nhà máy, công ty, tập đoàn tư bản, và do đó, trên thực tế họ không hoàn toàn là “vô sản” (không có tài sản) như thời kỳ trước. Vị trí của giai cấp công nhân đã có thay đổi nhất định, song địa vị chính trị của họ trong xã hội tư bản vẫn không hề thay đổi. Giai cấp công nhân hiện đại vẫn bị bóc lột giá trị thặng dư, không có quyền sở hữu các tư liệu sản xuất chủ yếu, nên xét về kinh tế họ vẫn là những người bị bóc lột, xét về chính trị họ vẫn là giai cấp bị thống trị. Ngược lại, giai cấp tư sản, chế độ tư bản dù vẫn còn tiềm năng phát triển do có lịch sử tồn tại lâu đời, có tiềm lực về tài chính, quân sự, khoa học kỹ thuật, có sự điều chỉnh, thích nghi nhất định, song bản chất vẫn là những kẻ bóc lột; xét về chính trị họ vẫn là giai cấp thống trị. Lẽ dĩ nhiên, về cơ sở xã hội, nền dân chủ tư sản được xây dựng trên nền tảng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa nên trong xã hội tư bản cũng chỉ là nền dân chủ phục vụ cho thiểu số giai cấp tư sản còn giai cấp công nhân, quần chúng lao động những người chiếm đại đa số trong xã hội vẫn là những người bị thống trị, áp bức, bóc lột, bất công.

Bàn về chế độ dân chủ tư sản, V.I. Lênin đã từng khẳng định: “Chế độ dân chủ tư sản, tuy là một tiến bộ lịch sử vĩ đại so với thời trung cổ, song trước sau nó vẫn là - và dưới chế độ tư bản nó không thể không là - một chế độ dân chủ chật hẹp, bị cắt xén, giả hiệu, giả dối, một thiên đường cho bọn giàu có, một cái cạm bẫy và một cái mồi giả dối đối với những người bị bóc lột, đối với những người nghèo.(2)

Cần nói thêm rằng, chế độ đa đảng trong hệ thống chính trị tư sản được các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị, các học giả tư sản tung hô cũng chỉ là những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, mị dân. Đó thực chất chỉ là sự thỏa thuận có nguyên tắc để phân chia quyền lực và lợi ích giữa các phe phái của một đảng lớn duy nhất trong xã hội - đảng của những nhà tư bản độc quyền. Thực tế, chế độ đa đảng ở phương Tây cũng chỉ dựa trên cơ sở nhất nguyên chính trị. Nghĩa là, chính trị là chính trị của một giai cấp, một đảng hay nhiều đảng thì vẫn là phục vụ một giai cấp nhất định - giai cấp tư sản. Do vậy, chế độ đa đảng ở nhiều nước phương Tây về bản chất vẫn chỉ nhằm phục vụ giai cấp tư sản, cụ thể hơn là chính đảng cầm quyền. Các đảng phái cánh tả, cánh hữu, đảng phái được coi là đối lập với đảng cầm quyền, xét đến cùng, vẫn phục vụ lợi ích giai cấp tư sản, hoạt động trong khuôn khổ, trật tự cho phép của chính đảng tư sản cầm quyền. Và như vậy, đa đảng nhưng thực chất không phải là đa đảng đối lập về mục tiêu và lợi ích căn bản mà vẫn phục vụ, bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản.

Các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện mục tiêu chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình”, kết hợp bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, thúc đẩy “xâm lăng về văn hóa”, phá hoại về tư tưởng, đạo đức, lối sống nhằm thay đổi nhận thức, niềm tin của các tầng lớp nhân dân đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, vào tính tất yếu lãnh đạo nhà nước và xã hội của Đảng ta; đòi xóa bỏ Điều 4, Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, đòi xây dựng Nhà nước ta theo mô hình “tam quyền phân lập”, từng bước hình thành tư tưởng, quan điểm đối lập, phần tử chống đối, thành lập nên các tổ chức, lực lượng chính trị đối lập tại Việt Nam, tiến tới thiết lập các đảng phái chính trị đối lập thông qua các kịch bản “Cách mạng nhung”, “Cách mạng màu”, “Cách mạng da cam”, “Cách mạng đường phố”, …để hiện thực hóa mục tiêu “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam.

Phản bác các luận điệu sai trái, phản động, vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, trong đó có tính chất phản cách mạng của chủ nghĩa đa nguyên chính trị là nhiệm vụ cấp bách, là trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, của cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân và toàn bộ hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay, trong đó có cán bộ, chiến sĩ quân đội nói chung, Bộ đội Biên phòng nói riêng trên mặt trận tư tưởng lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Việt Nam hiện nay không cần thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”

“Độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc” là mục tiêu cao nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn thể nhân dân Việt Nam. Vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, mục tiêu ấy ở nước ta được khảo nghiệm, kiểm chứng và trao cơ hội cho tất cả các giai tầng trong xã hội, các đảng phái chính trị, các cá nhân,... Trong thời kỳ này, các phong trào yêu nước, các cuộc cách mạng theo các quan điểm, lập trường phi vô sản được tiến hành ở Việt Nam dưới nhiều hình thức song đều thất bại. Trong thế kỷ XX, ở nước ta đã từng xuất hiện và tồn tại nhiều đảng phái khác nhau, như: Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc), Việt Nam Cách mệnh đồng minh hội (Việt Cách),… Tuy nhiên, các đảng phái chính trị này không khẳng định được sứ mệnh lịch sử và vai trò lãnh đạo dân tộc Việt Nam.

Lịch sử vốn khách quan, nhân dân Việt Nam luôn chính xác khi xem xét, đánh giá và lựa chọn cho mình con đường duy nhất đúng đắn, một sự nghiệp vẻ vang, một chính đảng cách mạng chân chính - Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự ra đời, tồn tại, lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là lựa chọn tất yếu của lịch sử, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn thể dân tộc Việt Nam.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm tất yếu của lịch sử, đáp ứng yêu cầu thực tiễn cách mạng, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân Việt Nam. Từ khi thành lập đến nay Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Do vậy, ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, đảng duy nhất lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội, không chia sẻ quyền lực cho bất kỳ đảng phái chính trị nào. Đồng thời, Đảng là bộ phận của hệ thống chính trị và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, đó là một tất yếu khách quan. Nhân dân Việt Nam không muốn và không cần có thêm bất kỳ một đảng phái chính trị nào khác trên đất nước này, vì vậy, cũng không cần thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam.

Việt Nam không có cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”

Dân chủ, phát triển, ổn định và tiến bộ là những mục tiêu thuộc về lý tưởng của loài người, có giá trị phổ quát chung của toàn nhân loại. Tuy nhiên, những mục tiêu này có được không đồng nghĩa với vấn đề phải nhất quyết thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Đảng là tổ chức chính trị của giai cấp, mang bản chất giai cấp mà đảng ấy đại diện, trình độ dân chủ và sự phát triển của một đất nước không tỷ lệ thuận với số lượng đảng phái chính trị có trong đất nước đó. Sự đa đảng cũng có nhiều sắc thái khác nhau. Có hiện tượng đa đảng nhưng vẫn nhất nguyên chính trị, có hiện tượng đa đảng đồng thời đa nguyên chính trị. Luận điệu cho rằng một đảng thì mất dân chủ, cản tr phát triển, còn đa đảng thì dân chủ, phát triển là sai trái, chưa có cơ sở khoa học chứng minh. Tính chất dân chủ và sự phát triển của một nước không phụ thuộc vào chế độ một đảng hay đa đảng mà phụ thuộc việc đảng cầm quyền ở nước đó có mang bản chất cách mạng hay không, có bảo vệ quyền và lợi ích cho đa số quần chúng nhân dân lao động hay không, hay chỉ bảo vệ cho thiểu số người thống trị trong xã hội đó. Trên thực tế, nhiều quốc gia thực hiện đa đảng nhưng vẫn mất dân chủ, là nước nghèo, kém phát triển. Ngược lại, nhiều quốc gia chỉ có một đảng lãnh đạo nhưng dân chủ được bảo đảm trên thực tế cuộc sống, kinh tế-xã hội phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, bảo đảm. Điều này phụ thuộc vào bản chất của các đảng cầm quyền và lợi ích xã hội mà nó đại diện, bảo vệ.

Các thế lực thù địch cố tình che đậy tính chất đối kháng về lợi ích giai cấp trong xã hội, bảo vệ lợi ích giai cấp tư sản, phủ nhận sự phân chia, đối kháng giai cấp, phủ nhận đấu tranh giai cấp, phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, phủ nhận vai trò lãnh đạo và hạ uy tín của các Đảng Cộng sản, trong đó có Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hiện nay, nhiều quốc gia, dân tộc đang thực hiện theo thể chế được gọi là “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”. Tuy một vài nước có thu nhập bình quân đầu người và GDP hàng năm tương đối cao, song phần lớn tài sản và sự thụ hưởng giá trị vật chất và tinh thần lại không thuộc về đa số người dân lao động (giai cấp công nhân, giai cấp nông dân) mà lại nằm chủ yếu trong tay của một bộ phận người trong xã hội - đó là các ông chủ tư bản, các nhà tài phiệt - là giai cấp tư sản. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức cũng như các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và chi phối toàn xã hội…Sự rêu rao bình đẳng về quyền, nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất” 3. Ở các nước tư bản đang tồn tại nhiều đảng phái chính trị với tên gọi khác nhau, song thực chất các đảng chính trị cầm quyền vẫn chỉ thuộc đảng của giai cấp tư sản. Các chính đảng này không bảo vệ cho quyền lợi, không phản ánh nguyện vọng của đại đa số quần chúng nhân dân lao động. “Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” chỉ là khẩu hiệu, là luận điệu tuyên truyền có dụng ý chính trị mị dân của họ.

Cổ xúy luận điệu “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” thực chất là âm mưu của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng tiếp tục thu được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định vững chắc. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng có đánh giá: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay 4. Chính vì lẽ đó, để chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị, phản động, thực dụng đãđang tìm mọi cách tấn công, chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam.

Mục tiêu và bản chất của chúng là nhằm làm mất vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là vai trò lãnh đạo tuyệt đối trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang nhân dân, gây chia rẽ nội bộ từ trong Đảng, chia rẽ và phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây bất ổn về chính trị - xã hội, tạo điều kiện, tiền đề cho việc ra đời và “công khai hóa”, “hợp pháp hóa” các tư tưởng đối lập, hình thành và phát triển các lực lượng, tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, giành giật quần chúng và từ đó cạnh tranh vai trò lãnh đạo của Đảng, tiến tới thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong đời sống chính trị.

Đảng Cộng sản Việt Nam hơn bao giờ hết, luôn nghiêm khắc và có trách nhiệm với sứ mệnh lãnh đạo cao cả của mình, gắn vận mệnh của mình với vận mệnh của quốc gia dân tộc. Đảng không bảo thủ, độc đoán, chuyên quyền, xa rời những nguyên lý và nguyên tắc cơ bản trong xây dựng tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của mình. Kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, tập thể lãnh đạo gắn với cá nhân phụ trách, quan hệ gắn bó máu thịt với quần chúng nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và năng lực cầm quyền để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, Đảng ta là đảng cầm quyền, là hạt nhân chính trị, lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội ở Việt Nam, đó là tất yếu khách quan. Các luận điệu chống phá, xuyên tạc đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam là sai trái, phản động và không có cơ sở hiện thực. Dân tộc Việt Nam hiện nay và mai sau không muốn và không cần thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”; đồng thời, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phản bác các quan điểm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở nước ta.

Để đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” nói chung, luận điệu đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam nói riêng của các thế lực thù địch, cán bộ, chiến sĩ quân đội nói chung, Bộ đội Biên phòng nói riêng cần tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt những quan điểm, chủ trương của Đảng, nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Đồng thời, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng quân đội, Bộ đội Biên phòng nói riêng vững mạnh về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Theo đó, cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt  của Đảng đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân trong đó có Bộ đội Biên phòng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh 5, trên cơ sở đó xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, vững mạnh về mọi mặt trước hết là vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.

Hai là, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục định hướng tư tưởng, nâng cao nhận thức chính trị và tinh thần cảnh giác cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ trước âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch đặc biệt trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa; phát huy vai trò, sức mạnh tổng hợp của các lực lượng làm công tác tư tưởng, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ, tăng sức đề kháng, miễn dịch trước các thông tin xấu độc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ba là, phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị; vai trò đội ngũ cán bộ chính trị các cấp; vai trò của Ban chỉ đạo 35, Lực lượng 47 của các đơn vị trong Quân đội, Bộ đội Biên phòng; quan tâm, chăm lo, bồi dưỡng các lực lượng này làm xung kích, nòng cốt trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và trong xây dựng đơn vị vững mạnh về mọi mặt trước hết là vững mạnh chính trị.

Bốn là, làm tốt công tác sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa và trên không gian mạng; phản bác các quan điểm sai trái, lệch lạc, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội nói chung và Bộ đội Biên phòng nói riêng.

Tóm lại: Một thể chế chính trị hay một đảng phái chính trị ra đời phải xuất phát từ nhu cầu của thực tế xã hội, từ nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân ở quốc gia dân tộc đó. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh Đảng Cộng sản Việt Nam là đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam, ngoài lợi ích ấy, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Việt Nam không thực hiện “Đa nguyên đa đảng” không phải vì chúng ta mất dân chủ, bảo thủ như sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, mà đó là yêu cầu khách quan, vì sự ổn định và phát triển của đất nước. Để củng cố quyết tâm chính trị này, đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ quân đội nói chung, Bộ đội Biên phòng nói riêng phải không ngừng rèn luyện đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, phản động của các thế lực thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta, giữ vững ổn định và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa - con đường mà Bác Hồ, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn và mãi mãi đi theo.


                                                                                  Hoàng Trọng Thiết

Tài liệu tham khảo:

1,2. V.I.Lênin (1918), “Cách mạng vô sản và tên phản bội Cau‐xky”, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tập 37, tr. 311, 305

3. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 21.

4,5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập I, tr. 25, 160-161, 157-158.

Đọc tiếp »

Phát triển văn hóa Đảng trong không gian số

Chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong đời sống chính trị, văn hóa và xã hội. T...