Nhận diện và phòng chống thủ đoạn chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch trên không gian mạng

 

Trong những năm gần đây, ngoài những phương thức, thủ đoạn chiến tranh tâm lý sử dụng các phương tiện truyền thống như phát thanh, truyền hình, sách báo tạp chí, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn triệt để lợi dụng không gian mạng, nhất là các trang mạng xã hội để công khai chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội bằng nhiều thủ đoạn thâm độc, tinh vi và ngày càng công khai, trực diện hơn. Phương thức chủ yếu mà chúng sử dụng là tạo các nguồn thông tin thật, giả lẫn lộn, gây nhiễu dư luận, dẫn dắt nhận thức của quần chúng, cổ súy tư tưởng đối lập, kích động chống đối,... nhằm đẩy mạnh thực hiện âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” đối với nước ta. Trước tình hình đó, việc đấu tranh với các quan điểm sai trái, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trên môi trường không gian mạng là vô cùng cần thiết; được xác định là nhiệm vụ chính trị, nội dung quan trọng trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

Hiện nay, Việt Nam là một trong các quốc gia có tỷ lệ người dân sử dụng mạng xã hội cao trên thế giới và xu hướng đọc tin trên mạng xã hội ngày càng tăng. Đặc biệt, từ khi đại dịch Covid-19 diễn ra, việc sử dụng mạng xã hội đã gia tăng đột biến. Theo thống kê mới nhất của We are social (công ty chuyên phân tích mạng xã hội toàn cầu), đến đầu năm 2023, Việt Nam có 77,93 triệu người dùng Internet (chiếm 79,1% tổng dân số). Theo phân tích của Kepios, số lượng người dùng Internet tại Việt Nam đã tăng thêm 5,3 triệu (+7,3%) so với năm 2022. Thời gian sử dụng Internet trung bình hằng ngày (trong độ tuổi 16-64) là 6 giờ 23 phút. Trong đó, số người dùng mạng xã hội đạt 70 triệu, tương đương với 71% tổng dân số. Với sự cải tiến không ngừng về giao diện, kết nối, ứng dụng, khả năng tương tác của mạng xã hội, người dùng có thể thuận lợi, dễ dàng tiếp cận thông tin; thể hiện bản thân, giao lưu, gắn kết cộng đồng, chia sẻ tình cảm; khám phá và trải nghiệm cuộc sống… ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào. Mạng xã hội đã thực sự trở thành “món ăn tinh thần” của mọi người.

Tuy nhiên, thực tế đã chứng minh, mạng xã hội có tác động hai mặt đến đời sống xã hội của con người. Bên cạnh những tiện ích to lớn đem lại cho người dùng, mạng xã hội gây ra không ít những tác động tiêu cực, đặc biệt trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch, phản động đang lợi dụng triệt để mạng xã hội để tiến hành tuyên truyền thông tin xấu, độc nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Để có thể nhận diện và phòng chống thủ đoạn chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch trên không gian mạng cần tập trung làm rõ một số vấn đề sau.

1. Thuật ngữ “không gian mạng”

Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Thuật ngữ “Không gian mạng” hay “Không gian ảo” (Cyber Space) là viết tắt của mạng lưới toàn cầu của các cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin phụ thuộc lẫn nhau, mạng viễn thông và hệ thống xử lý máy tính. Là một trải nghiệm xã hội, các cá nhân có thể tương tác, trao đổi ý kiến, chia sẻ thông tin, cung cấp hỗ trợ xã hội, đạo đức kinh doanh, hành động trực tiếp, tạo ra phương tiện truyền thông nghệ thuật, chơi trò chơi hoặc tham gia vào các cuộc thảo luận chính trị. Theo Bộ thông tin và Truyền thông khẳng định trong Tiêu chuẩn Quốc gia chỉ rõ: Không gian mạng là một môi trường phức tạp, là tập hợp sự tương tác giữa con người, phần mềm và dịch vụ trên Internet với nhau, bằng các thiết bị công nghệ và mạng lưới kết nối với nó, không có bất cứ yếu tố vật lý nào. Luật An ninh mạng (Điểm 4, Điều 2, Chương I) ghi rõ: Không gian mạng là bước kết nối của cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm mạng viễn thông, mạng Internet, mạng máy tính, hệ thống thông tin, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin, cơ sở dữ liệu; là nơi con người thực hiện các hành vi xã hội không bị giới hạn bởi không gian, thời gian”.

Như vậy, không gian mạng được xây dựng dựa trên sự kết nối giữa người với người trên Internet.có tính lưu trữ, cung cấp thông tin, tính kết nối và chia sẻ mạnh mẽ, phá vỡ những ngăn cách về địa lý, ngôn ngữ, giới tính, quốc gia. Đồng thời, không gian mạng có khả năng lan rộng trong cộng đồng, thông qua sự tương tác của các thành viên trong chính cộng đồng đó; mọi thành viên trong không gian mạng cùng kết nối và mỗi người là một mắt xích để tạo nên một mạng lưới rộng lớn truyền tải thông tin.

2. Nhận diện một số thủ đoạn chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch trên không gian mạng

Để thực hiện âm mưu chống phá trên mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động thường sử dụng một số thủ đoạn sau:

Thứ nhất, không ngừng tung ra những luận điệu phản động, cố tình xuyên tạc nền tảng tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.

Tung tin “hỏa mù” với hàng nghìn bài viết, phỏng vấn, thư ngỏ…, bằng các luận điệu vu cáo, bình luận thâm độc, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng. Ca ngợi thành tựu, bước tiến của chủ nghĩa tư bản một cách thiếu khách quan, khoa học, duy ý chí, lý tưởng hóa, đề cao, sức mạnh kinh tế, quân sự, khoa học - công nghệ cũng như cổ xúy cho việc theo đuổi các giá trị văn hóa, dân chủ của phương Tây, chủ nghĩa tư bản. Theo thống kê của Bộ Tư lệnh 86, hiện nay, trung bình một ngày, các tổ chức và đối tượng phản động trong, ngoài nước thường xuyên đăng tải khoảng 500 bài viết trên mạng xã hội, thu hút hơn 5.100 lượt bình luận, hơn 7.200 lượt chia sẻ cùng gần 15.000 lượt bày tỏ cảm xúc. Các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để phát tán thông tin xấu độc, chiếm hơn 90% tổng các bài viết và thu hút nhiều lượt tương tác với tỉ lệ cao.

Thứ hai, làm trầm trọng hóa những khó khăn, yếu kém, sai lầm trong phát triển của đất nước, trên cơ sở đó phủ nhận những thành tựu, cố gắng và nỗ lực trong công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế của toàn Đảng, toàn dân ta.

Cụ thể, công kích, đả phá, phủ nhận thành tựu công cuộc đổi mới, những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, bộ, ngành, địa phương trong phát triển và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chúng tận dụng tối đa những khó khăn, hạn chế, khuyết điểm trong công tác lãnh đạo, quản lý điều hành của chính quyền địa phương, cơ quan, đơn vị một số nơi để quy kết cho đây là bản chất của chế độ. Từ đó, chúng đòi Đảng tự nguyện rời bỏ vai trò lãnh đạo. Việc xuyên tạc, nói xấu, bôi nhọ các đồng chí cán bộ lãnh đạo nhằm tạo dư luận, hoài nghi về mâu thuẫn nội bộ trong cơ quan Đảng và Nhà nước, làm giảm lòng tin, gây tâm lý hoang mang cho các bộ phân người dân. Từ đó, chúng tiếp tục xuyên tạc ý nghĩa của công tác phòng, chống tham nhũng mà Đảng và Nhà nước và Nhân dân đang quyết tâm thực hiện. Đặc biệt, từ những sai lầm, tiêu cực trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện của một số bộ phận cán bộ của Đảng, chính quyền trong một số vụ việc cụ thể được đưa ra ánh sáng, chúng quy chụp về cả đội ngũ cán bộ Đảng, Nhà nước ta với những luận điệu rằng: Đây là kết quả của việc thanh trừng giữa các nhóm lợi ích tồn tại trong Đảng, chính quyền... Nhằm gây mất trật tự an toàn xã hội, gây hoang mang, hoài nghi về tính dân chủ, minh bạch của đại hội đảng, kết quả bầu cử các cấp.

 Thứ ba, các sự kiện chính trị, văn hóa, kinh tế, đối ngoại và cả lịch sử dân tộc truyền thống cách mạng được các thế lực thù địch triệt để sử dụng như những cơ hội, điều kiện để dàn dựng, xuyên tạc những thông tin thất thiệt, làm phức tạp hóa tình hình, gây hoang mang, hoài nghi trong dư luận, nhân dân.

Soạn thảo, tán phát trên mạng nhiều tài liệu tuyên truyền xuyên tạc Nghị quyết, các Hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương, các Kỳ họp Quốc hội, kích động, chia rẽ nội bộ, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ bằng các chiến dịch truyền thông rầm rộ trên không gian mạng. Lợi dụng thời gian diễn ra ngày lễ lớn của dân tộc, như: Ngày Giải phóng miên Nam, thống nhất đất nước 30-4, Cách mạng Tháng Tám thành công 19-8, ngày Quốc khánh 02-9... để đăng bài xuyên tạc, bôi nhọ, công kích...

Thứ tư, tích cực sử dụng những vấn đề tôn giáo nhạy cảm dưới chiêu bài “dân chủ, nhân quyền”, hòng khiến cho tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội bị ảnh hưởng.

Vấn đề tôn giáo - dân tộc, dân chủ - nhân quyền được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng để  lan truyên thông tin xuyên tạc, kích động trên không gian mạng. Qua các kênh thông tin trên không gian mạng, chúng phát tán các thông tin xuyên tạc bóp méo các chính sách của Đảng, Nhà nước; từ đó, kêu gọi, lôi kéo, kích động người dân tụ tập biểu tình và có các hành vi vi phạm pháp luật. Tập trung vào một số trang, nhóm phản động thường xuyên phát tán các video, hình ảnh, bài viết trên mạng xã hội Facebook, như: Thanh niên công giáo, Nhà thờ Thái Hà, Công giáo Đạo và Đời, Nguyễn Ngọc Nam Phong, Hội anh em dân chủ... Đặc biệt, về vấn đề tôn giáo, chúng lợi dụng các buổi livestream để tiến hành giao giảng các thông tin xuyên tạc với các chủ đề chủ nghĩa cộng sản, thảm họa của nhân loại, như: Cộng sản đánh đập các tù nhân lương tâm, kêu gọi thả tự do cho các tù nhân lương tâm, các đối tượng tham gia quấy rối trong các cuộc biểu tình. Chúng kích động hàng loạt các giáo dân thuộc các giáo xứ, như: Vạn Thành, Mỹ Khánh, Cẩm Trường, Vĩnh Hòa, Song Ngọc thuộc các tỉnh miền Trung biểu tình dưới danh nghĩa thắp nến cầu nguyện phản đối chính quyền đàn áp các cuộc biểu tình, bắt bớ, đánh đập các tù nhân lương tâm.

Thứ năm, núp dưới danh nghĩa “xã hội dân sự”, các “hội”, “nhóm” phản động để đẩy mạnh hoạt động chống phá.

Chúng tập trung tài trợ các chương trình, dự án liên quan đến sức khỏe cộng đồng, người yếu thế nhằm thúc đẩy hình thành các hội, nhóm hoạt động bất hợp pháp. Nhận tiền tài trợ của cá nhân, tổ chức bên ngoài để tiến hành các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ trên Internet, mạng xã hội. Vận động ký gửi “Thư ngỏ” kêu gọi Facebook xóa bỏ các mạng lưới “tài khoản độc hại” ở Việt Nam, công kích cho rằng chính quyền Việt Nam thành lập các mạng lưới báo cáo với hàng triệu tài khoản giả mạo để tấn công tài khoản của các đối tượng “hoạt động xã hội dân sự”.

3. Nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng

Để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng cho nhân dân, cần thực hiện tốt một số biện pháp sau:

Một là, Đảng, Nhà nước chỉ đạo các ban ngành, đoàn thể đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức cho người dân và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ internet nói chung, mạng xã hội nói riêng nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và ý thức chấp hành các quy định của pháp luật khi cung cấp và sử dụng không gian mạng.

Hai là, Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với các ban, ngành liên quan trong việc xây dựng và triển khai Đề án huy động cán bộ, đảng viên tham gia đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái của các thế lực thù địch trên không gian mạng. Cần xác định việc đấu tranh, phản bác là nhiệm vụ chính trị của mỗi đảng viên, huy động được sự tham gia đông đảo của toàn bộ hệ thống chính trị và quần chúng nhân dân, từng bước xây dựng được thế trận lòng dân trên không gian mạng nhằm đấu tranh có hiệu quả với hoạt động chống phá, “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Ba là, nâng cao hiệu quả phối hợp trong công tác quản lý nhà nước đối với không gian mạng. Tập trung hoàn thiện, thể chế hóa các văn bản quy phạm pháp luật liên quan. Trước mắt, tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả Luật an toàn thông tin mạng và Luật an ninh mạng vừa được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 5; xây dựng các giải pháp kỹ thuật mang tính chủ động, kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước trên cơ sở các dự báo khoa học về sự phát triển của không gian mạng và phương châm khuyến khích mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của không gian mạng.

Bốn là, đẩy mạnh công tác đấu tranh với các đối tượng lợi dụng không gian mạng xâm phạm an ninh trật tự; kịp thời phát hiện, tấn công, vô hiệu hóa các trang mạng xã hội của các đối tượng có hành vi tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước. Tăng cường đấu tranh với các loại tội phạm mạng, tội phạm sử dụng công nghệ cao, lợi dụng không gian mạng để hoạt động. Phối hợp các cơ quan tuyên giáo, ngoại giao, thông tin, truyền thông và các cơ quan khác trong việc thông tin tuyên truyền về các vụ việc vi phạm của các đối tượng để kịp thời định hướng dư luận, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân, đấu tranh làm thất bại các âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tự do ngôn luận để can thiệp vào công việc nội bộ của ta.

Nghiên cứu, vận dụng linh hoạt các giải pháp trên để định hướng tư tưởng cho mọi người dân nhận rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch, nhất là trên không gian mạng. Qua đó, tạo sức đề kháng, “hệ miễn dịch” trong mỗi người dân, góp phần tạo sự thống nhất cao về chính trị, tư tưởng, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong mỗi cơ quan, đơn vị và toàn dân/./

                                                    Hoàng Thị Mỹ Giảng viên Khoa KHCB

Đọc tiếp »

Giá trị lịch sử, ý nghĩa thời đại của bản tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 - khai sinh ra nhà nước việt nam dân chủ cộng hòa nay là nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam

 


Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập vào ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), tuyên bố với quốc dân và thế giới: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập”. Người trịnh trọng tuyên bố trước toàn thế giới về sự ra đời của một Nhà nước mới: Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Thời gian đã qua đi hơn 2/3 thế kỷ, nhiều chi tiết nội dung trong Tuyên ngôn đã được nghiên cứu, làm sáng tỏ trên nhiều lĩnh vực. Chúng ta càng thấy rõ những tư tưởng vĩ đại, tầm nhìn chiến lược của Người thể hiện trong Tuyên ngôn. Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 là văn bản pháp lý đặt cơ sở cho việc khẳng định thiết lập nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, với mục tiêu Độc lập - Tự do - Hạnh phúc, khơi nguồn sáng tạo và soi sáng con đường cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Hơn thế nữa, Tuyên ngôn độc lập còn đóng góp cho sự nghiệp giải phóng nhân loại, là sự mở đầu kỷ nguyên độc lập, tự do của các dân tộc thuộc địa, bị áp bức trên toàn thế giới.

Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử, một văn bản pháp lý quan trọng bậc nhất của nước ta. Với hệ thống lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, giọng văn hùng hồn, một cơ sở pháp lý vững chắc khẳng định mạnh mẽ chủ quyền quốc gia của dân tộc Việt Nam trước toàn thế giới, mở ra thời kỳ mới của dân tộc ta trên con đường phát triển.

Nội dung của Tuyên ngôn Độc lập đã được các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực nghiên cứu, làm rõ, nhưng hiện vẫn còn những luận điệu xuyên tạc, đặt câu hỏi với dụng ý xấu: Vì sao Chủ tịch Hồ Chí Minh lại mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập bằng những câu trích dẫn từ hai bản Tuyên ngôn của nước Mỹ và Pháp?

Điều này cần phải hiểu và lý giải rõ:

Một là, Chủ tịch Hồ Chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới như UNESCO đã tôn vinh, Người nhắc đến hai văn kiện lịch sử ấy với lòng trân trọng đặc biệt của một trí tuệ lớn đối với sự phát triển của văn minh nhân loại mà Cách mạng giành độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Cách mạng tư sản Pháp 1789 đã giành được. Đây là những thành quả văn hoá của nhân loại, là dấu mốc lớn của lịch sử loài người, trong đó đã khẳng định những quyền cơ bản của con người. Đó là "quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” … “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”… Đây là những tư tưởng rất tiến bộ đã được khẳng định trong hai bản Tuyên ngôn của nước Mỹ và nước Pháp. Dẫn dắt từ sự kiện này để Chủ tịch Hồ Chí Minh đi đến kết luận nhằm tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của quốc tế đối với cuộc cách mạng của nhân dân Việt Nam.

Hai là, trên nền tảng và tiền đề đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng, chính cuộc cách mạng mà dân tộc Việt Nam đã giành được vào Tháng Tám năm 1945 là bước đi tiếp trong sự phát triển của nhân loại, đồng thời cũng là cột mốc cho sự phát triển của lịch sử giải phóng con người thuộc các dân tộc bị áp bức, bóc lột. Đó là mẫu hình đầu tiên và cũng là ngọn cờ đầu của cuộc đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa nhỏ yếu thoát khỏi ách đô hộ, thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ và mới mà cách mạng Việt Nam do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã giương cao.

Ba là, đi sâu nghiên cứu hai bản Tuyên ngôn của nước Mỹ và nước Pháp, chúng ta thấy cả hai bản Tuyên ngôn đã đề cao và khẳng định quyền con người: “Mọi người đều sinh ra bình đẳng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Chính sự suy rộng ra đã thể hiện một tư tưởng lớn, một luận điểm quan trọng thể hiện sự vượt trội của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được trình bày trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam. Đây là một nội dung rất căn bản, có ý nghĩa không chỉ đối với dân tộc ta mà còn có ý nghĩa sâu sắc đối với thời đại. Từ đó tới nay, các nước trên thế giới đã và đang liên tục đấu tranh để giành độc lập, giành quyền dân tộc cơ bản của mình.

Như vậy, có thể thấy, với vốn tiếng Anh cùng với thiên tài trí tuệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dịch và trích dẫn Tuyên ngôn của nước Mỹ và nước Pháp nhưng có sự điều chỉnh và phát triển để thể hiện quan điểm riêng của mình về quyền con người và trên thực tế, tinh thần ấy đã được thể hiện và khẳng định trong tất cả các bản Hiến pháp của Việt Nam từ trước đến nay. Đó chính là sự đóng góp về lý luận và thực tiễn về quyền con người, đem lại những tiến bộ và phù hợp với sự phát triển của nhân loại.

80 năm sau ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, đặc biệt là sau gần 40 năm đất nước đổi mới, mỗi người dân Việt Nam càng thấy thấm thía hơn giá trị của độc lập, tự do; ý nghĩa lớn lao và sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người và quyền của mỗi dân tộc. Đó cũng là mục tiêu, lý tưởng mà mọi dân tộc, quốc gia trên thế giới đều hướng đến. Với tinh thần đó mà cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong suốt 80 năm qua. Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã và đang tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới toàn diện vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, tình hình thế giới và khu vực còn nhiều diễn biến rất phức tạp, khó lường, quan hệ quốc tế vừa có những thuận lợi vừa có nhiều thách thức hiện nay, trên cơ sở xác định mục tiêu tối thượng là bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ chủ quyền biển, đảo gắn liền với bảo đảm quyền con người, cuộc sống hòa bình, ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiếp tục kiên trì đường lối, chủ trương độc lập tự chủ, hòa bình, hữu nghị với các nước để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

Thiếu tá Đàm Đình Tùng, Giảng viên Khoa CTĐ, CTCT

 

Đọc tiếp »

Nhận diện và đập tan luận điệu, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm “xuyên tạc, bẻ cong lịch sử”

 


Đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2025-2030 sẽ được tổ chức trong năm 2025, đây là sự kiện chính trị có ý nghĩa trọng đại của đất nước, là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Chuẩn bị tốt về mọi mặt là yếu tố, tiền đề hết sức quan trọng để tổ chức thành công đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng. Trước thềm đại hội Đảng các cấp, sự chống phá của các thế lực ngày càng quyết liệt, đặc biệt chúng tăng cường thực hiện chiến lược “Diễn biến hoà bình” trong tình hình mới.

Chiến lược “diễn biến hòa bình” là chiến lược tổng hợp của chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ) và các thế lực thù địch dùng biện pháp “phi vũ trang” là chủ yếu để chống phá, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN). Thực ra, các biện pháp “diễn biến hòa bình” bằng chiến tranh tâm lý, chiến tranh gián điệp, bóp nghẹt về kinh tế... làm suy yếu, tan rã đối phương nhằm mục tiêu “không đánh mà thắng”, đã được các nhà chính trị, quân sự nhiều nước thực hiện từ lâu. Nhưng đó thường là những biện pháp hỗ trợ, bổ sung cho các hành động tiến công quân sự.

Thủ đoạn để thực hiện mục tiêu trên rất đa dạng, vừa trắng trợn, vừa tinh vi, vừa công khai, vừa lén lút. CNĐQ và các thế lực thù địch thường dùng các thủ đoạn như xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ Đảng Cộng sản, bôi nhọ CNXH, tuyên truyền tư tưởng tư sản và tô hồng, ca tụng xã hội tư sản hiện đại; bao vây, cô lập về kinh tế; đồng thời, sử dụng viện trợ để gây sức ép, thao túng, làm chuyển hóa nền kinh tế XHCN theo con đường tư bản chủ nghĩa; dùng các chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền, các vấn đề dân tộc, tôn giáo để kích động, gây mâu thuẫn nội bộ, lôi kéo, mua chuộc các phần tử thoái hóa, biến chất, bất mãn, bất đồng quan điểm để chống phá CNXH, xây dựng và cài cắm lực lượng chống CNXH từ trong lòng các nước XHCN... Những thủ đoạn trên của CNĐQ và các thế lực thù địch tác động toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; phối hợp tác động cả bên ngoài và bên trong, cả tổ chức và con người, với tất cả các tầng lớp, thành phần xã hội trong các nước XHCN để gây nên “tự diễn biến” từ từ, thầm lặng, làm mục ruỗng chế độ XHCN từ bên trong, dẫn tới “tự chuyển hóa”, làm sụp đổ chế độ XHCN.

Hiện nay, thế giới đang chứng kiến nhiều sự thay đổi sâu sắc. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Các nước điều chỉnh chiến lược và phương thức phát triển nhằm thích ứng với tình hình mới. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục diễn biến phức tạp, dưới nhiều hình thức mới, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế. Hợp tác, cạnh tranh, sự va chạm, cọ xát, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, các trung tâm quyền lực ngày càng gia tăng. Trong cách thức tiến hành, các nước lớn coi trọng sử dụng “quyền lực thông minh”, kết hợp giữa “quyền lực cứng” (chỉ huy, cưỡng bức, định đoạt dựa trên sức mạnh kinh tế, quân sự) với “quyền lực mềm” (khả năng thuyết phục, thu hút, tạo ảnh hưởng dựa trên sự hấp dẫn của giá trị) một cách uyển chuyển, khôn khéo. Trong bối cảnh quốc tế và các khu vực diễn biến phức tạp, khôn lường đó, để thực hiện mưu đồ của mình, các thế lực thù địch tiếp tục điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” dưới một bộ mặt mới, ngày càng bộc lộ rõ sự tinh vi, xảo quyệt và vô cùng thâm độc. Nhằm chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch không từ bỏ mưu đồ đen tối nào, trong đó, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc là thủ đoạn rất nguy hiểm. Và xuyên tạc, bóp méo lịch sử đang là một hình thức mới nhằm nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc ấy.

Trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, đại đoàn kết đã trở thành di sản vô giá, truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta. Những thành quả về thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã góp phần làm thay đổi nhận thức, cách nhìn về bức tranh tổng thể khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, hội nhập quốc tế ngày nay. Đó là những chướng ngại lớn trên con đường chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch. Bởi lẽ, họ đã thấy được sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nên để chống phá Đảng, cách mạng Việt Nam thì phải phá vỡ sức mạnh này. Trong lịch sử của dân tộc, chúng ta đã chứng kiến thủ đoạn thâm độc trong chính sách “chia để trị” của kẻ thù xâm lược. Ngày nay, các thế lực thù địch tìm mọi cách chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc bằng những thủ đoạn, chiêu bài khác nhau như: Chúng triệt để lợi dụng những vấn đề xã hội bức xúc, những khó khăn trong đời sống nhân dân để kích động chống đối, hình thành những điểm nóng gây chia rẽ từ bên trong. Chúng lợi dụng hội nhập quốc tế để xâm lăng và làm “biến dạng” các giá trị văn hóa truyền thống; tạo dựng “ngọn cờ”, lợi dụng các vấn đề dân chủ, dân tộc, tôn giáo, nhân quyền, các vấn đề lịch sử... để kích động, chia rẽ đoàn kết giữa các tầng lớp nhân dân. Trong đó vấn đề lịch sử là môt nội dung quan trọng thế lực thù địch đang thường xuyên tập trung chống phá với mục đích nhằm bóp méo sự thật, phủ nhận vai trò, sự lãnh đạo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, công sức thậm chí là xương máu của nhân dân trong chặng đường đấu tranh gian khổ dành lại độc lập và tự do cho dân tộc.

Xuyên tạc, phủ nhận lịch sử, thực chất đó là trò hề lặp lại của những kẻ cơ hội chính trị, với hy vọng hão huyền rằng: nói nhiều sẽ quen tai, rồi chuyển sai thành đúng. Nhưng, lịch sử chỉ có một, sự thật cũng chỉ có một, các sự kiện lịch sử trọng đại không thể vì những lời lẽ xuyên tạc, phủ nhận của một số cá nhân mà mất đi giá trị đích thực của nó.Và sự thật không ai có thể phủ nhận là, cứ mỗi dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tất cả người dân đất Việt đều tự hào với hai tiếng Việt Nam, đều xúc động rưng rưng khi giai điệu hùng hồn của bản Quốc ca vang lên dưới cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới, bởi đất nước thống nhất giúp toàn dân tộc không phải chịu cảnh ly tán, khổ đau do cùng dòng tộc, thân thiết với nhau mà phải chia ly, cách biệt. Chắc chắn cũng chẳng luận điệu nào có thể làm lu mờ chân lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi".

Đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc lịch sử Đảng không những là bảo vệ nền tảng tư tưởng, thành quả cách mạng, tổ chức và cán bộ, đảng viên của Đảng, mà còn là bảo vệ thanh danh, uy tín của Đảng đối với nhân dân và củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, chế độ. Nhận thức và thông tin chính xác, khoa học và biện chứng về lịch sử nói chung và lịch sử Đảng nói riêng chính là cách hiệu quả nhất để đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc như vậy.Để làm được điều này, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thanh niên, quân nhân trong Quân đội cần có nhận thức đúng đắn về lịch sử Đảng để “tự miễn dịch” và nâng cao cảnh giác, tích cực đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc. Hệ thống các tổ chức Đảng, tổ chức quần chúng của các đơn vị cần trang bị một số kỹ năng cần thiết cho cán bộ, chiến sĩ, lồng ghép vào các buổi sinh hoạt thường kỳ, tổ chức nhiều câu lạc bộ, đội nhóm; các cuộc thi tìm hiểu, diễn thuyết, kể chuyện về tấm gương cán bộ, đảng viên chiến đấu, hy sinh anh dũng, bị tù đày, tìm cách vượt ngục, phong thái hiên ngang khi ra pháp trường. Đặc biệt coi trọng đấu tranh trên không gian mạng với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, hấp dẫn, hiệu quả: bài viết, thơ văn, chế nhạc, video clip, tranh ảnh, bình luận, chia sẻ thông tin; tranh thủ những người có ảnh hưởng lớn với cư dân mạng để thông qua họ đưa tin về cái tốt, phản đối cái xấu.

Lãnh tụ Hồ Chí Minh căn dặn: “Dân ta phải biết sử ta. Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta”. Lời dạy đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng nhắc nhở chúng ta phải nâng cao trách nhiệm bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ, bảo vệ “pho lịch sử bằng vàng” của Đảng cũng là bảo vệ nền tảng tư tưởng, vững tin vào thắng lợi cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo, qua đó góp phần kiến tạo, củng cố, bồi đắp niềm tin cho nhân dân, tạo sự đồng thuận, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, động viên các tầng lớp nhân dân tự nguyện, tự tin và tự hào đi theo lý tưởng, mục tiêu mà Đảng ta đã lựa chọn nhằm hướng tới tổ chức thành công Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XIV./.

 

Trần Tố Uyên

Giảng viên Khoa CTĐ, CTCT

Đọc tiếp »

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

 Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của Đảng ta trong mọi giai đoạn cách mạng. Là người sáng lập, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực trong đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch nhằm giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng. 


Theo Người, đây là công việc đặc biệt hệ trọng bởi vì nó là mầm mống dẫn đến những khuyết điểm, sai lầm về đường lối lãnh đạo của Đảng, làm xói mòn niềm tin của nhân dân với Đảng. Từ thực tiễn hoạt động cách mạng sôi nổi của Người, đã để lại những tư tưởng quý báu, những bài học kinh nghiệm phong phú góp phần giữ vững và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng ta trong giai đoạn cách mạng mới.

Quán triệt những chỉ dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã xác định rõ quan điểm, bảo vệ nn tảng lý luận của Đảng là trách nhiệm của toàn Đảng, của cả hệ thống chính trị, là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của chế độ. Nghị quyết 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” tiếp tục thể hiện quyết tâm của cả hệ thống chính trị trong nhiệm vụ lịch sử trọng đại này. Nghị quyết xác định rõ hai hoạt động cơ bản trong cuộc đấu tranh này là bảo vệ và đấu tranh, phù hợp với phương châm “xây” và “chống” trong công tác tư tưởng. Trong đó, bảo vệ nền tảng tư tưởng là vấn đề quan trọng hàng đầu. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, chúng ta cần tập trung thực hiện tốt các biện pháp sau.

Thứ nhất, đẩy mạnh nghiên cứu, bổ sung, phát triển, hoàn thiện chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới và phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Tiếp tục khẳng định và cụ thể hoá những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các giá trị bền vững phù hợp với thực tiễn của Việt Nam; chỉ rõ những vấn đề cần bổ sung, phát triển. Tiếp tục nghiên cứu có hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, làm rõ sự bổ sung, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin của Hồ Chí Minh…

Thứ hai, nâng cao hiệu quả tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm cho trong Đảng và toàn dân “ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy”.

Theo đó, cần đổi mới mạnh mẽ nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền giáo dục theo hướng nâng cao tính hấp, sinh động, thiết thực làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự giữ vai trò chủ đạo trong nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội.

Thứ ba, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch, nhất là trên không gian mạng internet.

Vấn đề cốt yếu nhất là quán triệt và thực hiện nghiêm Luật an ninh mạng được ban hành năm 2018 tạo hành lang pháp lý để ngăn chặn, loại bỏ các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, cần đẩy mạnh chiếm lĩnh trận địa thông tin, tư tưởng trên không gian mạng. Theo đó, cần lấy “xây” để “chống”, lấy thông tin chính thống đẩy lùi thông tin xấu, độc; phát hiện, cổ vũ cái tốt, nhân rộng các điển hình, mô hình vì nước, vì dân, vì cộng đồng, đề cao lợi ích chung, nghĩa đồng bào, tinh thần tương thân tương ái... Đồng thời, đấu tranh mạnh mẽ để lên án, loại bỏ cái xấu, điều lệch lạc; từng bước thiết lập và nâng cao hiệu quả hoạt động của các trang mạng xã hội chính thống. Phát huy những tiện ích của internet, mạng xã hội để internet, mạng xã hội trở thành “cánh tay nối dài” của các cơ quan làm công tác tư tưởng, báo chí, truyền thông.

Thứ tư, tăng cường đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Chú trọng tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng. Kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Tiếp tục tăng cường và làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các đảng viên có dấu hiệu vi phạm.

Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng, là công việc tự giác thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp, của từng cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu. Bằng những hành động thiết thực “nói đi đôi với làm”, vận dụng đi đôi với phát triển và bảo vệ giá trị tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không chỉ thể hiện thái độ của người cộng sản chân chính mà còn nêu tấm gương sáng để mỗi đảng viên học tập và làm theo./.

Trần Tố Uyên, Khoa CTĐ, CTCT, HVBP

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Chính trị khóa XII (2018), Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội.

3. Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

4. Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb CTQG, H.2011.

Đọc tiếp »

Phát triển văn hóa Đảng trong không gian số

Chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong đời sống chính trị, văn hóa và xã hội. T...