Nhận diện và đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

 

Đảng, Nhà nước ta luôn xác định văn hóa là hồn cốt của dân tộc, là mục tiêu, là động lực cho sự phát triển bền vững của đất nước. Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc với nội dung cốt lõi là độc lập, dân tộc và chủ nghĩa xã hội; chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội, kế thừa những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc đồng thời tiếp thu có chọn lọc những thành tựu, tinh hoa văn hóa của nhân loại, phấn đấu xây dựng một xã hội văn minh, lành mạnh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mỹ ngày càng cao. Trong đó bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc là nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Tuy nhiên, trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, bên cạnh việc giao lưu với các nền văn hóa tiên tiến, khoa học thì một số luồng văn hóa xấu độc cũng từng ngày trực chờ thẩm lậu vào các cơ quan, đơn vị. Lợi dụng sự phát triển khoa học công nghệ các thế lực thù địch triệt để lợi dụng lĩnh vực văn hóa để chống phá Đảng và Nhà nước, nhằm gây chia rẽ, suy giảm niềm tin, hòng đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên và Nhân dân tiến tới xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, nhận diện và đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là rất cần thiết.

Trong những năm qua, hoạt động xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động trên lĩnh vực văn hóa thể hiện rất rõ trên các phương diện như: Xuyên tạc, bôi nhọ, đả kích bản sắc văn hóa dân tộc; đặc biệt là nền văn hóa, văn nghệ cách mạng. Chúng đẩy mạnh tuyên truyền, truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy, lối sống thực dụng, vụ lợi cá nhân, sùng bái đồng tiền. Chúng kích động, lôi kéo, mua chuộc số trí thức, văn nghệ sĩ có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội, hữu khuynh, cực đoan, sa sút về phẩm chất đạo đức. Chúng tuyên truyền, xuyên tạc và tung ra những luận điệu sai trái, mập mờ về bản chất của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa; xuyên tạc quan điểm của Đảng về vấn đề văn hóa. Tích cực lôi kéo thế hệ trẻ đi theo con đường hưởng thụ, thực dụng, quên quá khứ, phủ nhận những giá trị văn hóa mang đậm bản sắc của dân tộc, bóp méo lịch sử, bàng quan chính trị, xa rời lý tưởng cách mạng, thờ ơ, vô cảm với vận mệnh của đất nước. Thông qua các hoạt động giao lưu, hợp tác về văn hóa, giáo dục, khoa học, nghệ thuật để thâm nhập, phá hoại nước ta. Chúng tiến hành tung tin giả, tin sai sự thật làm nhiễu loạn thông tin để đánh lừa dư luận bằng những chiêu bài “chống tham nhũng”, “bảo vệ tự do, dân chủ, nhân quyền”... để từ đó phá hoại nền văn hóa Việt Nam. Do đó, nhận diện, đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực văn hóa, tuyệt đối không lơ là, chủ quan, mất cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Để thực hiện được yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong tình hình mới, tiếp tục xây dựng, giữ gìn và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam, tạo động lực thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

Một là, tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên (đặc biệt là cán bộ quản lý và cán bộ công tác trong lĩnh vực văn hóa) và toàn dân về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của văn hóa, hệ giá trị văn hóa, thúc đẩy phát triển đất nước; từ đó có ý thức bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Việt Nam trong mỗi công dân, tạo nguồn lực nội sinh phát triển đất nước. Phát huy sức mạnh tổng hợp cả của hệ thống chính trị trong việc phát huy giá trị văn hóa, đề cao vai trò chủ thể của Nhân dân trong sáng tạo và hưởng thụ văn hóa. Đấu tranh, ngăn chặn kịp thời các hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch.

Hai là, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa. Gắn kết văn hóa với chính trị, với kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của các cấp, các ngành và địa phương; lồng ghép hoạt động bảo tồn và phát huy hệ giá trị văn hóa trong triển khai chiến lược phát triển văn hóa và du lịch Việt Nam. Nâng cao hiệu quả công tác quản lý lễ hội, hiệu qủa hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Tiếp tục thực hiện hiệu quả cơ chế Nhà nước đặt hàng các doanh nghiệp hoặc tổ chức xã hội để đa dạng hóa và nâng cao các sản phẩm và dịch vụ văn hóa đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, xây dựng hệ giá trị văn hóa trong thời kỳ mới phù hợp với nhiệm vụ mà Đại hội XIII của Đảng đề ra.

Ba là, xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển từng ngành công nghiệp văn hóa với những lộ trình, mục tiêu ưu tiên và giải pháp phù hợp với điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó chú trọng phát triển các ngành công nghiệp văn hóa theo hướng chuyên nghiệp có tính chuyên môn hóa cao, có tính đồng bộ, khai thác mọi tiềm năng, lợi thế về tài nguyên văn hóa đa dạng để phát triển ngành công nghiệp văn hóa có sức cạnh tranh; nâng cao năng lực sản xuất và sáng tạo các giá trị văn hóa mới, tạo ra các sản phẩm văn hóa đa dạng, hàm lượng tri thức cao, mang đậm giá trị văn hóa dân tộc; đổi mới quảng bá thương hiệu sản phẩm, dịch vụ văn hóa, thương hiệu văn hóa Việt Nam ra thế giới.

Bốn là, nâng cao hiệu quả công tác xã hội hóa các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, tạo điều kiện thu hút và khuyến khích các tổ chức, hiệp hội, doanh nghiệp và nghệ sĩ tham gia vào các hoạt động văn hóa nhằm đa dạng hóa nguồn lực vật chất và sáng tạo cho phát triển văn hóa, quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới. Từng bước xây dựng cơ chế tự chịu trách nhiệm của các tổ chức văn hóa, nghệ thuật khi sáng tạo và sản xuất sản phẩm văn hóa. Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong việc xây dựng chiến lược quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án phát triển văn hóa. Tăng cường các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực và đẩy mạnh các hạt động hợp tác quốc tế về văn hóa.

Năm là, tiếp tục thực hiện hiệu quả các hoạt động tôn vinh, khen thưởng kịp thời gương “người tốt, việc tốt”; xây dựng những mô hình mang tính biểu tượng trong xã hội (cá nhân, tập thể, doanh nghiệp, đặc biệt là thế hệ trẻ) với những phẩm chất tiêu biểu, tạo dựng được lòng tin cho mọi người, có sức lan tỏa trong xã hội, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước. Thực hiện chế độ đãi ngộ các nghệ sĩ, nghệ nhân tiêu biểu có công bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp; khuyến khích đội ngũ văn, nghệ sĩ trong và ngoài nước phát huy tài năng và tâm huyết để sáng tạo, lan tỏa những giá trị văn hóa tốt đẹp trong xã hội.

Sáu là, nâng cao ý thức quốc gia, dân tộc và tôn trọng ý thức dân tộc - tộc người; bảo đảm sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, tăng cường vị thế, sức mạnh vị thế, sức mạnh tổng hợp quốc gia với phát huy lợi thế của tính đa dạng về địa lý, văn hóa, xã hội từng vùng, địa phương; tăng cường giáo dục tình cảm, niềm tin, lòng tự hào dân tộc, đi đôi với chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ địa phương là người dân tộc thiểu số và phát huy vai trò của già làng, trưởng bản; tăng cường vai trò quốc ngữ, đi đôi với tôn trọng, phát huy tiếng mẹ đẻ các tộc người; đẩy mạnh để giáo dục lan tỏa những giá trị có tính biểu tượng cao quý của quốc gia - dân tộc. Tôn trọng và phát huy các loại hình văn hóa đa dạng của từng cộng đồng dân tộc, địa phương, như: lễ hội, di tích lịch sử, văn hóa, trang phục, nghề truyền thống..., qua đó đảm bảo tính thống nhất trong đa dạng văn hóa Việt Nam, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

                         Đại tá NGUYỄN MẠNH TRƯỜNG Khoa Võ thuật - Đặc nhiệm

Đọc tiếp »

Nhận diện âm mưu và giải pháp đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc hướng vào công tác nhân sự trước kỳ Đại hội XIV của Đảng

 

Tóm tắt: Trước mỗi kỳ Đại hội Đảng các cấp, việc đưa những thông tin sai sự thật, nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín hướng vào đội ngũ cán bộ nhân sự luôn là vấn đề được các thế lực thù địch lợi dụng chống phá nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, tạo nghi hoặc trong cơ quan, đơn vị, giữa cán bộ đảng viên với quần chúng. Vì vậy, nhận diện được âm mưu và có giải pháp đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch là hoạt động rất cần thiết.


Công tác nhân sự của mỗi kỳ đại hội đóng vai trò rất quan trọng, quyết định đến sự thành công của đại hội và công tác lãnh đạo của nhiệm kỳ tiếp theo. Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ban Bí thư, Bộ Chính trị đã ban hành các quy định, hướng dẫn công tác chuẩn bị đại hội các cấp nhằm phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương, coi trọng chất lượng, hiệu quả, đề cao trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, trước hết là người đứng đầu. Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 16/4/2024 của Bộ Chính trị về Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng thể hiện sự nghiêm túc, thận trọng, khoa học trong công tác chuẩn bị nhân sự đại hội.

Căn cứ nội dung Chỉ thị số 35, cấp ủy đảng các cấp ban hành văn bản chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể công tác đại hội đại biểu đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng với mục tiêu thông qua đại hội Đảng bộ các cấp để tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên; củng cố tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc và niềm tin của nhân dân với Đảng; công tác chuẩn bị nhân sự nhiệm kỳ tới phải đảm bảo tính tổng thể, đồng bộ, liên thông, dân chủ, công tâm, khách quan, minh bạch; gắn kết chặt chẽ với công tác quy hoạch cán bộ và sắp xếp, bố trí nhân sự lãnh đạo các cơ quan, đơn vị nhiệm kỳ 2026-2031. Lựa chọn nhân sự đúng hướng dẫn, đúng quy định của Đảng là công việc hết sức quan trọng, góp phần vào thành công của đại hội, lựa chọn được những cán bộ đủ đức, đủ tài, cán bộ có tâm, có tầm để lãnh đạo đơn vị hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị được giao.

Nhận diện âm mưu chống phá, nhiễu loạn thông tin, chia rẽ nội bộ

Âm mưu chống phá, gây nhiễu loạn thông tin hướng vào công tác nhân sự bao gồm: Thứ nhất, lợi dụng quyền tự do ngôn luận để gửi đơn thư nặc danh, mạo danh nói xấu, bôi nhọ cán bộ, hướng vào những cán bộ nằm trong danh sách nhân sự của kỳ đại hội tới. Thứ hai, tuyên truyền trên các trang mạng xã hội những thông tin sai trái, bóp méo, xuyên tạc, kích động chia rẽ nội bộ. Thứ ba, lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm trong công việc, thậm chí cả đời tư cá nhân của cán bộ đó rồi quy kết thành bản chất của chế độ. Thứ tư, tung tin bịa đặt về cán bộ, đảng viên trong nguồn quy hoạch khiến dư luận thắc mắc, hoài nghi, đặt nhiều vấn đề trong cách hiểu đúng sai về công tác cán bộ. Trắng trợn hơn để hướng lái nội dung đại hội, nhất là công tác nhân sự, khi nghe những thông tin trái chiều trên mạng xã hội và trong quần chúng, một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không những có thái độ ủng hộ mà còn hùa theo, đưa ra những thông tin bình phẩm về trình độ, năng lực của cán bộ rồi đưa lên “bàn cân” so sánh. Khi cần hạ bệ một cán bộ, chúng tập trung dùng mọi thủ đoạn tuyên truyền, công kích gây mất uy tín. Đây là những thủ đoạn không mới nhưng với chiến thuật “mưa dầm thấm lâu” hay “nói nhiều rồi cũng sẽ nghe” để định hướng dự luận.

Những hành động tung tin xuyên tạc, bịa đặt, viết đơn thư nặc danh, mạo danh nói xấu cán bộ là hành động không trong sáng và gây ra những hậu quả khôn lường cho cá nhân, tổ chức. Tạo ra sự nghi kỵ, chia rẽ mất đoàn kết trong nội bộ, ảnh hưởng lớn đến vai trò và sức lãnh đạo của tổ chức đảng, sự nhiệt huyết của cán bộ, đảng viên. Đích cuối của các chiêu trò ấy mới nghe tưởng chỉ nhắm vào cá nhân cán bộ, đảng viên nhưng xét cho cùng vẫn là nhắm đánh vào vai trò lãnh đạo của Đảng, hạ thấp uy tín của cán bộ, đảng viên để chống phá Đảng, chống phá chế độ của Nhà nước ta.

Giải pháp đấu tranh phòng, chống luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch trước kỳ Đại hội XIVcủa Đảng

Một là, chủ động phòng ngừa, cảnh giác, đấu tranh, không để tác động, chi phối bởi những thông tin giả, thông tin không chính thức, xấu độc, có ý lợi dụng, bịa đặt, xuyên tạc, liên quan đến công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội Đảng các cấp. Trước hết, các cấp ủy đảng cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền để cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhận thức rõ quan điểm chỉ đạo, mục tiêu và nhiệm vụ giải pháp trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội Đảng các cấp theo tinh thần chỉ đạo của Bộ Chính trị tại Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 16/4/2024, các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương và cấp ủy đảng các cấp. Tuyên truyền để mọi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhận diện âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng việc sắp xếp, bố trí, xây dựng đội ngũ cán bộ để xuyên tạc, bịa đặt gây mất đoàn kết nội bộ, nghi ngờ không tin tưởng vào công tác nhân sự, ảnh hưởng lớn đến công tác chuẩn bị đại hội.

Hai là, cấp ủy đảng, cơ quan chức năng thực hiện tốt công tác cán bộ theo đúng quy trình, chủ động cung cấp thông tin trên các trang thông tin chính thống liên quan đến cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ. Triển khai thực hiện nghiêm túc quy định nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị theo Quy định số 08-Qđi/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương. Theo dõi, phát hiện, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân đưa thông tin sai lệch, không đúng sự thật về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên mạng Internet và các trang mạng xã hội. Đối với những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật về phát ngôn làm lộ bí mật của Đảng, Nhà nước, tung tin bịa đặt, xuyên tạc, tin thất thiệt liên quan đến công tác cán bộ, gây rối nội bộ thì căn cứ mức độ vi phạm để xem xét và thi hành kỷ luật các hình thức phù hợp, nếu nghiêm trọng có thể đề nghị truy tố để mang tính giáo dục, răn đe.

Ba là, việc chia sẻ thông tin trên các trang mạng xã hội là quyền của mỗi cá nhân; tuy nhiên, mỗi cán bộ, đảng viên khi đăng tải, bình luận, chia sẻ thông tin trên mạng xã hội cần tuân thủ theo các quy định, các chuẩn mực, có văn hóa, có trách nhiệm về những vấn đề đang được dự luận quan tâm, nhất là những vấn đề có liên quan đến công tác nhân sự, chuẩn bị nhân sự cho Đại hội Đảng các cấp. Cán bộ, đảng viên không đăng tải, bình luận, chia sẻ các thông tin trái với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tuyên truyền những thông tin sai sự thật, bịa đặt gây hoang mang trong cơ quan, đơn vị và trong quần chúng nhân dân, gây tổn hại uy tín của Đảng, Nhà nước hoặc uy tín của cá nhân các cơ quan, đơn vị.

Bốn là, cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu cơ quan, đơn vị cần chủ động nắm tình hình hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, bọn phản động, cơ hội chính trị; kịp thời có biện pháp đấu tranh phản bác các thông tin, luận điệu tuyên truyền nhằm mục đích chống phá nhắm vào công tác nhân sự chuẩn bị cho đại hội; vạch trần âm mưu, thủ đoạn nhằm “bôi nhọ” cán bộ, thổi phồng những hạn chế, khuyết điểm của cán bộ để kích động tâm lý bất mãn, làm ảnh hưởng đến uy tín, gây mất niềm tin của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Năm là, nêu cao tinh thần đấu tranh, phát huy trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên trong đấu tranh phản bác các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ, bịa đặt, nói xấu cán bộ; kiên quyết không để kẻ xấu, bọn cơ hội chính trị có điều kiện thực hiện các hành vi coi thường kỷ cương, pháp luật hoặc cố tình có những hành vi hạ thấp uy tín của cán bộ, đảng viên; nói xấu Đảng, Nhà nước; tạo dự luận và định hướng dư luận theo các hình thức trái chiều làm ảnh hưởng đến công tác nhân sự chuẩn bị cho Đại hội Đảng các cấp.

Nhận diện được những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị và thực hiện tốt một số giải pháp trên góp phần vào thành công Đại hội Đảng các cấp trong thời gian tới./.

         Đại tá, TS ĐOÀN NGỌC ĐÌNH

Phó Chủ nhiệm khoa/Khoa Quân sự chung

 

Đọc tiếp »

Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo trong đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng nước ta

 


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm vấn đề đoàn kết tôn giáo, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân. Theo Người, đoàn kết tôn giáo gồm đoàn kết giữa đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo với đồng bào không có tín ngưỡng tôn giáo; đoàn kết giữa đồng bào theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; và đoàn kết giữa đồng bào trong cùng tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệpcách mạng…

Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước của nhân dân ta đã chỉ rõ thực dân, đế quốc thường lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng. Chúng không chỉ có những âm mưu, thủ đoạn để chia rẽ nhân dân các vùng, miền, giữa thành thị và nông thôn, đồng bào kinh với đồng bào dân tộc, mà còn triệt để thực hiện chính sách chia rẽ đồng bào có tôn giáo với đồng bào không tôn giáo, giữa đồng bào các tôn giáo khác nhau, thậm chí gây chia rẽ đồng bào ngay trong nội bộ một tôn giáo. Vì thế, theo Hồ Chí Minh, đoàn kết tôn giáo là tập hợp, đoàn kết toàn dân tộc, tạo sức mạnh tổng hợp, thực hiện thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước, giải phóng con người thoát khỏi nô dịch, áp bức, bất công, đưa cả nước đi lên CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN.

Chính vì vậy, ngay sau khi nước nhà độc lập, trong Phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (3-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: “Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương, để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: TÍN NGƯỠNG TỰ DO và Lương Giáo đoàn kết”(1).

Người kêu gọi toàn dân, lương và giáo xóa bỏ mặc cảm, thực hiện tư tưởng: đoàn kết lương giáo, chủ trương “Lương giáo đoàn kết để kháng chiến kiến quốc thắng lợi”. Trong “Thư gửi Hội Phật tử Việt Nam”(8-1947), Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “Nay đồng bào ta đại đoàn kết, hy sinh của cải xương máu, kháng chiến đến cùng, để đánh tan thực dân phản động, để cứu quốc dân ra khỏi khổ nạn, để giữ quyền thống nhất và độc lập của Tổ quốc. Thế là chúng ta làm theo lòng đại từ đại bi của Đức Phật Thích Ca, kháng chiến để đưa giống nòi ra khỏi cái khổ ải nô lệ”(2).

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm sâu sắc đến lợi ích thiết thực của giáo dân cả phần đời và phần đạo. Theo Người, nước độc lập mà dân không được ấm no hạnh phúc thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì. Đồng bào các tôn giáo theo cách mạng mà Đảng, Nhà nước không quan tâm đến lợi ích thiết thân của đồng bào để “phần xác ấm no, phần hồn thong dong” thì không thể đoàn kết được. “Nếu giáo dục tốt thì giáo dân có thể đấu tranh... sống theo Đảng, chết theo Chúa.... Ta quan tâm đời sống quần chúng thì quần chúng sẽ theo ta. Ta được lòng dân thì không sợ gì cả...”(3). Từ đó, Người đặc biệt quan tâm đến mọi mặt đời sống sản xuất, ăn ở, học hành của đồng bào tôn giáo; nhắc nhở cán bộ chú ý phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của giáo dân; gửi thư thăm hỏi, động viên, tặng quà... Với những người lầm đường lạc lối, Người kiên trì thuyết phục, cảm hoá với thái độ khoan dung độ lượng, lời lẽ chân tình, bởi họ đều là “ruột thịt”, “con Lạc, cháu Hồng”, đều có lòng yêu nước nhưng do mắc mưu kẻ địch nên chưa nhận ra lẽ phải. Vì thế, Người luôn “mong những đồng bào đó mau mau giác ngộ và quay về với kháng chiến để phụng sự Chúa, phụng sự Tổ quốc”. Chính phủ luôn “hoan nghênh rộng rãi như những người con đi lạc mới về”(4). Tấm gương ứng xử của Người đối với đồng bào các tôn giáo đã cảm hoá được đa số chức sắc, tín đồ các tôn giáo theo Đảng làm cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, lợi dụng tôn giáo để chống lại cách mạng luôn là thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm kích động mâu thuẫn, chia rẽ đoàn kết lương-giáo, phá hoại đoàn kết dân tộc. Chúng tuyên truyền: “Cộng sản là vô thần sẽ tiêu diệt tôn giáo”, “thà mất nước còn hơn mất Chúa”… Và thực tế, một bộ phận giáo dân đã mắc mưu, tin theo luận điệu thâm độc đó.

Ngay từ năm 1924, Người đã lên án mạnh mẽ và tố cáo những giáo sỹ Pháp làm gián điệp, bắn giết đồng bào ta. “Chính những tên giáo sĩ đã vẽ bản đồ An Nam cho quân xâm lược. Chính bọn họ đã đưa tin cho gián điệp dẫn đường cho đội viễn chinh và tố giác những người yêu nước”(5)Trong thời kỳ thực dân xâm lược, Người chỉ rõ: Thực dân Pháp là bọn đốt nhà thờ, hiếp bà phước, giết tín đồ chức sắc, giết dân ngoại đạo... “Thực dân là lũ Sa Tăng/ Phản Chúa, phá đạo là thằng thực dân”(6). Người luôn phân định rạch ròi tôn giáo với việc lợi dụng tôn giáo để làm điều xấu. Người coi những phần tử đội lốt tôn giáo để chống phá cách là “Việt gian đồng thời cũng là giáo gian”, là những kẻ bất chính, giả danh tín đồ để làm điều xấu độc. Người kêu gọi: “đồng bào cảnh giác và chớ mắc mưu những kẻ tuyên truyền lừa bịp”, “Bảo vệ tự do tín ngưỡng, nhưng cương quyết trừng trị những kẻ đội lốt tôn giáo để phản Chúa, phản nước”(7).

Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch đã lợi dụng nhiều thủ đoạn nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Chúng lợi dụng con đường công khai, hợp pháp để triển khai các hoạt động xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc; chúng tìm mọi thủ đoạn hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị của đất nước... trong đó, có chiêu bài lợi dụng vấn đề tôn giáo, đội lốt tôn giáo để thực hiện mưu đồ chống phá.

Theo đó, chúng thường lợi dụng các vấn đề như: đức tin và sự gắn kết cộng đồng tôn giáo để lôi kéo, tập hợp lực lượng chống đối; khoét sâu những mâu thuẫn, vấn đề nảy sinh về tôn giáo để chống phá; lợi dụng những sơ hở, bất cập, yếu kém trong thực hiện công tác tôn giáo và các vấn đề nhạy cảm được dư luận quan tâm để thổi phồng, xuyên tạc “đặt điều dựng chuyện”; lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các hiện tượng tôn giáo mới, mạng xã hội để công kích, vu khống…

Cụ thể hơn, có thể nhận diện các hoạt động của chúng ở nước ngoài gồm:

Thứ nhất, thu thập thông tin từ những đối tượng phản động, chống đối trong các tôn giáo, các tổ chức tôn giáo trái pháp luật, không được Nhà nước công nhận để xuyên tạc tình hình tôn giáo, quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước. Trên cơ sở đó, chúng ban hành các đạo luật, báo cáo, kiến nghị... vu cáo, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, kích động các thế lực thù địch ở trong nước đẩy mạnh các hoạt động chống phá. 

Thứ hai, tổ chức các hoạt động chỉ đạo, hỗ trợ các đối tượng phản động, chống đối ở trong nước tiến hành các hoạt động chống phá. Các tổ chức phản động, lưu vong người Việt ở nước ngoài và các tổ chức chống đối trong các tôn giáo ở hải ngoại trực tiếp thực hiện các âm mưu, thủ đoạn với nhiều hoạt động như: tổ chức các diễn đàn nhằm xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, kêu gọi “quốc tế” can thiệp; đẩy mạnh xuyên tạc, chống phá trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là mạng xã hội; tổ chức các hội luận, tập huấn, huấn luyện các hoạt động tuyên truyền, biểu tình, gây rối...; trực tiếp móc nối, hỗ trợ vật chất, tinh thần cho các thế lực thù địch trong nước.

Các thế lực thù địch, phản động ở trong nước thường tập trung vào những khía cạnh: Một là, thường xuyên liên kết, câu kết chặt chẽ với nhau (Hội đồng liên tôn, Bàn tròn đa tôn giáo...) và tiếp nhận, thực hiện sự chỉ đạo, hỗ trợ của các thế lực thù địch ở nước ngoài. Hai là, đẩy mạnh các hoạt động soạn thảo, tán phát tài liệu kích động chống phá, cung cấp cho các thế lực thù địch ở nước ngoài những nội dung sai sự thật, thổi phồng sự kiện. Ba là, lợi dụng các ngày lễ của tôn giáo, các sự kiện nhạy cảm để kích động, lôi kéo tín đồ tập trung đông người, gây rối, biểu tình, gây mất an ninh trật tự. Bốn là, lợi dụng các “hiện tượng tôn giáo mới” để trục lợi, làm lệch chuẩn đạo đức, văn hóa xã hội, gây hoang mang dư luận và mất ổn định chính trị - xã hội.

Một sự thật hiển nhiên là, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tôn giáo không phải vì lợi ích của các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ, cũng không vì “tự do tôn giáo” như chúng thường rêu rao, mà là nhằm thực hiện mưu đồ chính trị phản động hòng phá hoại sự nghiệp cách mạng của chúng ta. Đây là điều đi ngược lại lợi ích chân chính của đồng bào có tín ngưỡng, theo tôn giáo, của các chức sắc, tín đồ tôn giáo mong muốn có cuộc sống “tốt đời đẹp đạo”, “đồng hành cùng dân tộc”, thực sự hạnh phúc trong một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, được tiến hành bằng hệ thống các giải pháp đồng bộ vừa mang tính cấp bách vừa mang tính lâu dài; kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa, ngăn chặn với xử lý nghiêm minh theo pháp luật. Trước mắt, cần thực hiện tốt các định hướng chủ yếu: tuyên truyền, giáo dục; xác định nội dung, hình thức, biện pháp; tổ chức thực hiện; điều kiện bảo đảm. Trong đó, chú trọng nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho toàn xã hội; phát huy sức mạnh tổng hợp, tổ chức thực hiện “thích ứng” với từng giai đoạn, hoàn cảnh; có cơ chế, chính sách phù hợp.../.

                                                             Trần Tố Uyên Giảng viên Khoa CTĐ, CTCT

TLTK: (1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.9.

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.197.

(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.15,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.141-142.

(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.249.

(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.442.

(6) Viện Nghiên cứu Tôn giáo: Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng, Nxb. Khoa học xã hội, H, 1998, tr.255.

(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995,tr.604

 

Đọc tiếp »

Nâng cao “tính đảng” trong dạy học các môn khoa học xã hội và nhân văn trong học viện biên phòng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng

 

Trong bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi phức tạp tác động thường xuyên và sâu sắc đến tình hình nước ta, các thế lực thù địch và bọn cơ hội chính trị vẫn không ngừng sử dụng các chiêu trò, luận điệu xuyên tạc về công cuộc đổi mới đất nước, hạ thấp, xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Do đó, văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị”. Đồng thời tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới là nhiệm vụ khách quan vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản, thường xuyên, lâu dài, nhằm tăng cường hơn nữa sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong Nhân dân, đó là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị. Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị cũng đã chỉ rõ: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải trên cơ sở quán triệt sâu sắc, vận dụng đúng đắn, sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam trong thời đại ngày nay”.

Nhà trường quân đội trong đó có Học viện Biên phòng là bộ phận quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân, mang tính đặc thù của hoạt động quân sự. Việc bồi dưỡng mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, định hướng chính trị, tư tưởng cho học viên không thể thiếu vai trò quan trọng của các môn khoa học xã hội và nhân văn (KHXH&NV). Các môn khối KHXH&NV tại Học viện Biên phòng thuộc về chương trình giảng dạy của các bộ môn thuộc Khoa Lý luận Mác - Lênin, Công tác Đảng, Công tác Chính trị, Pháp luật, Khoa học cơ bản, trong đó có bộ môn Lịch sử dân tộc. Thông qua những môn học này, người học được trang bị kiến thức, góp phần hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học, nhân sinh quan cộng sản; xây dựng niềm tin, lý tưởng cách mạng, bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, đạo đức, lối sống, nhân cách. Trên cơ sở đó, góp phần tích cực vào đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng - lý luận, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều này càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nguồn nhân lực được đào tạo từ hệ thống nhà trường quân đội, thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, hướng tới mục tiêu xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”.

Đội ngũ giảng viên giảng dạy các môn KHXH&NV tại Học viện Biên phòng luôn có sâu sắc về vị trí, vai trò của các môn học đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo học viên, đặc biệt là gắn nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nâng cao bản lĩnh chính trị với thực tiễn công tác của Bộ đội Biên phòng nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia. Chương trình đào tạo KHXH&NV của Học viện đã bám sát đường lối, chủ trương của Đảng, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, trọng tâm là Nghị quyết số 29-NQ/TW (khóa XI) của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Công tác xây dựng chương trình KHXH&NV đã có bước đổi mới toàn diện, mang tính đột phá; hệ thống chương trình KHXH&NV đào tạo cho các đối tượng dần được hoàn thiện, chất lượng được nâng cao sát với thực tiễn hoạt động quân sự và mục tiêu đào tạo của từng đối tượng; chương trình, nội dung dạy học KHXH&NV đã quán triệt và thực hiện tốt Thông tư số 54 của Bộ Quốc phòng, bám sát các quyết định về ban hành chương trình KHXH&NV đào tạo cán bộ chính trị và giáo viên KHXH&NV các cấp trong Quân đội (Quyết định số 3290/QĐ-CT ngày 15/11/2023; Quyết định số 3291/QĐ-CT ngày 15/11/2023).

Đội ngũ giảng viên giảng dạy các môn KHXH&NV của Học viện có trình độ chuyên môn cao, từng bước khẳng định vai trò là những chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng, lý luận; tích cực tuyên truyền, lan tỏa nhiệm vụ chính trị quan trọng này cho học viên. Nhiều giảng viên có những công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu, nhiều bài viết đăng trên các tạp chí trong và ngoài lực lượng cung cấp được những luận cứ khoa học quan trọng, thuyết phục về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, các bài viết, công trình nghiên cứu có sức lan tỏa cao, định hướng kịp thời tính đảng, tính chiến đấu cho người học. Nhiều bài giảng, tiết giảng đã luận giải một cách khoa học về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, cung cấp kiến thức chuyên sâu về lịch sử dân tộc, đặc biệt là lịch sử hình thành và phát triển biên giới quốc gia và quá trình xác lập chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam qua các thời kỳ, các kiến thức về văn hóa dân tộc, trong đó thường xuyên cập nhật quan điểm chỉ đạo của Đảng, đặc biệt là nghị quyết Đại hội XIII. Từ đó giúp học viên nắm chắc, hiểu rõ, xác lập niềm tin và đi đến hành động theo đường lối, chính sách, quan điểm của Đảng, Nhà nước với mục đích cuối cùng là lan tỏa, truyền tải đến từng học viên lòng yêu nước, yêu Chủ nghĩa xã hội, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới và con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Quan trọng hơn, đây chính là cơ sở lý luận khoa học để người học được trang bị nền tảng tri thức vững chắc, đấu tranh sắc bén với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Văn kiện Đại hội lần thứ XIII Đảng ta đã nhấn mạnh: Để khát vọng phát triển đất nước trở thành hiện thực, Đảng ta đã khẳng định “toàn dân và toàn quân ta phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Để hoạt động giảng dạy các môn KHXH&NV tiếp tục phát huy vai trò, nâng cao hơn nữa tính Đảng nhằm góp phần đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng, đội ngũ cán bộ giảng viên cần khắc phục triệt để những hạn chế của phương pháp giảng dạy thuyết trình truyền thống, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức công tác tư tưởng theo hướng chủ động, thiết thực, kịp thời và hiệu quả; nâng cao tính chiến đấu, tính giáo dục, tính thuyết phục trong tuyên truyền, giáo dục, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quan điểm chỉ đạo về xây dựng nền văn hóa, con người Việt Nam mới. Cần hướng đến chuẩn hóa nội dung chương trình giảng dạy các môn KHXH&NV cho các đối tượng đào tạo theo hướng “số hóa”, kết hợp sử dụng phương pháp dạy học hiện đại, chú trọng cập nhật, tiếp thu thành tựu, tri thức mới để biên soạn, tái bản giáo trình, tài liệu theo hướng bám sát xu hướng vận động thực tiễn, yêu cầu, nhiệm vụ của Quân đội thời kỳ mới, bám sát các quy định về chương trình đào tạo của Tổng cục Chính trị, quy định dạy học các môn KHXH&NV trong nhà trường quân đội của Bộ Quốc phòng. Nội dung môn học cần phát huy tối đa tính liên môn, liên ngành, phối hợp với khoa học chuyên ngành biên phòng, gắn kết với tình hình chính trị - quân sự thế giới, khu vực và trong nước có liên quan đến môn học. Đặc biệt, phải tập trung làm rõ mối liên hệ mật thiết giữa truyền thụ lý luận khoa học với đấu tranh xuyên tạc, phủ nhận lý luận ấy trong giảng dạy, vai trò của nó đối với cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Từ đó giúp nội dung giảng dạy các môn học KHXH&NV hấp dẫn, sinh động hơn, kích thích hứng thú, phát huy trí tuệ, năng lực sáng tạo, khả năng lĩnh hội và làm chủ khối lượng kiến thức chuyên môn của người học theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo, huấn luyện, đồng thời, cũng tạo nên những chiến sĩ có bản lĩnh chính trị, phát triển kỹ năng nhận diện, phản bác sắc bén, đấu tranh không khoan nhượng với những trào lưu tư tưởng, lý luận đối lập. Phát huy “tính Đảng” trong hoạt động dạy và học sẽ chính là yếu tố hun đúc niềm tin, sự sắt son với Đảng trong mỗi giáo viên, học viên, tạo tinh thần, động lực to lớn giúp người cán bộ, chiến sĩ BĐBP luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao./.

                     Nguyễn Thị Thúy Ngọc, PTBM - Khoa Khoa học Cơ bản - HVBP

Đọc tiếp »

Bộ đội biên phòng nhận diện, đấu tranh với các tà đạo đội lốt tôn giáo hiện nay ở khu vực biên giới.

 

                                                      

Tóm tắt: Hiện nay, một số tà đạo đội lốt tôn giáo được lập ra với nhiều âm mưu và thủ đoạn khác nhau, bước đầu đã xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, làm xáo trộn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở một bộ phận Nhân dân. Hoạt động của tà đạo đó đã vi phạm pháp luật, gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, làm lệch chuẩn văn hóa, đạo đức xã hội... Chính vì vậy, việc nhận diện, đấu tranh với các tà đạo đội lốt tôn giáo ở khu vực biên giới của lực lượng Bộ đội Biên phòng là rất cần thiết, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Thời gian qua, về cơ bản, tình hình các tổ chức tôn giáo và đại bộ phận chức sắc các tôn giáo hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích và quy định pháp luật, ổn định, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên do mặt trái của toàn cầu hóa và cơ chế thị trường, âm mưu “Chính trị hóa tôn giáo” của các thế lực thù địch đã làm cho đời sống tôn giáo chịu tác động tiêu cực, tiềm ẩn nhiều nguy cơ; trong đó nổi lên những vấn đề như: Lợi dụng tôn giáo để hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước; vi phạm pháp luật, gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; thành lập các hội, nhóm mang danh tôn giáo, đạo lạ; tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo mê tín, trục lợi, làm lệch chuẩn văn hóa, đạo đức xã hội...

 Khu vực biên giới, nơi có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, đời sống kinh tế xã hội còn gặp nhiều khó khăn, đã xuất hiện những tà đạo đội lốt tôn giáo như: Tà đạo Hà Mòn, Bà cô Dợ, Tin lành Đề ga, Hội thánh đức chúa trời Mẹ... được lập ra với mục đích xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, làm xáo trộn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của một bộ phận Nhân dân. Những tà đạo này được truyền bá, phổ biến theo nhiều hình thức truyền thông như trên internet, website, Facebook, Zalo, YouTube... thậm chí hình thành những “thị trường tâm linh”. Hoạt động của những tà đạo đội lốt tôn giáo không ngừng gia tăng, với nhiều hình thức biến tướng như: Xem bói online, livestream (phát sóng trực tiếp trên mạng xã hội), nhằm lôi kéo, dụ dỗ quần chúng Nhân dân tham gia gây ảnh hưởng tới tư tưởng, tâm lý các tầng lớp Nhân dân. Chính vì vậy, việc nhận diện và đấu tranh với các tà đạo đội lốt tôn giáo của lực lượng Bộ đội Biên phòng ở khu vực biên giới là rất cần thiết, trên cơ sở khách quan, khoa học, cách mạng.

Đối chiếu quy định hiện hành về tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam cho thấy, các tà đạo đội lốt tôn giáo kể trên không có giáo lý, giáo luật, cơ cấu tổ chức riêng. Mục đích hoạt động chính là vụ lợi, trái pháp luật nên không đủ điều kiện để cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, cấp đăng ký hoạt động tôn giáo. Điển hình  là sự việc xảy ra vào năm 2017, hàng trăm đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Điện Biên bị tà đạo Bà cô Dợ lôi kéo, lừa mị làm cho đồng bào mê muội, hoang tưởng, “chỉ cần đọc kinh cầu nguyện sẽ có cuộc sống tốt đẹp hơn, thế giới sẽ công bằng hơn, mình không làm gì cũng có ăn”, trong khi họ đều là những người có hoàn cảnh khó khăn. Họ được tuyên truyền không nhận sự giúp đỡ của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương, từ chối chính quyền làm nhà cho người nghèo. Nguy hại hơn, tà đạo này còn kích động người dân gây mâu thuẫn trong chính gia đình, dòng họ, đả kích các tôn giáo khác và gieo rắc tư tưởng thành lập cái gọi là “Nhà nước Mông”.

Qua thu thập thông tin và nhận diện có hàng chục tà đạo đang hoạt động tại 3 khu vực có tính chiến lược, trọng yếu nhất về quốc phòng, an ninh của đất nước là Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ; thấy nhiều yếu tố tiêu cực, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; xâm hại đến quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân. Đồng thời, có biểu hiện của những âm mưu, thủ đoạn chính trị, phản động, những hành vi xâm phạm an ninh quốc gia Việt Nam. Cụ thể là: Về chính trị, các tà đạo lôi kéo người theo bằng những hoạt động chống lại quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và địa phương; nói xấu chế độ, nói xấu cán bộ, có thái độ ngăn cản chính quyền triển khai thực hiện đời sống văn hóa ở địa phương, xây dựng nông thôn mới. Về kinh tế, các tà đạo khuyên con người ta siêng năng cầu cúng, lễ vật càng lớn chứng tỏ càng ngoan đạo, tốn kém tiền của, bỏ bê lao động sản xuất. Về văn hóa - xã hội, các tà đạo gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất đoàn kết trong nội bộ gia đình, thôn xóm, giữa người theo đạo và người không theo đạo, giữa đạo này với đạo khác. Thường xuyên tổ chức tụ tập đông người gây mất trật tự, vi phạm quy chế bảo vệ an ninh khu dân cư. Hoạt động của một số tà đạo ở địa bàn chiến lược, trọng điểm đã bị các thế lực thù địch lợi dụng vào âm mưu chống phá cách mạng nước ta.

Nhận thức rõ ổn định tình hình tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào thành công trong công cuộc đổi mới đất nước, phát triển kinh tế - xã hội, đoàn kết dân tộc và đảm bảo quốc phòng, an ninh. Do đó, vai trò của lực lượng Bộ đội Biên phòng trong công tác nhận diện, đấu tranh với các tà đạo ở khu vực biên giới là nhiệm vụ rất quan trọng, vừa đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, nâng cao đời sống tinh thần của người dân, vừa hạn chế sự chống phá của các thế lực thù địch, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam; về thành tựu đã đạt được trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Đặc biệt cần tuyên truyền cho người dân hiểu rõ đâu là chính đạo, đâu là tà đạo, tác hại của tà đạo đối với đời sống vật chất, tinh thần của người dân và toàn xã hội. Từ đó vận động quần chúng Nhân dân tự giác tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh chống hoạt động của các tà đạo.

Hai là, đối với các tà đạo đội lốt tôn giáo thì kiên quyết xử lý, xóa bỏ. Làm tốt công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân nhận thức đúng, nâng cao tinh thần cảnh giác. Không nghe, không tin, không theo và tích cực tham gia đấu tranh trước luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, xúi giục của nhóm người cầm đầu tà đạo, lợi dụng niềm tin, tín ngưỡng, tôn giáo để hành nghề mê tín, trục lợi bất chính, gây mất ổn định xã hội. Đối với đối tượng chủ mưu, cầm đầu các tà đạo, phải xử lý kiên quyết, kịp thời, triệt để theo pháp luật; vạch trần bản chất và hành vi vi phạm pháp luật, gây mất ổn định chính trị, xã hội, chia rẽ giữa các dân tộc, tôn giáo, lợi dụng danh nghĩa tôn giáo để hoạt động tà đạo, mê tín dị đoan của số này trước quần chúng Nhân dân. Đẩy mạnh đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nêu gương điển hình tiên tiến đối với các cá nhân, tổ chức tôn giáo thực hiện tốt phương hướng hoạt động “sống tốt đời, đẹp đạo”; tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước ở địa phương.

Ba là, chủ động nắm tình hình, dự báo kịp thời mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động lôi kéo, thu hút quần chúng tham gia vào các hội nhóm tà đạo mới, để triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh. Đồng thời theo dõi, quản lý chặt chẽ mọi di biến động của các đối tượng theo tà đạo mới. Quản lý chặt chẽ các đối tượng cầm đầu ngoan cố, có khả năng và điều kiện tập hợp lực lượng để ngăn chặn những hành vi quá khích, gây phức tạp tình hình an ninh trật tự. Phát hiện sớm các hoạt động có liên quan tới tà đạo, nhất là hoạt động móc nối với các đối tượng cơ hội chống đối chính trị, các tổ chức phản động ở trong và ngoài nước để ngăn chặn và giải quyết kịp thời, dứt điểm những phức tạp phát sinh ngay từ cơ sở, khi mới manh nha. Kiên quyết đấu tranh, xử lý đúng quy định của pháp luật đối với số đối tượng theo tà đạo ngoan cố, có những hành động chống phá chính quyền.

Bốn là, tham mưu cho cấp ủy chính quyền địa phương thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, thường xuyên chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân; không ngừng nâng cao trình độ dân trí, văn hóa, xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa; giải quyết kịp thời các nguyện vọng chính đáng của quần chúng Nhân dân trên cơ sở pháp luật. Tiếp tục bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc; quan tâm củng cố nền quốc phòng toàn dân, an ninh Nhân dân; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh Nhân dân; xây dựng lực lượng vũ trang Nhân dân trên địa bàn vững mạnh, thực sự là nòng cốt trong giữ vững an ninh trật tự tại địa phương, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới.

          Đại tá NGUYỄN MẠNH TRƯỜNG Khoa Võ thuật - Đặc nhiệm

Đọc tiếp »

Phát triển văn hóa Đảng trong không gian số

Chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong đời sống chính trị, văn hóa và xã hội. T...