Vạch trần luận điệu xuyên tạc sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động gia tăng nhiều hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước ta trên tất cả lĩnh vực, trong đó có nội dung xuyên tạc hoạt động quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia (BGQG).

Âm mưu tinh vi, thủ đoạn thâm độc

Chủ quyền lãnh thổ, BGQG trong tâm thức mỗi người dân là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, liên quan đến hòa bình, an ninh và phát triển của đất nước, quan hệ giữa Việt Nam và các nước láng giềng nên việc xuyên tạc chống phá dễ gây ra tâm lý bất bình, dễ kích động trong một bộ phận quần chúng nhân dân nhẹ dạ, cả tin.

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động sử dụng nhiều hình thức và thủ đoạn rất tinh vi, giảo hoạt, tung ra những thông tin và tư liệu lịch sử, kỹ thuật không có tính pháp lý để đánh lừa dư luận. Trước hết, chúng xuyên tạc kết quả phân giới cắm mốc giữa Việt Nam với các nước có chung đường biên giới, chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước láng giềng, từ đó tạo nên môi trường xã hội, chính trị bất ổn để dễ bề thực hiện mưu đồ chính trị của mình.

Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Cha Lo, BĐBP tỉnh Quảng Bình thực hiện nghi thức chào cột mốc chủ quyền trong quá trình tuần tra, bảo vệ biên giới. Ảnh minh họa: bienphong.com.vn

Ngay từ những ngày đầu khi Việt Nam tham gia giải quyết vấn đề biên giới với các nước cho đến nay, các thế lực thù địch vẫn xuyên tạc kết quả đạt được giữa các bên, đặc biệt đối với những vấn đề về biên giới chưa được giải quyết dứt điểm, chúng thường tập trung tuyên truyền theo hai hướng, đó là xuyên tạc Việt Nam nhu nhược nên nhượng đất cho nước láng giềng nhằm kích động tâm lý bất bình trong nhân dân; bịa đặt Việt Nam xâm chiếm đất của nước láng giềng nhằm phá hoại tiến trình phân giới cắm mốc của nước ta với các nước Trung Quốc, Lào và Campuchia.

Cùng với những luận điệu xuyên tạc về công tác bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh BGQG trên đất liền, các thế lực thù địch, phản động còn rêu rao rằng, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội nhân dân Việt Nam nhu nhược, hèn yếu nên không có những động thái kiên quyết để bảo vệ chủ quyền biển, đảo quốc gia; thậm chí chúng còn trắng trợn bịa đặt rằng lãnh đạo Đảng, Nhà nước im lặng vì đã thỏa hiệp với nước ngoài thao túng chủ quyền biển, đảo của nước ta (!).

Tinh vi hơn, núp dưới chiêu bài “hiến kế, góp ý”, chúng đã đưa ra luận điệu cho rằng: Do sức mạnh của Hải quân nhân dân Việt Nam hiện nay là “quá yếu”, “lạc hậu”... nên “chỉ có liên minh quân sự với các cường quốc quân sự thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo, bảo vệ được lợi ích quốc gia-dân tộc” (!). Từ đó, chúng đòi hỏi Việt Nam cần từ bỏ chính sách “4 không” và liên minh quân sự với các nước lớn có tiềm lực quân sự, quốc phòng mạnh thì mới bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo quốc gia (!).

Trên khu vực biên giới, các thế lực thù địch, phản động ra sức xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, xuyên tạc lịch sử tộc người, quan hệ tộc người, bôi nhọ chủ trương phát triển kinh tế-xã hội. Chúng cho rằng việc phát triển các dự án kinh tế là nguyên nhân “đẩy” đồng bào các dân tộc lâm vào tình cảnh khốn khó, mất nguồn sinh kế, vì thế, đời sống bà con luôn thiếu thốn, khó khăn. Chúng còn kích động mâu thuẫn giữa các dân tộc và xuyên tạc người Kinh đã lấy đất, phá rừng, gây khó khăn cho đồng bào các dân tộc trong phát triển kinh tế-xã hội, qua đó nhằm phá hoại khối đoàn kết dân tộc, làm suy yếu sức mạnh của quân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Để tán phát những thông tin sai lệch, xuyên tạc, chúng tận dụng tối đa các phương tiện truyền thông xã hội, các diễn đàn, nhất là triệt để lợi dụng một số văn nghệ sĩ, trí thức bất mãn, có quan điểm chính trị lệch lạc để ngấm ngầm cài cắm, tán phát những quan điểm sai trái, phản động về chủ quyền lãnh thổ, BGQG; lợi dụng các hoạt động nhân đạo, từ thiện, tổ chức truyền đạo, lập đạo trái phép để tuyên truyền, lôi kéo những người thiếu hiểu biết, nhẹ dạ cả tin, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở biên giới, vùng sâu, vùng xa.

Kiên trì, kiên quyết bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia

Trước tình hình chống phá đó, việc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc về quản lý bảo vệ BGQG hiện nay là nhiệm vụ quan trọng, cơ bản, lâu dài đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; là nhiệm vụ quan trọng của công tác đấu tranh tư tưởng, lý luận nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Để đấu tranh có hiệu quả với các luận điệu xuyên tạc về quản lý, bảo vệ BGQG hiện nay, chúng ta cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau.

Một là, nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân về tầm quan trọng của việc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc về bảo vệ BGQG hiện nay.

Tập trung tuyên truyền, giáo dục cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức rõ việc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc về quản lý, bảo vệ BGQG hiện nay là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Trong đó, tăng cường giáo dục, tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên và nhân dân những quy định pháp lý về BGQG, chủ quyền biển, đảo của Việt Nam; về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong việc bảo vệ chủ quyền, an ninh BGQG. Tích cực tuyên truyền, giáo dục cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ nhận rõ mục đích, âm mưu, thủ đoạn và các luận điệu sai trái, thù địch mà các thế lực thù địch, phản động sử dụng để xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ BGQG hiện nay, nhằm nâng cao sức đề kháng của các tầng lớp nhân dân trước những thông tin xấu độc, xuyên tạc về quản lý, bảo vệ BGQG.

Hai là, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân trong chủ động đấu tranh làm thất bại các luận điệu xuyên tạc về quản lý bảo vệ BGQG.

Quản lý, bảo vệ BGQG là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó cần phải dựa vào dân, lấy dân làm gốc, nhân dân là trung tâm, là chủ thể trong sự nghiệp bảo vệ BGQG. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nhân dân trong đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, đối tượng phản động, nhất là ở vùng dân tộc thiểu số, khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng biển, đảo; ngăn chặn kịp thời hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để chống phá, lôi kéo di dân tự do; tích cực đấu tranh ngăn chặn kịp thời âm mưu, thủ đoạn kích động, chia rẽ nhân dân với cấp ủy, chính quyền địa phương, chia rẽ đồng bào các dân tộc và khối đại đoàn kết toàn dân.

Cùng với đó, đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn đồng bào khu vực biên giới thực hiện nếp sống văn minh gắn với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Thực hiện hiệu quả các dự án bảo tồn và phát triển bền vững một số dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn; đẩy lùi, xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan. Quan tâm, chăm lo phát triển kinh tế-xã hội, giảm nghèo, bảo đảm cuộc sống, lao động sản xuất ổn định cho đồng bào các dân tộc trên khu vực biên giới, hải đảo.

Ba là, đẩy mạnh tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý, bảo vệ BGQG; kiên quyết xử lý các đối tượng có hành vi sai trái, xuyên tạc về BGQG và quản lý, bảo vệ BGQG.

Đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, tích cực đăng tải các bài viết trên những phương tiện thông tin đại chúng, trên hệ thống internet thể hiện rõ lập trường, quan điểm của Việt Nam đối với những vấn đề liên quan đến chủ quyền, an ninh BGQG trên bộ và trên biển. Tổ chức đưa phóng viên, nhà báo, đại diện các tầng lớp nhân dân trong nước và kiều bào tham quan thực địa biên giới, biển, đảo để tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách về BGQG đến người dân trong nước và người Việt Nam ở ngoài nước.

Kịp thời cập nhật thông tin, đưa tin chính xác và cụ thể về những diễn biến phức tạp trên biên giới, trên Biển Đông để định hướng dư luận, không để những thông tin thật-giả lẫn lộn, mập mờ làm ảnh hưởng đến việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh BGQG.

Áp dụng các giải pháp kỹ thuật tăng cường rà quét, bóc gỡ, ngăn chặn những thông tin xấu độc về tình hình Biển Đông nói chung và chủ quyền biển, đảo của Việt Nam nói riêng. Tăng cường xử lý các đối tượng đăng tải, chia sẻ các bài viết, video, hình ảnh có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vấn đề chủ quyền biển, đảo. Thiết lập các trang mạng, tài khoản chính thống để huy động cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch trên internet và mạng xã hội để tạo thành thế trận liên hoàn, rộng khắp.

Bốn là, thường xuyên tiến hành công tác tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển và hoàn thiện lý luận về quản lý, bảo vệ BGQG.

Quan tâm tổng kết thực tiễn sự nghiệp quản lý, bảo vệ BGQG để tiếp tục làm rõ nhận thức, quan niệm về quản lý, bảo vệ BGQG ở nước ta, tập trung vào các vấn đề: Mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc, phương châm, nhiệm vụ, giải pháp về quản lý, bảo vệ BGQG... Đây là những vấn đề lớn, đòi hỏi công sức, trí tuệ, tâm huyết của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, trước hết là của đội ngũ cán bộ chuyên làm công tác tư tưởng, lý luận và lực lượng chuyên trách quản lý, bảo vệ BGQG. Tích cực khai thác tiềm năng sáng tạo trong nghiên cứu lý luận về quản lý, bảo vệ BGQG để phục vụ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nói chung và quản lý, bảo vệ BGQG nói riêng.

Quản lý, bảo vệ BGQG là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị và cả nước; là vấn đề hết sức thiêng liêng, nhưng cũng không ít khó khăn, phức tạp. Các luận điệu xuyên tạc về quản lý, bảo vệ BGQG thực chất là những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, phản động nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, tiến tới từng bước làm thay đổi chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần hết sức cảnh giác, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc về quản lý, bảo vệ BGQG, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tình hình hiện nay.

Thiếu tướng, PGS, TS NGUYỄN THÁI SINH, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Học viện Biên phòng


Đọc tiếp »

Danh dự là điều cao quý nhất


Các tôn giáo lớn đều trực tiếp hay gián tiếp khuyên dạy rằng phẩm chất quý giá nhất ở con người là tình yêu thương, cao thượng, vì người khác, trong sáng, liêm khiết, chân chính để cống hiến được nhiều nhất cho xã hội.

Thánh tích đạo Công giáo kể, Thánh Joseph vốn xuất thân là một người thợ mộc, còn Đức mẹ Maria thời thiếu nữ rất xinh đẹp, có nhiều đám đến mối mai. Nhà Maria chọn rể bằng cách cho mỗi chàng trai đặt một chiếc gậy của mình vào chung một chỗ, gậy của ai nở hoa thì được lấy Maria. Chỉ có người thợ mộc Joseph được toại nguyện. Họ cưới nhau.

Thiên sứ Gabriel báo cho Maria biết nàng sẽ sinh ra Jesus là con của Đức Chúa trời và sau này sẽ là Đấng Cứu thế. Joseph thì mơ thấy mình được trao nhiệm vụ giữ Maria làm vợ còn Jesus sẽ là con nuôi. Maria là mẹ nhưng vẫn đồng trinh. Bà sinh con trai, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ vì họ không tìm được nhà trọ... Tích này như muốn cắt nghĩa giàu-nghèo không phải là lý do để được tôn trọng, sùng bái. Như Jesus đó thôi, có cha làm nghề thợ mộc, sinh ra ở nơi thiếu thốn, nghèo nàn, thế mà trở thành Đấng Cứu thế được hàng tỷ người ngưỡng vọng!

Sự ra đời của Đức Phật Thích Ca là thật chứ không phải huyền thoại. Đang là một thái tử có vợ đẹp, con ngoan, ở trong kinh thành xa hoa tráng lệ và tương lai gần sẽ kế vị ngôi vua, nhưng năm 29 tuổi, ngài rời bỏ tất cả gia đình quyền quý, của cải, chức vụ để xuất gia. Sau 6 năm tự mình tu học theo lối khổ hạnh luyện thân thất bại, ngài chọn con đường thiền định. Qua 49 ngày đêm bất động ngồi dưới gốc cây bồ đề, ngài chứng thành Phật quả với đủ tam minh, lục thông, trí tuệ. Ngài trở thành Phật tổ, không có một đồng xu nhưng có hàng triệu triệu người sùng bái!

Thì ra của cải, địa vị có làm nên hạnh phúc đâu, thậm chí, với Đức Phật thì của cải, địa vị càng cao lại càng đau khổ vì không được tự do làm theo ý của mình là đi tìm con đường giải thoát nỗi trầm luân cho chúng sinh!

Ông tổ của đạo Nho là Khổng Tử (trong cuốn Luận ngữ) dạy học trò: “Ăn cơm gạo thô, uống nước lã, co cánh tay gối đầu mà ngủ, coi đó là niềm vui. Làm điều bất nghĩa để có được giàu có, cao sang thì ta coi như đám mây nổi”. Ông thường kể chuyện có học trò rất nghèo đi cày ruộng, một lần bắt được cả hũ vàng nhưng vẫn cày lấp lên vì cho rằng vàng ấy không phải của mình. Người ấy sau này làm đến chức Thượng thư... Ông đúc kết thành châm ngôn sống mà sau này các bậc “cửa Khổng sân Trình” thuộc làu: “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” (giàu sang mà không hoang dâm, nghèo hèn mà không đổi chí khí, gặp uy vũ không khuất phục).

Như vậy, các tôn giáo lớn đều trực tiếp hay gián tiếp khuyên dạy rằng phẩm chất quý giá nhất ở con người là tình yêu thương, cao thượng, vì người khác, trong sáng, liêm khiết, chân chính để cống hiến được nhiều nhất cho xã hội. Điều này cũng được người Việt triết lý danh dự là điều cao quý nhất, qua các châm ngôn: “Chết trong còn hơn sống đục”, “Giấy rách phải giữ lấy lề”...

Con cò trong ca dao cũng: “Có xáo thì xáo nước trong/ Đừng xáo nước đục đau lòng cò con”. Chính sử ghi lại chuyện tướng quân Trần Bình Trọng bị giặc Nguyên bắt. Chúng dụ dỗ, mua chuộc nếu ông đầu hàng sẽ được là “vua”. Mang dòng máu Việt, lại sinh ra trong thời hào khí Đông A lẫm liệt, tất nhiên ông từ chối, còn mắng kẻ xâm lược: “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc!”. “Làm vương đất Bắc” thì vừa có quyền vừa có tiền nhưng vẫn là tay sai. Như thế là nhục. Ông đã “chết vinh” chứ không chịu “sống nhục”!

Thế nhưng tại sao ở thời buổi văn minh này lại có người có học, chức trọng quyền cao, của nả nhiều hơn tài sản Thạch Sùng trong cổ tích mà vẫn “chịu nhục” tham ô, hối lộ, ăn của đút, không hề có chút tự trọng? Nguyên nhân ở đâu? Điều này không khó lý giải. Đó là do lòng tham làm mờ mắt, không phân biệt được tốt xấu, phải trái nên không còn sự liêm sỉ. Thực ra lòng tham là bản năng tồn tại của con người. Đúng như cổ nhân dạy, người mạnh là người thắng được chính mình. Những kẻ tham lam thì không thắng được mình nên chịu làm nô lệ cho tiền bạc...

Làm gì để chữa trị căn bệnh này? La Fontaine, một nhà ngụ ngôn, cũng là nhà giáo dục thiên tài kể câu chuyện “Lão nông và các con” chính là đưa ra “bài thuốc” chữa. Trước khi từ giã trần gian, lão nông dặn các con: Ngày xưa các cụ có chôn hũ vàng ở mấy đám ruộng nhà mình nhưng cha không biết chỗ. Cha chết, các con gắng tìm. Đám con y lời bèn “cày sâu cuốc bẫm” tìm vàng. Vàng không thấy nhưng mùa vụ liên tiếp. Đám con giàu to. Câu kết của truyện chính là bài học lớn phổ quát cho mọi thời, mọi người: “Lấy câu “lao động là vàng” dạy con”. Thế nên giải pháp chung cho tất cả là phải lao động. Trong lao động và qua lao động, người ta mới thấy được giá trị, ý nghĩa của “đồng tiền bát gạo”, mới biết thương người lao động... Đó là sự tự hoàn thiện nhân cách tốt nhất.

Những kẻ tham ô, tham nhũng đang làm việc trong cơ quan nhà nước có lao động không? Không. Với họ, “làm việc” chỉ là cái bình phong che đậy những ý đồ đen tối để có điều kiện là “tham”. Đó là những kẻ ăn bám đích thực. Thế nên kẻ lười, kẻ làm việc được chăng hay chớ nên sớm đuổi ra khỏi biên chế nhà nước!

“Nghèo cho sạch, rách cho thơm”, “Tốt danh hơn lành áo”. Cha ông ta dạy thế. Đó là truyền thống đạo lý trọng giá trị tinh thần (trọng nghĩa khinh tài-“tài” nghĩa là tài sản vật chất) rất quý của cha ông. Nhưng trên thực tế thì vừa “sạch” vừa “thơm”, vừa “tốt” vừa “lành” vẫn  tốt hơn, nhất là ở thời buổi văn minh hôm nay. Người trọng danh dự, đạo lý càng không cho phép mình để người khác thương hại vì nghèo. Thế nên bằng sự cần cù, thông minh, năng động, ai ai cũng cố gắng vươn lên sự giàu có, miễn là trong khuôn khổ pháp luật, sự cho phép của cơ quan, tổ chức.

                                PGS, TS NGUYỄN THANH TÚ

Đọc tiếp »

Không thể xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội

 


Đúng vào dịp cả nước tổ chức các hoạt động chào mừng kỷ niệm 79 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2023) và 34 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 - 22/12/2023), các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước tăng cường đăng các tin, bài xuyên tạc, bôi nhọ, chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội. Mới đây nhất, trên trang Thoibao.de có đăng tải bài viết “Quân đội nhân dân Việt Nam và Quân đội Việt Nam Cộng hòa”, của Nguyễn Đức Hạo Nhiên, y ngỏ ý “khuyên” xây dựng quân đội Việt Nam “trung lập về chính trị” không nên lệ thuộc Đảng Cộng sản… Có thể thấy, mục đích của y là từng bước làm cho quân đội xa rời phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu, phai nhạt lý tưởng, mất sức chiến đấu, không còn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước. Do vậy, cần đề cao cảnh giác, nhận diện và đấu tranh kịp thời.

Thực tiễn lịch sử cho thấy, từ khi xuất hiện nhà nước, bất kỳ giai cấp, đảng phái nào khi nắm quyền lãnh đạo đất nước cũng đều tổ chức ra quân đội để bảo vệ quyền lợi chính trị, kinh tế của mình và sự toàn vẹn của lãnh thổ quốc gia. Bởi thế, quân đội là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp, mang bản chất giai cấp sâu sắc, không có quân đội phi giai cấp, siêu giai cấp, trung lập, đứng ngoài chính trị. Trong xã hội hiện đại, mỗi quốc gia đều có một hay đa đảng lãnh đạo và quân đội của quốc gia đó luôn gắn và phục tùng sự lãnh đạo của đảng chính trị cầm quyền. Những gì đã trải qua trên thế giới cho thấy, quân đội của bất kỳ nước nào, trong quá trình xuất hiện và trưởng thành cũng luôn là một lực lượng chính trị quan trọng được nhà nước, giai cấp cầm quyền quan tâm lãnh đạo, xây dựng. Theo đó, cả về chính trị, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, về tư tưởng hay về đường lối, nguyên tắc tổ chức xây dựng quân đội cũng đều do giai cấp, nhà nước sinh ra nó quyết định.
Thực tế bài học về sự buông lỏng, coi nhẹ sự lãnh đạo của đảng cầm quyền đối với quân đội đều phải trả giá đối với sự tồn vong của chế độ, đất nước. Ví dụ như ở Liên Xô những năm 80 của thế kỷ XX, những người lãnh đạo Đảng Cộng sản do mắc bẫy chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nên đã rời bỏ nguyên tắc xây dựng quân đội về chính trị theo học thuyết Mác - Lênin, xóa bỏ cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội và xóa bỏ hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp, dẫn đến phân rã về tư tưởng, tổ chức, mất phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu, khiến Đảng Cộng sản Liên Xô tan rã. Và gần đây là những sự kiện bất ổn chính trị - xã hội liên miên, kéo dài làm suy yếu đất nước đang diễn ra ở một số nước châu Á, châu Âu và hàng loạt nước theo thể chế đa nguyên, đa đảng ở Trung Đông, Bắc Phi.
Tiếp thu học thuyết Mác - Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới, thực tiễn xây dựng, lãnh đạo quân đội của các nước trên thế giới, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện Quân đội thông qua thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu, bảo đảm cho Quân đội luôn mang bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc; lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Tổ quốc và Nhân dân; lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta là vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.
Cần phải khẳng định thêm rằng, chỉ khi đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt, Quân đội ta mới có đường hướng phát triển đúng đắn, thực sự là đội quân có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước, Tổ quốc, nhân dân và luôn có ý chí quyết tâm, sức mạnh chiến đấu cao trước mọi kẻ thù xâm lược. Đảng thực hiện sự lãnh đạo Quân đội thông qua hệ thống tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp và các tổ chức quần chúng ở đơn vị cơ sở. Nhà nước thống nhất quản lý quân đội theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Các tổ chức đảng trong Quân đội hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, phân công cá nhân phụ trách, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình. Dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, Quân đội ta đã hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao.
Thực tiễn lịch sử gần 80 năm, xây dựng, chiến đấu và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội là điều không thể xuyên tạc, phủ nhận; mọi luận điệu cho rằng xây dựng quân đội Việt Nam “trung lập về chính trị” không nên lệ thuộc Đảng Cộng sản của Nguyễn Đức Hạo Nhiên và đồng bọn của y là bịa đặt, phản khoa học, cần đấu tranh bác bỏ./.
Đọc tiếp »

Cảnh giác với âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội


Như một thông lệ, cứ vào dịp kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lại ra sức tung ra những điệp khúc xuyên tạc quen thuộc, hòng chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội. Mới đây, trên trang “Hung-viet” đã phát tán bài viết “Quân đội nhân dân Việt Nam: Hãy trở về đúng tên gọi của mình” với những luận điệu xuyên tạc nhằm chia rẽ, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội. Bởi vậy, cảnh giác, nhận rõ và chủ động đấu tranh, bác bỏ các luận điệu đó là vấn đề quan trọng, cấp thiết.

Vẫn luận điệu cũ, Nguyên Anh rêu rao rằng: “Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng đang bảo vệ đảng cầm quyền, họ hoàn toàn không bảo vệ người dân, bởi vì toàn bộ cấu trúc hệ thống đều do hệ thống đảng ủy chỉ đạo”. Đây là luận điểm vô căn cứ, phản khoa học nhằm tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hòng thực hiện mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội. 

Về bản chất, quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực của một giai cấp, nhà nước và do nhà nước, giai cấp đó thành lập, nuôi dưỡng, sử dụng để tiến hành đấu tranh vũ trang, thực hiện mục đích chính trị của giai cấp, nhà nước đã tổ chức và nuôi dưỡng nó. Ở một số quốc gia, quân đội còn tuyên thệ trung thành với người đứng đầu nhà nước (đương nhiên cũng là người đứng đầu đảng chính trị cầm quyền). Điều II, khoản 2 Hiến pháp Mỹ ghi rõ: “Tổng thống là Tổng Tư lệnh các lực lượng Lục quân và Hải quân Hoa Kỳ và lực lượng dự bị ở một số bang” . Rõ ràng, không có và không thể có bất kỳ một quân đội nào lại không gắn với một đảng chính trị cầm quyền, không bảo vệ lợi ích của giai cấp nào trong một chế độ xã hội nhất định.

Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Sự lãnh đạo của Đảng đã trở thành nguyên tắc căn bản trong xây dựng quân đội, quyết định bản chất giai cấp, mục tiêu lý tưởng chiến đấu, sự trưởng thành, lớn mạnh và chiến thắng của Quân đội ta trong mọi thời kỳ cách mạng. Điều đó được khẳng định rõ tại Điều 25, Chương VI, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam: “Đảng lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt”. Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội và sự trung thành tuyệt đối của Quân đội đối với Đảng là hai mặt thống nhất của một chủ thể; hai mặt đó có mối quan hệ biện chứng, không tách rời, được thực tiễn kiểm nghiệm trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta. Mối quan hệ giữa Đảng với Quân đội là mối quan hệ lãnh đạo và phục tùng, Đảng giữ vai trò lãnh đạo đối với Quân đội bằng một cơ chế đặc thù, bảo đảm cho Đảng thường xuyên giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt. 

Thực tiễn gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội ta không chỉ là công cụ, lực lượng chính trị tin cậy, trung thành của Đảng, Nhà nước mà còn là của nhân dân, của dân tộc, chiến đấu cho lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn toàn và triệt để quần chúng nhân dân lao động, phấn đấu không mệt mỏi cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng và cũng là vì độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dù công tác ở đâu, đi đến đâu, làm những nhiệm vụ gì, trong điều kiện chiến tranh hay hòa bình, ở đất liền hay trên biển đảo, cán bộ, chiến sĩ Quân đội đều ra sức bảo vệ, giúp đỡ, tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia xây dựng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói giảm nghèo, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, phấn đấu vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đó là biểu hiện sự thống nhất giữa trung thành với Đảng và trung hiếu với nhân dân với đất nước, dân tộc trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam, xứng đáng với lời khen tặng của Bác Hồ: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”

Do đó, luận điệu của Nguyên Anh chỉ là chiêu trò đánh lừa dư luận, hòng phủ nhận sự độc tôn lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, nhằm phá vỡ nền tảng chính trị của Quân đội, làm cho Quân đội mất phương hướng, mục tiêu chiến đấu, không còn khả năng làm nòng cốt cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì thế, chúng ta cần kiên quyết đấu tranh bác bỏ.


Đọc tiếp »

PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI - CHỦ NGHĨA CHỦ TRƯƠNG ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG TA

 Kinh tế thị trường là thành quả của văn minh nhân loại, được Đảng và Nhà nước Việt Nam vận dụng một cách đúng đắn, khách quan, khoa học, sáng tạo, trở thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó nhấn mạnh vị trí, vai trò của con người chính là động lực và cũng là mục tiêu cao nhất của sự phát triển. Song, các thế lực thù địch cho rằng, không có nền kinh tế nào là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; gán ghép định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường là chủ quan, duy ý chí, không có cơ sở khoa học, không thuyết phục; nếu bỏ cái đuôi định hướng xã hội chủ nghĩa thì nền kinh tế đất nước còn phát triển nhanh hơn, hiệu quả hơn; kinh tế thị trường là của chủ nghĩa tư bản, vận động theo các quy luật của chủ nghĩa tư bản, không thể dung hòa và kết hợp với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, với định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế của các quốc gia vì giữa chúng có sự mâu thuẫn, đối lập. Nếu ghép định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường thì chẳng khác nào râu ông nọ cắm cằm bà kia, ghép nước với lửa, hai củ khoai bỏ trong một rọ... Họ cho rằng, Việt Nam phải chuyển sang kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Thực tế, các thế lực thù địch đang cố tình xuyên tạc bản chất tốt đẹp của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

1. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đây, thực chất là kiểu tổ chức nền kinh tế - xã hội vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên những nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Tức là, có hai nhóm nhân tố cơ bản tồn tại trong nhau, kết hợp với nhau và bổ sung cho nhau. Đó là, nhóm nhân tố của kinh tế thị trường và nhóm nhân tố của xu hướng mới đang vận động, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong đó, nhóm thứ nhất đóng vai trò động lực thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển nhanh, hiệu quả; nhóm thứ hai đóng vai trò hướng dẫn, chế định sự vận động của nền kinh tế theo những mục tiêu đã xác định, bổ sung những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của thị trường, hoàn thiện mô hình chủ nghĩa xã hội. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta vừa mang những đặc trưng chung của kinh tế thị trường, vừa mang tính đặc thù, đó là định hướng xã hội chủ nghĩa. Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường không phủ nhận các quy luật kinh tế thị trường, mà là cơ sở để xác định sự khác nhau giữa kinh tế thị trường ở nước ta với các nước khác, cụ thể là giải quyết tốt các vấn đề xã hội, nói cách khác là phát triển kinh tế thị trường để thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Điều này khẳng định bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
2. Bên cạnh tính ưu việt của mô hình này, thì kinh tế thị trường vẫn còn tồn tại những hạn chế cố hữu, đó là: gia tăng tình trạng tham nhũng; bội chi ngân sách; cạnh tranh gay gắt, “cá lớn nuốt cá bé”; mâu thuẫn tổng cung và tổng cầu; gia tăng số lượng doanh nghiệp phá sản; gia tăng tình trạng thất nghiệp, lạm phát; bất bình đẳng, gia tăng khoảng cách giàu nghèo; tài nguyên bị cạn kiệt; môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng… Những hạn chế cố hữu này, bản thân kinh tế thị trường không những không thể tự khắc phục được, mà còn gia tăng theo thời gian. Để khắc phục chúng, không có cách nào khác tốt hơn bằng sự định hướng và can thiệp của Nhà nước xã hội chủ nghĩa thông qua đường lối, chủ trương, cơ chế, chính sách, pháp luật và lực lượng vật chất Nhà nước có trong tay để định hướng, điều tiết nền kinh tế. Do vậy, khi thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ khắc phục được những hạn chế cố hữu trên. Đồng thời, bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường, nhân lên tính nhân văn, nhân đạo, ưu việt, cao cả của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Việc các thế lực thù địch bôi nhọ, vu cáo, trắng trợn, xuyên tạc nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đi ngược lại chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và lợi ích nguyện vọng, chính đáng của nhân dân ta. Do đó, chúng ta cần kiên quyết đấu tranh vạch trần bộ mặt phản động của chúng để nhân dân hiểu rõ và cảnh giác.





Đọc tiếp »

Đấu tranh chống luận điệu “ chủ nghĩa xã hội dân chủ” của các thế lực thù địch hòng phá hoại nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

 


Các thế lực thù địch vẫn ráo riết tìm mọi cách phá hoại nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong đó luận điệu “chủ nghĩa xã hội dân chủ” được chúng ra sức truyền bá, tung hô, ca ngợi và ra sức rêu rao rằng, chỉ có “chủ nghĩa xã hội dân chủ” của đảng dân chủ xã hội mới thật sự "dân chủ”, còn nền dân chủ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng và các đảng cộng sản nói chung tiến hành xây dựng không thể có dân chủ - đó là thuật “nguỵ biện” của các thế lực thù địch.

Lịch sử ra đời của “chủ nghĩa xã hội dân chủ” bắt nguồn từ chủ nghĩa Cantơ mới mà nội dung của chủ nghĩa này là truyền bá chủ nghĩa xã hội đạo đức. Theo quan niệm này, chủ nghĩa xã hội là một lý tưởng đạo đức. Vì vậy, vấn đề cải tạo xã hội theo chủ nghĩa xã hội chủ yếu là vấn đề đạo đức. Về mặt lý luận, đại diện của nó là “chủ nghĩa Becstanh” và “chủ nghĩa Causky” - một thứ chủ nghĩa cải lương.

Nhìn lại thời kỳ cách mạng dân chủ tư sản châu Âu, thấy rằng, năm 1848, Ở Đức xuất hiện nhóm “Thợ thuyền anh em”, tự xưng là những người chủ nghĩa xã hội dân chủ. H nêu ra một số cải cách xã hội, nhưng vẫn chưa vượt ra khỏi yêu cầu cải lương của giai cấp tư sản và tiểu tư sản lúc bấy giờ. Năm 1849, xuất hiện Đảng Dân chủ xã hội Pháp. Chủ trương, đường lối của Đảng này là xây dựng nhà nước cộng hoà của giai cấp tư sản, thực hiện một số thay đổi nào đó trong khuôn khổ chủ nghĩa tư bản. Vào thời điểm này, tuy thế giới chưa xuất hiện đảng cộng sản, nhưng C.Mác và Ph.Ăngghen đã sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học. Những lý luận đầy sức thuyết phục của C.Mác và Ph.Ăngghen nêu trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đã làm cho những người theo chủ nghĩa xã hội dân chủ phải suy nghĩ. Trong giai đoạn đầu, C.Mác và Ph.Ăngghen chủ trương tiến hành triệt để cuộc cách mạng dân chủ tư sản, tiến tới quá độ lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Từ đó, khái niệm “chủ nghĩa xã hội dân chủ” vừa xuất hiện đã có sự nhận thức khác nhau và sự phân biệt về nguyên tắc giữa cách mạng và cải lương. Sự khác nhau cơ bản của hai xu hướng này chỗ: Có phải chỉ cần hoàn thành cách mạng dân chủ tư sản, xây dựng nhà nước cộng hoà tư sản mà không cần phải tiếp tục tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa không? Có phải chỉ cần dựa vào nhà nước tư sản thông qua biện pháp “dân chủ” là có thể thoát khỏi sự nô dịch và bóc lột của tư bản, giành quyền bình đẳng không? Câu trả lời: Không. Bởi vì, trong thực tế các cuộc cách mạng tư sản châu Âu (1848 - 1849) đã chứng minh một khi giai cấp tư sản nắm được chính quyền, củng cố được sự thống trị của mình, lập tức dùng vũ lực phủ quyết các đòi hỏi của giai cấp công nhân. C.Mác và Ph.Ăngghen thấy lập trường chính trị và khuynh hướng của những người tham gia đảng xã hội dân chủ rất khác nhau. Nhiều người nhận thức về “chủ nghĩa xã hội dân chủ” hoàn toàn khác với chủ nghĩa cộng sản. Vì vậy, hai ông đã uốn nắn những nhận thức sai lệch của những người theo “chủ nghĩa xã hội dân chủ” trước việc cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới.

Từ cuối những năm 80 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa Mác được truyền bá ngày càng rộng rãi trên trường chính trị quốc tế và trong phong trào công nhân các nước, thực tế đã giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa cải lương và chủ nghĩa cơ hội, dần dần trở thành hình thái ý thức tư tưởng, chiếm vị trí chủ đạo và lôi kéo được nhiều người có xu hướng xã hội dân chủ ngả theo chủ nghĩa cộng sản. Đến những năm 90 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa Mác hoàn toàn chiến thắng các hệ tư tưởng khác trong phong trào công nhân. Nhiều đảng dân chủ xã hội lấy lý luận C.Mác - Ph.Ăngghen làm cơ sở để thảo cương lĩnh chính trị của đảng mình. Từ năm 1889 đến năm 1895, hoạt động của Quốc tế 2 do Ph.Ăngghen chỉ đạo, về thực chất là một tổ chức công nhân phát triển trên cơ sở chủ nghĩa Mác, mặc dù lấy tên gọi là “Liên minh quốc tế của các đảng xã hội”. Song, Ph.Ăngghen đã giải thích rằng, tên gọi không quan trọng. Cái quan trọng chính là nó có theo những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản hay không? Trong thời gian ấy, nhiều đảng dân chủ xã hội châu Âu trở thành lực lượng chính trị quan trọng. Sau khi Ph.Ăngghen qua đời (1895), quan lãnh đạo trong Quốc tế 2 rơi vào tay những người cải lương, cơ hội chủ nghĩa, đòi xét lại chủ nghĩa Mác.

Với V.I.Lênin, lúc đầu xem “chủ nghĩa xã hội dân chủ” có cái gì gần gũi với chủ nghĩa Mác.Vì vậy, năm 1898, V.I.Lênin đặt tên cho chính đảng của giai cấp công nhân đầu tiên Nga là “Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga”. Về sau, V.I.Lênin đã nhận rõ tính chất xa rời chủ nghĩa Mác về tư tưởng của các đảng dân chủ xã hội, nên Ông đã vạch trần những diễn biến phức tạp của nó và đổi tên Đảng thành “Đảng Cộng sản (Bônsơvích) Nga” vào năm 1918. Từ đấy, dưới sự lãnh đạo của V.I.Lênin, ngọn cờ chủ nghĩa xã hội khoa học đã được phất lên trong cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội khoa học.

Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch H Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã kiên trì con đường chủ nghĩa xã hội khoa học, thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng H Chí Minh. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là ngọn cờ đã, đang và sẽ được phất lên trong quá trình xây dựng và bảo vệ T quốc. Đó là một sự lựa chọn lịch sử đúng đắn nhất. Dân chủ của Việt Nam là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải dân chủ tư sản. Bản chất của dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa là khác nhau. Dân chủ tư sản là một trong những hình thức chính trị của nhà nước tư sản. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là một trong những hình thức chính trị của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nó bắt nguồn từ chính bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Cơ sở kinh tế của dân chủ tư sản là những điều kiện tiên quyết của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, các trào lưu xã hội dân chủ vẫn rêu rao là đại diện cho phong trào công nhân quốc tế ngày nay, thực chất là thứ chủ nghĩa xã hội dân chủ cải lương. Nét thể hiện của kiểu dân chủ này là xu hướng thay thế đấu tranh giai cấp bằng hợp tác giai cấp, quan niệm về tính chất “siêu giai cấp”, “đa giai cấp” của nhà nước và của dân chủ, quan niệm về chủ nghĩa xã hội như là một phạm trù đạo đức. Lý thuyết này, những người xã hội dân chủ đã áp dụng vào việc quản lý xã hội tại nhiều nước phương Tây. Có được khả năng nắm tay lái điều khiển bộ máy nhà nước, các vị thủ lĩnh xã hội dân chủ tự cho mình là “thầy thuốc bên giường bệnh” của chủ nghĩa tư bản. Nhiều đảng xã hội - dân chủ chuyển sang hệ tư tưởng chiết trung, “đa nguyên” và tuyên bố “chủ nghĩa xã hội dân chủ” là cương lĩnh tư tưởng của họ. Một số đảng xã hội dân chủ thực hiện chính sách hai mặt. Một mặt, họ gắn với nhà nước tư bản, mặt khác, họ lại liên hệ với phong trào công nhân, với công đoàn và các tổ chức quần chúng khác. Hiện nay, phái xã hội - dân chủ vẫn là một lực lượng chính trị - xã hội quan trọng những nước tư bản chủ nghĩa phát triển. Tuy nhiên, trước sự phản ứng của một bộ phận trong công nhân và nông dân, nhiều đảng xã hội - dân chủ đã tính đến sự hoà dịu, ủng hộ chính sách cùng tồn tại hoà bình. Một số người trong phái xã hội - dân chủ thừa nhận tính ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và có những quan hệ về đảng với đảng cộng sản.

Sự hình thành và phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một quá trình khách quan do những yếu tố muôn màu muôn vẻ xác định. Sự bình đẳng, công bằng xã hội, tự do cá nhân và quyền lực nhân dân là mục đích có tính chất lịch sử của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Cái cốt lõi của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã được xác định, đó là quyền lực của nhân dân. Tất cả các công dân đều có quyền tham gia vào công việc của nhà nước. Dân chủ xã hội chủ nghĩa đồng nghĩa với tính chủ động sáng tạo của quần chúng nhân dân hết sức rộng rãi. Hệ thống dân chủ của chủ nghĩa xã hội xây dựng trên những điều kiện mới của sự phát triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Hình thức cơ quan lãnh đạo dân cử, quyền công dân, những thể chế và những yếu tố dân chủ được những lực lượng tiến bộ của xã hội xây dựng và bảo vệ. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, những hình thức dân chủ trực tiếp khác nhau cũng được phát triển rộng rãi, biểu hiện trong những hoạt động của các tổ chức xã hội. Nhà nước xã hội chủ nghĩa tạo cho công dân những khả năng rộng rãi để tự do bày tỏ nguyện vọng và trình bày những ý kiến của mình về những vấn đề thuộc về đời sống xã hội. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa tuyên bố bảo đảm những quyền xã hội của công dân, quyền đi lại, lao động, nghỉ ngơi, học hành, quyền tham gia vào những vấn đề chính trị, xã hội. Lực lượng chủ đạo của toàn bộ quá trình phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là Đảng Cộng sản. Nghị quyết, đường lối, chính sách của Đảng phản ánh những lợi ích của nhân dân.

Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thể hiện và thực hiện theo Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đó là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, quyền bình đẳng nam nữ, quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật, quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế, sáng tác, học tập... Để bảo đảm quyền làm chủ thật sự của nhân dân, Hiến pháp ghi rõ Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang được phát huy và đã gặt hái được những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Vai trò xã hội của nhân dân không ngừng được nâng cao. Quy chế dân chủ đang được xác lập từng cấp và đang được thực hiện cơ sở. Không khí dân chủ trong xã hội đang được phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng. Việt Nam đang từng bước khắc phục những hiện tượng vi phạm dân chủ cơ sở; làm rõ cơ sở lý luận dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện một đảng cầm quyền và nhiều đoàn thể nhân dân. Đẩy lùi được những hiện tượng quan liêu, tham nhũng, cơ hội chính trị, mất dân chủ sẽ dần dần làm cho bộ mặt dân chủ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam sáng lên trong lòng bầu bạn trên thế giới.

Thực hiện dân chủ phải đi đôi với việc chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước. Luật pháp của Nhà nước bảo đảm cho việc thực hiện quyền dân chủ của nhân dân. Sống và làm việc theo pháp luật chính là cơ sở pháp lý bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân.

Năm 1949, Chủ tịch H Chí Minh viết bài “Dân vận”, Người khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ”. Nội dung của một nước dân chủ là:

“Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.

Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.

Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.

Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.

Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra.

Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.

Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều nơi dân” [1, tr. 698].

Trong quá trình hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang đẩy mạnh thực hiện lời giáo huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều đó, được thể hiện ở sự nhất quán và xuyên suốt qua các kỳ đại hội của Đảng. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [2, tr. 27 - 28].

Vì vậy, mọi luận điệu xuyên tạc, công kích nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều đi ngược lại quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam; tất yếu tự các luận điệu đó sẽ bị đào thải.

                                                 * Trần Trí Dũng Khoa Quân sự chung

Tài liệu tham khảo:

1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 698.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 27-28).

Đọc tiếp »

TỈNH TÁO, NHẬN DIỆN ĐÚNG CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Hơn 36 năm qua, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước phát triển mạnh mẽ, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật, đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt.

Thế nhưng, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, bất mãn vẫn cố tình phủ nhận những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, nhất là đổi mới trên lĩnh vực chính trị, xã hội. Họ ra sức xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta trên tất cả lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại...

Thủ đoạn tinh vi, khó lường  

Về chính trị: Trước hết, họ tập trung phê phán, xuyên tạc, chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền lãnh đạo đất nước, họ cho rằng, đó là “chế độ đảng trị”, độc tài, mất dân chủ. Họ còn lợi dụng cụm từ “dưới sự lãnh đạo của Đảng” để xuyên tạc rằng, đó là bằng chứng của vấn đề “Đảng đứng trên luật pháp”, “quyền lực xã hội tập trung vào một số ít cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản”, “Đảng bao biện làm thay Nhà nước”... Vấn đề Nhà nước, họ xuyên tạc rằng: “Nói là Nhà nước pháp quyền, nhưng trên thực tế, luật pháp không được tôn trọng...”; “hệ thống tổ chức, bộ máy cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả”... Đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, họ cho rằng: “Hoạt động chỉ là hình thức, kém hiệu quả”... Vấn đề xã hội, họ cho rằng: "Mất dân chủ, vi phạm nhân quyền...". 

Nhận diện những vấn đề trên là một hoạt động khó khăn, phức tạp. Bởi lẽ, các đối tượng thường sử dụng internet, mạng xã hội Facebook, YouTube, Twitter, Zalo... và các phương tiện truyền thông khác như các đài phát thanh, truyền hình VOA, RFA, BBC, RFI... để tuyên truyền xuyên tạc, chống phá bằng những thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc, khó lường. Một trong những thủ đoạn nguy hiểm nhất mà họ thường sử dụng, đó là mượn các thông tin, sự kiện có thật đã xảy ra, được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng hay được phát tán thông qua mạng xã hội để lồng ghép, biên tập, sửa chữa và thêm thắt các tình tiết ngụy tạo, bóp méo rồi được tung ra như một dạng thông tin chính thống. Sau đó, thông qua các hình thức tán phát, như bình luận theo chuyên đề, kể chuyện lịch sử, hội luận, ý kiến chuyên gia, người trong cuộc, ngoài cuộc... để xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo lịch sử, bóp méo sự thật. Cuối cùng, thông qua sự tương tác, bình luận (comment), ý kiến người đọc, người xem để định hướng dư luận theo ý đồ của họ. Với những thủ đoạn tinh vi, dàn dựng khá bài bản, có thể họ đã lừa phỉnh được một số người còn thiếu thông tin, nhận thức hạn chế, phiến diện. Thậm chí, có cả một bộ phận cán bộ, đảng viên còn mơ hồ, dao động, đã cố tình hoặc vô ý cổ xúy, tiếp sức cho các luận điệu sai trái, phản động, biểu hiện của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

Từ việc nhận rõ bản chất âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đối với công cuộc đổi mới đất nước nói chung, đổi mới trên lĩnh vực chính trị-xã hội nói riêng, chúng ta thấy rằng, vấn đề chính trị-xã hội ở Việt Nam luôn là mối quan tâm, chống phá hàng đầu của các đối tượng này. Bởi đây là vấn đề hệ trọng, liên quan đến sự ổn định và phát triển đất nước. Mục tiêu sâu xa của chúng là gây mất ổn định chính trị, xã hội, mất lòng tin của quần chúng đối với Đảng, Nhà nước, tất yếu dẫn tới rối loạn chính trị-xã hội, khủng hoảng và sụp đổ, dẫn tới xóa bỏ chế độ chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, thành quả cách mạng của đất nước, nhân dân ta.

Thực tế sinh động, minh chứng thuyết phục

Thành tựu sau hơn 36 năm đổi mới toàn diện đất nước đã khẳng định tính đúng đắn, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mô hình phát triển đất nước do Đảng, nhân dân ta lựa chọn. Đó là, minh chứng thuyết phục nhất để bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực phản động, thù địch. Nhìn lại lịch sử, những thành tựu đất nước đã đạt được trong công cuộc đổi mới, trong đó có đổi mới chính trị-xã hội với bước đi, hình thức phù hợp “toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(1). Cho đến nay, ở Việt Nam, không có tổ chức chính trị nào có thể thay thế được vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về năng lực điều hành, quản lý đất nước có nhiều chuyển biến mang tính đột phá. Hoạt động của Nhà nước về thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng với quyết tâm cao, hiệu quả thiết thực. Phát huy được mọi nguồn lực, động lực và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa; tháo gỡ nhanh, hiệu quả các điểm nghẽn, vướng mắc; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu gắn với phát huy sức mạnh đồng bộ của cả hệ thống chính trị; phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương; thực hiện tốt sự phối hợp trong lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước; coi trọng chất lượng và hiệu quả thực tế; tạo đột phá để phát triển. Chính phủ và các bộ tập trung hơn vào quản lý, điều hành vĩ mô và năng động giải quyết những vấn đề lớn, quan trọng. Cải cách hành chính tiếp tục được chú trọng và đạt kết quả tích cực.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, với phương châm “Hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư, thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội”(2) đã phát huy tốt chức năng, vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân, là cầu nối quan trọng giữa Đảng và nhân dân. Củng cố được lòng tin, sự gắn bó của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Những kết quả tích cực đó tạo ra nhiều thay đổi lớn trong đời sống xã hội, dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy, mở rộng hơn, người dân được thông tin, giám sát hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị, quyền làm chủ của nhân dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, nhất là trong lĩnh vực kinh tế và chính trị được phát huy tốt hơn. Hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách ngày càng thích ứng với thông lệ quốc tế, tính nghiêm minh trong thực hiện cao hơn.

Những kết quả đó khẳng định rằng đổi mới chính trị ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, trực tiếp là cơ sở để đất nước có được bước phát triển to lớn như hiện nay. Mặt khác, những hạn chế, yếu kém, sai lầm, khuyết điểm được Đảng, Nhà nước thẳng thắn chỉ rõ, như: Đổi mới chính trị chưa đồng bộ với đổi mới kinh tế, năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị chưa ngang tầm nhiệm vụ. Một số hạn chế, vướng mắc chậm được giải quyết, thậm chí kéo dài trong một số nhiệm kỳ, làm cho vận hành của các tổ chức trong hệ thống chính trị trong một số trường hợp thiếu thống nhất, thông suốt; việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế và quản lý đất nước; chưa chế định rõ, đồng bộ, hiệu quả cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở các cấp. Từ đó, nhiều tiềm năng, thế mạnh của đất nước chưa được phát huy đầy đủ... những hạn chế đó không thể ngày một, ngày hai có thể khắc phục triệt để mà phải có một quá trình khắc phục kết hợp với đổi mới lâu dài, khó khăn, phức tạp. Vấn đề là Đảng, Nhà nước đã thẳng thắn nhìn nhận và khắc phục với quyết tâm cao nhất.

Từ thực tiễn thành tựu và những hạn chế về đổi mới chính trị-xã hội ở Việt Nam trong sự phát triển của đất nước cho thấy, những kết quả đạt được là cơ bản, to lớn và có ý nghĩa lịch sử, càng khẳng định con đường, mô hình phát triển đất nước là đúng hướng; những hạn chế, thiếu sót khuyết điểm không làm thay đổi bản chất, tính đúng đắn, ưu việt của chế độ chính trị, nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng. Đồng thời, là luận cứ đanh thép nhất phản bác những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực phản động, thù địch, cơ hội chính trị thời gian qua./. 

                                        Báo Quân đội Nhân dân

Đọc tiếp »

PH.ĂNGGHEN - LÃNH TỤ THIÊN TÀI CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VÀ NHÂN DÂN LAO ĐỘNG TOÀN THẾ GIỚI

Năm 2023 những người cộng sản và công nhân quốc tế kỷ niệm lần thứ 203 năm Ngày sinh của Phơ-ri-đơ-rích Ăng-ghen (28/11/1820 - 28/11/2023), lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của giai cấp công nhân, người đã cùng với C.Mác xây dựng hệ thống lý luận khoa học, cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Ông là nhà bác học và người thầy, lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới.

Xuất thân từ một gia đình tư sản, nhưng Ph.Ăngghen đã hiến dâng toàn bộ cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân. Ông là người bạn, người đồng chí gần gũi nhất của C.Mác, đã cùng C.Mác xây dựng hệ thống lý luận cách mạng, khoa học của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, nghiên cứu lý luận, Ph. Ăngghen luôn tích nghiên cứu, tiếp thu, kế thừa những tinh hoa tư tưởng của nhân loại. Đồng thời luôn gắn chặt với thực tiễn phong phú, sinh động của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân. Ông được coi là người đầu tiên phát hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh giải phóng người lao động, xây dựng xã hội mới không có áp bức, bóc lột. 

Bước ngoặt vĩ đại nhất của Ph. Ăngghen trong hoạt động lý luận là cùng với C.Mác phát hiện, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử “đã tống cổ chủ nghĩa duy tâm ra khỏi hầm trú ẩn cuối cùng của nó”; phát hiện ra những quy luật khách quan của sự phát triển xã hội và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; xây dựng lý luận giá trị thặng dư chỉ ra các quy luật chi phối sự vận động, phát triển và diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản. Trong đó, khẳng định sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản “là tất yếu như nhau”.

Quá trình hoạt động lý luận bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác, bên cạnh những tác phẩm viết riêng của mình, Ph.Ăngghen đã cùng C.Mác viết chung rất nhiều tác phẩm nhằm củng cố, bổ sung, phát triển những nguyên lý của chủ nghĩa Mác và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, duy tâm, phản động của giai cấp tư sản. Bên cạnh đó, Ph.Ăngghen cũng đã bổ sung, phát triển những ý tưởng của C.Mác và tiếp tục hoàn thiện những công việc, những tác phẩm mà C.Mác chưa thực hiện xong. Ông đi sâu nghiên cứu các môn khoa học tự nhiên, quân sự, chính sách quốc tế; viết nhiều bài tổng kết kinh nghiệm các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân. Đặc biệt, Ph.Ăngghen cùng với C.Mác đã soạn thảo Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848). Đây là một văn kiện có tính chất cương lĩnh, là vũ khí lý luận, tư tưởng sắc bén của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh lật đổ sự thống trị xã hội của giai cấp tư sản, xây dựng một chế độ xã hội mới tốt đẹp hơn.

Ph. Ăngghen luôn gần gũi đi sâu tìm hiểu thực tế đời sống của các tầng lớp nhân dân và phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân trong xã hội tư bản đương thời. Trong những ngày tháng khó khăn của cách mạng, ông vẫn luôn giữ vững liên lạc với những người lãnh đạo và xây dựng các tổ chức cách mạng của giai cấp công nhân, trở thành lãnh tụ của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân các nước châu Âu ở nửa cuối thế kỷ XIX. Khi tham gia Quốc tế thứ nhất, ông cùng C.Mác đấu tranh không khoan nhượng với các trào lưu tư tưởng phi vô sản, cải lương, cơ hội.

Sau khi C.Mác qua đời, Ph.Ăngghen đã tập trung thời gian, công sức để hoàn thành những công việc mà Mác thực hiện còn giang dở. Ông đảm nhiệm vai trò lãnh đạo tổ chức những người theo chủ nghĩa xã hội ở châu Âu; dành nhiều thời gian, công sức truyền bá tư tưởng, lý luận cách mạng và khoa học của C.Mác, xây dựng các tổ chức cách mạng của giai cấp công nhân. Đồng thời, tiếp tục tuyên truyền, đấu tranh bảo vệ tư tưởng của C.Mác trước sự tấn công, xuyên tạc của các lực lượng thù địch. Bên cạnh đó, ông cũng xem xét lại cả những quan điểm lý luận của chính mình khi thời cuộc thay đổi và cuộc sống đặt ra những vấn đề mới. Đây thật sự là quan điểm biện chứng và phong cách của một nhà khoa học, một nhà cách mạng chân chính.

Trong hệ thống tác phẩm đồ sộ của mình, với tình cảm mãnh liệt, trí tuệ sáng suốt, tầm hiểu biết sâu rộng và sự lăn lộn trong thực tiễn phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản, Ph.Ăngghen vừa thể hiện phẩm chất của một lãnh tụ, người thầy vĩ đại của giai cấp vô sản, người chiến sĩ trung thành, tận tụy chiến đấu cho sự tiến bộ xã hội; vừa là một nhà bác học bách khoa, nhà lý luận quân sự thiên tài của giai cấp vô sản và loài người tiến bộ. Ông xứng đáng là “cây vĩ cầm thứ hai” bên cạnh C.Mác. Những tư tưởng vĩ đại của Ph.Ăngghen là khoa học thực sự và cách mạng triệt để, có giá trị bền vững và sức sống mạnh liệt trước mọi thử thách, đã và đang soi sáng cho giai cấp vô sản, nhân loại tiến bộ tiến lên phía trước, hướng tới một tương lai tốt đẹp. Đó là những tư tưởng có ý nghĩa thời đại rất to lớn

Ngày nay, mặc dù thực tiễn có nhiều biến đổi, nhưng tư tưởng của Ph.Ăngghen về chủ nghĩa xã hội khoa học, vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp, công tác xây dựng Đảng vẫn còn nguyên giá trị. Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là nền tảng tư tưởng và hành động cho các Đảng Cộng sản và phong trào công nhân quốc tế. Kiên định, vận dung và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn bám sát thực tiễn, đề ra đường lối lãnh đạo phù hợp với điều kiện của từng giai đoạn cách mạng và giành được những thành tựu có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 

Hơn 90 năm ra đời và phát triển, Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta, đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, đưa cách mạng Việt Nam hòa vào phong trào cách mạng của thế giới; tập hợp, đoàn kết, phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, kết hợp với sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thắng lợi vĩ đại có ý nghĩa lịch sử. Đó là bằng chứng hùng hồn, sinh động khẳng định sự đúng đắn, vai trò và ý nghĩa to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà Ph.Ăngghen là một trong những lãnh tụ sáng lập.  

Đánh giá về Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã viết: Ph.Ăngghen là nhà bác học và người thầy lỗi lạc nhất của giai cấp vô sản hiện đại trong toàn thế giới văn minh. Kỷ niệm 203 năm ngày sinh Ph.Ăngghen, mỗi chúng ta mãi trân trọng tất cả những gì Ông đã cống hiến cho khoa học, cho cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản vì lương tri và phẩm giá con người, vì sự bình đẳng và tiến bộ xã hội của các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Đồng thời, cũng hết sức trân trọng và học tập ở Ông tấm gương sáng ngời về nhân cách của người chiến sĩ cộng sản, đức khiêm tốn, sống có nghĩa, có tình, trong sáng, thủy chung với người bạn, người đồng chí của mình là C.Mác. Cùng với giai cấp công nhân và những người cộng sản trên toàn thế giới, giai cấp công nhân và những người cộng sản Việt Nam tự hào và biết ơn vô hạn đối với Ph.Ăngghen, nhà tư tưởng, lãnh tụ vĩ đại của mình.

Đọc tiếp »

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN NÓI PHẢI ĐI ĐÔI VỚI LÀM

 

          Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 03/02/1930 đánh dấu bước ngoặt lịch sử vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong suốt tiến trình lịch sử. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành điều kiện tiên quyết đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, Đảng ta luôn coi trọng việc nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên coi đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

Những năm qua, cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp đã lãnh đạo, chỉ đạo, cụ thể hoá, tổ chức thực hiện nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên tạo những chuyển biến tích cực. Phần lớn đội ngũ đảng viên luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, có ý thức rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, nói đi đôi với làm,  tự phê bình và phê bình, tiên phong, gương mẫu, xây dựng đoàn kết thống nhất trong Đảng, xây dựng mối quan hệ mật thiết với nhân dân. Những kết quả đạt được nêu trên có ý nghĩa quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên, phát huy tốt vai trò lãnh đạo của Đảng ở cơ sở, góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Tuy nhiên, một bộ phận đảng viên năng lực, trình độ, trách nhiệm chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu bản lĩnh chính trị, đấu tranh tự phê bình và phê bình yếu; tinh thần trách nhiệm, ý chí phấn đấu giảm sút; chưa gương mẫu, sống thực dụng; suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", vi phạm nguyên tắc, kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật. Đặc biệt tình trạng tình trạng “nói không đi đôi với làm”, “nói một đàng làm một nẻo”, “nói mà không làm”; bệnh nói dối, làm sai, nói và làm không thống nhất vẫn còn tồn tại trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, đã làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng. 

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên ráo riết thực hiện âm mưu chống phá Đảng với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi xảo quyệt bôi nhọ, xuyên tạc, hạ thấp uy tín, vai trò của Đảng, chia rẽ Đảng với Nhà nước, Quân đội và nhân dân, phủ nhận thành quả cách mạng, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, trong đó chúng tập trung khoét sâu chống phá vào nội bộ Đảng vào đội ngũ đảng viên của Đảng.

Tình hình trên đặt ra yêu cầu trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, phát huy vai trò tiền phong gương mẫu đi đầu, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm nhất là nói đi đôi với làm của cán bộ, đảng viên trở nên cần thiết hơn bao giờ hết trong giai đoạn hiện nay. Để nâng cao trách nhiệm nói đi đôi với làm trong đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp, các ngành, các đoàn thể, mỗi cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, đẩy mạnh thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khoá XII về tiếp tục “Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XI về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay, Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Nghị quyết Trung ương 5 Khóa XIII về  tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới.

Hai là, thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên thấm nhuần sâu sắc tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì hại dân ta phải hết sức tránh”(1)Nói đi đôi với làm không chỉ là nguyên tắc, đạo đức, lẽ sống mà còn là biểu hiện của sự gương mẫu trong thực hiện nhiệm vụ được giao; mỗi cán bộ, đảng viên phải là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Ba là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, sớm phát hiện những biểu hiện sai lệch trong cách nói, cách làm trong công việc. Mở rộng và phát huy dân chủ trong Đảng, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, rút kinh nghiệm sau mỗi phong trào hoạt động của cơ quan, đơn vị. Đây là cơ sở xây dựng đức tính trung thực, thẳng thắn, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của cán bộ, đảng viên. Phát hiện, bồi dưỡng và nhân rộng điển hình, gương người tốt, việc tốt gắn với đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng và kịp thời xử lý các hành vi vi phạm; bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; khơi dậy, phát huy ý chí, tinh thần cống hiến, vì lợi ích chung, tạo sức mạnh tổng hợp, góp phần quan trọng để cán bộ, đảng viên phấn đấu trở thành tấm gương tiêu biểu trong thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị được giao.

Bốn là, thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm thực hiện nêu gương đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là cán bộ chủ trì, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương. Cán bộ cấp trên phải gương mẫu trước cán bộ cấp dưới, đảng viên và nhân dân để thực sự trở thành tấm gương sáng cho mọi người noi theo. Vấn đề nêu gương của cán bộ, đảng viên cũng được đề cập rất nhiều lần trong các văn kiện, Chỉ thị, Nghị quyết, Quy định của Đảng như: Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư (Khóa XI) về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; Quy định số 55-QĐ/TW ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị (Khóa XII) đã nghiêm cấm một số việc và yêu cầu cán bộ, đảng viên thực hiện nghiêm một số việc, nhằm tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, giữ gìn hình ảnh, uy tín của Đảng; Quy định 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên đã thẳng thắn chỉ rõ những nội dung cán bộ, đảng viên phải nghiêm khắc với bản thân và kiên quyết chống, tập trung vào những khuyết điểm, yếu kém, bức xúc trong xã hội do cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu gây ra; việc nêu gương không chỉ tự thân cán bộ, đảng viên, mà còn trong quan hệ đối với người thân, gia đình, đối với công việc, tập trung vào các vấn đề về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong công tác, việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, chấp hành kỷ cương, kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân...

Năm là, nêu cao tinh thần tự học, tự nghiên cứu theo tư tưởng Hồ Chí Minh, học ở mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh, học ở trường, lớp, sách, vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân, với tinh thần học tập suốt đời để nâng cao trình độ về mọi mặt; trên cơ sở nhiệm vụ được giao, cần xác định rõ trách nhiệm của mình, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Phân tích chất lượng đảng viên, đánh giá cán bộ phải dựa trên cơ sở kết quả công việc, không chung chung, đại khái, phải đi sâu đi sát, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện công việc được giao.

Sáu là, ra sức thực hành nói đi đôi với làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là biểu hiện trách nhiệm của mỗi cá nhân, tổ chức trong mọi hoạt động, cần được tiến hành thường xuyên, liên tục. Với mỗi cán bộ, đảng viên thì điều này càng quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết vì cán bộ là gốc của mọi công việc, là những tấm gương sống để quần chúng noi theo.  Bởi lẽ, theo Hồ Chí Minh: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(2). Học phải đi đôi với hành, lý luận phải gắn với thực tiễn: Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông(3)

Trong giai đoạn hiện nay, hơn bao giờ hết, mỗi cán bộ, đảng viên nhất là cán bộ chủ trì các cấp phải nêu cao nhận thức trách nhiệm trước Đảng, trước Tổ quốc và nhân dân, nói đi đôi với làm, suy nghĩ và hành động thiết thực gương mẫu trong cả lời nói và việc làm ở mọi lúc, mọi nơi, mọi công việc, mọi cương vị chức trách. Phát huy hành động gương mẫu của người đảng viên phải khơi dậy, củng cố, phát huy sự tự ý thức về tính tiên phong, sự tự tu dưỡng, rèn luyện nghiêm túc, thường xuyên, bền bỉ của mỗi cán bộ, đảng viên; đồng thời, phải phát huy vai trò của các thiết chế chính trị, văn hóa, xã hội, tạo dựng sức mạnh tổng hợp, môi trường lành mạnh để nuôi dưỡng, phát huy hành động tiên phong, gương mẫu của người đảng viên. Qua đó, mỗi cán bộ, đảng viên sẽ ngày càng hoàn thiện bản thân trên mọi phương diện, nhiều cá nhân nêu gương tốt sẽ góp phần xây dựng tập thể nêu gương, tổ chức đảng nêu gương, toàn Đảng nêu gương để Đảng ta thật sự “là đạo đức, là văn minh”, xứng đáng với sự tin cậy, yêu mến của nhân dân.

Hoàng Trọng Thiết

 

Tài liệu tham khảo:

          (1) Hồ Chí Minh (1945), “Sao cho được lòng dân?”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 51.

(2) Hồ Chí Minh (1924), “Thư gửi đồng chí Pêtơrốp, Tổng thư ký Ban Phương Đông”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 284.

          (3) Hồ Chí Minh (1957), “Diễn văn khai mạc Lớp học lý luận chính trị Khóa I Trường Nguyễn Ái Quốc”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 95.

 

 

Đọc tiếp »

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA CHÍNH TRỊ VÀ ĐẠO ĐỨC VÀO XÂY DỰNG PHẨM CHẤT CHÍNH TRỊ - ĐẠO ĐỨC CHO THANH NIÊN BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG HIỆN NAY

 


Cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, luôn lấy độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội làm mục tiêu chung để mọi hoạt động chính trị và đạo đức hướng tới thực hiện. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng không chỉ dừng lại ở những chuẩn mực, quy tắc sống của các cá nhân trong quan hệ sinh hoạt hàng ngày, mà nó còn hàm chứa thái độ của mỗi người trong giải quyết các mối quan hệ xã hội phong phú, đòi hỏi sự tự nguyện, đức hy sinh của mỗi người, chứa đựng những giá trị xã hội lớn lao, mang nội dung nhân văn sâu sắc.

Sự thống nhất giữa lý tưởng chính trị cách mạng và đạo đức cao đẹp là cơ sở của những hành động cách mạng dũng cảm hy sinh quên mình, là cơ sở để mỗi người tự giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, nghĩa vụ và quyền lợi, giữa nghĩa vụ pháp lý và nghĩa vụ đạo đức trước vận mệnh dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Khẳng định sự thống nhất giữa đạo đức với chính trị, Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh: “Nói tóm lại, chính trị là đức, chuyên môn là tài. Có tài mà không có đức là hỏng. Có đức mà chỉ i, tờ thì dạy thế nào? Đức phải có trước tài.[5, tr. 269]. Người còn chỉ rõ sự thống nhất giữa đạo đức và chính trị cách mạng có nguồn gốc sâu xa từ bản chất tốt đẹp của cách mạng vô sản và nhân cách mẫu mực của người cộng sản.

Trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, mục tiêu chính trị cao cả là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã được mỗi người giác ngộ, chuyển hoá thành lương tâm, nghĩa vụ đạo đức, nguyện chiến đấu hy sinh cho quyền lợi của dân tộc, lợi ích của nhân dân. Người cũng dạy rằng: “Đó là đạo đức cách mạng. Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người” [2, tr. 292]. Sự thống nhất giữa chính trị và đạo đức được thể hiện sâu sắc, trước hết trong phẩm chất nhân cách của người cán bộ cách mạng. Trau dồi đạo đức là yêu cầu nền tảng của mỗi con người. Yêu cầu đó càng trở nên cấp thiết đối với người cán bộ cách mạng, những nhà hoạt động chính trị - xã hội chuyên nghiệp. Người căn dặn: “Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính… Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay là không” [4, tr. 354].

Giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên là xây dựng cái nền tảng, cái “gốc” vững chắc của người cán bộ, đảng viên. Nội dung giáo dục bao gồm hệ thống các phẩm chất, chuẩn mực đạo đức cách mạng rất phong phú và mang nội dung chính trị sâu sắc. Trong đó, trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất chính trị - đạo đức hàng đầu, khẳng định trách nhiệm chính trị và nghĩa vụ đạo đức của mỗi cá nhân đối với xã hội, của mỗi người dân đối với Tổ quốc. Cơ sở vững chắc của lòng trung thành đó phải được xây dựng bằng sự giác ngộ về lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối của Đảng, nhiệm vụ cách mạng. Trung với nước phải gắn liền với “hiếu với dân”. Nhân dân là chủ và cán bộ phải hết lòng phụng sự, làm đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Đạo trung - hiếu đó phải được biểu hiện trong thực tiễn cuộc sống là phấn đấu: “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”, với tinh thần xả thân: “Mình đánh giặc là vì dân. Nhưng không phải là “cứu tinh” của nhân dân, mà mình có trách nhiệm phụng sự nhân dân” [3, tr. 76]. Cùng với phẩm chất đạo đức “Trung với nước, hiếu với dân”, Hồ Chí Minh còn luôn nhắc nhở mỗi công dân, nhất là mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên trau dồi phẩm chất đạo đức: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Sự thống nhất giữa chính trị và đạo đức trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn đòi hỏi luôn kết hợp chặt chẽ giữa lòng yêu nước chân chính với tinh thần quốc tế cao cả, trong sáng. Yêu quý nhân dân nước mình, đồng thời phải kính trọng, yêu quý, giúp đỡ nhân dân nước bạn. Thể hiện tinh thần đoàn kết “bốn phương vô sản đều là anh em”.

        Hiện nay, trước những yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới (ANBG) quốc gia, vấn đề xây dựng phẩm chất chính trị - đạo đức cho thanh niên Bộ đội Biên phòng (BĐBP), nhất là ở các đơn vị cơ sở BĐBP tiếp tục được xác định là một nhiệm vụ quan trọng của lực lượng. Để việc xây dựng phẩm chất chính trị - đạo đức cho thanh niên BĐBP hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh được thực hiện có hiệu quả hơn nữa, cần tập trung vào một số vấn đề sau:

Một là, tăng cường công tác giáo dục, quán triệt để thanh niên BĐBP nhận thức đúng đắn và vận dụng có hiệu quả hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa chính trị và đạo đức trong xây dựng phẩm chất chính trị - đạo đức cho bản thân và cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị. Để công tác giáo dục, quán triệt về xây dựng phẩm chất chính trị - đạo đức có hiệu quả và đi vào chiều sâu cần lồng ghép vào chương trình giáo dục chính trị của các đơn vị kết hợp với quá trình thực hiện Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 05- CT/TW, ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Bộ Chính trị (Khoá XII) về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28/12/2021 của Quân uỷ Trung ương về “Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”; Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”.

Hai là, tiếp tục thực hiện tốt việc đẩy mạnh “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và lời dạy của Bác Hồ đối với BĐBP”. Để vấn đề này được thực hiện đi vào chiều sâu cần phải gắn việc triển khai thực hiện với quá trình xây dựng phẩm chất chính trị - đạo đức cho cán bộ, chiến sĩ BĐBP nhất là cho bộ phận thanh niên trong lực lượng. Cụ thể cần tập trung vào công tác giáo dục nhằm: Nâng cao, ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; tinh thần, ý thức tập thể xã hội chủ nghĩa; lề lối, tác phong công tác; tinh thần đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân - dân, đoàn kết quốc tế; lối sống trong sạch, lành mạnh, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, tiêu cực.

Ba là, phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng ở đơn vị đối với việc giáo dục, hướng dẫn xây dựng phẩm chất chính trị - đạo đức cho thanh niên BĐBP. Muốn thực hiện tốt vấn đề này trước hết cần phải quan tâm xây dựng các tổ chức này vững mạnh. Đây là trách nhiệm không chỉ của lãnh đạo, chỉ huy các cấp, của những cán bộ “Đoàn”, “Hội” mà còn là trách nhiệm chung của toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong từng đơn vị. Đi sâu vào việc giáo dục, hướng dẫn xây dựng phẩm chất chính trị - đạo đức cho thanh niên BĐBP, để phát huy tốt vai trò của mình, đòi hỏi các tổ chức quần chúng cần phải đưa nội dung xây dựng phẩm chất chính trị - đạo đức vào chương trình hành động của đoàn, hội; thường xuyên tổ chức các buổi học tập, bồi dưỡng để nâng cao nhận thức cho các thành viên về vai trò của xây dựng phẩm chất chính trị - đạo đức trong quá trình hoàn thiện nhân cách người quân nhân cách mạng, nội dung và biện pháp để xây dựng phẩm chất chính trị - đạo đức gắn với tình hình thực tiễn của đơn vị mình.

Bốn là, tích cực nhân rộng các gương điển hình, tiên tiến về xây dựng phẩm chất chính trị - đạo đức của các cá nhân và tập thể trong thanh niên BĐBP. Xây dựng và nhân rộng các gương điển hình tiên tiến trước hết phải bắt đầu từ sự cố gắng, nỗ lực của từng cá nhân, đơn vị. Mặt khác, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cũng cần thiết phải quan tâm chỉ đạo, xây dựng các “đơn vị điểm về phẩm chất chính trị - đạo đức trong thanh niên” qua đó tổ chức phổ biến và tổng kết những kinh nghiệm hay để áp dụng trong thanh niên toàn lực lượng. Quan tâm theo sát quá trình xây dựng phẩm chất chính trị - đạo đức cho thế hệ trẻ từ đó phát hiện, động viên, khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân có thành tích tốt trong xây dựng phẩm chất chính trị - đạo đức. Đồng thời phải kiên quyết xử lý với các hình thức kỷ luật nghiêm đối với những thanh niên trong lực lượng vi phạm phẩm chất, đạo đức, lối sống ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và uy tín của BĐBP nói chung cũng như quá trình xây dựng phẩm chất chính trị - đạo đức của thanh niên BĐBP nói riêng.

* Dương Ngọc Hưởng

Tài liệu tham khảo:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Số: 01-KL/TW ngày 18.5, Hà Nội.

2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội - 2011. 

3. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, Hà Nội - 2011.

4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG, Hà Nội - 2011.

5. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, Hà Nội - 2011.

Đọc tiếp »

Phát triển văn hóa Đảng trong không gian số

Chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong đời sống chính trị, văn hóa và xã hội. T...