Tóm tắt: Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930) là bước ngoặt vĩ đại, đánh dấu thắng lợi của quá trình tìm
đường cứu nước đầy gian khổ và sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Không chỉ tiếp thu lý luận Mác - Lênin, Hồ
Chí Minh còn vận dụng và phát triển sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, một nước thuộc địa nửa phong kiến,
hình thành nên Đảng kiểu mới - Đảng của giai cấp công nhân, nhân dân lao
động và của dân tộc Việt Nam. Nhận
thức sâu sắc tư tưởng đó không chỉ giúp hiểu rõ bản chất cách mạng của Đảng, mà
còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện
nay, nhất là trong điều kiện Việt Nam đang đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Những quan điểm của Hồ Chí Minh về quy luật hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam
không chỉ mang giá trị lịch sử, mà còn chứa đựng ý nghĩa lý luận, thực tiễn sâu
sắc đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.
Từ
khóa: Đảng Cộng sản, Hồ Chí Minh
1. Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh về quy luật hình thành
Đảng Cộng sản Việt Nam
Quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh tìm
thấy trong chủ nghĩa Mác những chân lý phổ biến của thời đại, đó là sự ra đời,
phát triển và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, vai trò lãnh đạo của Đảng
cộng sản, đội tiên phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân hướng tới
mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng con người, giải phóng nhân loại khỏi
mọi sự áp bức, bóc lột, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa. Theo học thuyết Mác - Lênin, điều kiện tiên
quyết để giai cấp công nhân thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình là
phải có một tổ chức tiên phong, lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu
chiến đấu là hạt nhân đại biểu cho trí tuệ, lợi ích, nguyện vọng của toàn thể
giai cấp, đó là Đảng Cộng sản. Đảng Cộng sản là sản phẩm của
sự kết
hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân. Các ông khẳng định: “Giai cấp công nhân chỉ khi nào tổ chức ra chính đảng độc
lập…thì mới có thể hành động với tư cách là một giai cấp được”. V.I.Lênin
nhấn mạnh: “Không có tổ chức đó thì giai cấp công nhân sẽ không có khả năng
vươn đến một cuộc đấu tranh tự giác”. Tiếp thu thế giới quan, phương pháp luận cách mạng và
khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, bằng thiên tài trí tuệ, nhận thức đúng xu
thế phát triển tất yếu của loài người và tính chất của thời đại mới. Hồ Chí
Minh khẳng định sự cần thiết phải thành lập Đảng Cộng sản theo học thuyết Mác-
Lênin ở các nước thuộc địa. Hồ Chí Minh khẳng
định: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường
cách mạng vô sản và trong tác phẩm Đường cách mệnh (1927), Người khẳng định:
“Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có đảng cách mệnh, để
trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức
và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người
cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Người chỉ rõ: muốn
cách mạng Việt Nam thành công, phải có
một Đảng kiểu mới, mang bản chất của giai cấp công nhân, lấy chủ nghĩa
Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, đồng thời biết gắn bó với dân tộc và vận
dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể. Người
nêu rõ: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch
sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn
thể nhân loại... Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó
bằng dân tộc học phương Đông. Đó chính là nhiệm vụ mà các Xô viết đảm nhiệm
(ban thuộc địa của chúng tôi vừa nhận được thư mời chúng tôi tham gia công tác
này)”.
Như vậy, Hồ
Chí Minh không tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin một cách giáo điều, mà luôn vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của
Việt Nam.
Sau khi hoàn
thành công cuộc xâm lược vào cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp tiến hành thiết lập
bộ máy cai trị và tiến hành khai thác thuộc địa. Xã hội Việt Nam có nhiều biến
đổi sâu sắc trong tình trạng
nửa phong kiến, nửa thuộc địa, đầy những mâu
thuẫn gay gắt về chính trị, kinh tế, xã hội và tư tưởng. Trước tình cảnh đất nước bị xâm lược và áp bức, ý thức dân tộc, tinh
thần tự cường, ý chí độc lập được khơi dậy mạnh mẽ. Các phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX diễn ra
sôi nổi, phong phú về hình thức. Tuy nhiên, do hạn chế về tư tưởng và
phương pháp, các phong trào này dần lụi tàn nhưng đã để lại ảnh hưởng sâu sắc,
thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân, góp phần truyền bá tư tưởng canh tân, cổ
vũ tinh thần dân tộc. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu bức thiết: cần một đảng cách
mạng kiểu mới, có đường lối khoa học, thống nhất và đủ năng lực lãnh đạo cách
mạng Việt Nam
Sau
chiến tranh thế giới thứ nhất, đặc biệt từ khi Cách mạng Tháng Mười Nga năm
1917 thành công, chủ nghĩa Mác - Lênin bắt đầu được truyền bá vào Việt Nam.
Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên tiếp thu và truyền bá học thuyết này vào phong
trào cách mạng Việt Nam. Sự kiện Nguyễn Ái Quốc gửi “Bản yêu sách của nhân dân
An Nam” tới Hội nghị Versailles năm 1919 đánh dấu bước chuyển quan trọng: từ
chủ nghĩa yêu nước truyền thống sang lập trường cách mạng vô sản. Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường
cứu nước đúng đắn- con đường cách mạng
vô sản, phong trào công nhân Việt Nam có bước phát triển, giai cấp công
nhân Việt Nam trở
thành lực lượng xã hội
mới có tinh thần cách mạng. Các cuộc bãi công ở Ba Son (1925), Nam Định,
Hải Phòng, Sài Gòn đã đánh dấu sự trưởng thành của giai cấp công nhân Việt Nam.
Đặc biệt, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phong trào dần chuyển từ tự phát sang tự giác, giai cấp công
nhân Việt Nam bước lên vũ đài chính trị, trở thành nòng cốt của phong trào cách mạng
dân tộc.
Những tổ chức cách mạng đầu tiên
mang màu sắc vô sản ra đời, như Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1925), Tân
Việt Cách mạng Đảng (1928), Đông Dương Cộng sản Đảng (1929). Tất cả chuẩn bị
cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt
Nam năm 1930. Sự sáng tạo của Hồ
Chí Minh về quy luật hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam trên những nội dung cơ bản:
Thứ
nhất, Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển học thuyết Mác -Lênin, bổ sung thêm
yếu tố “phong trào yêu nước” cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Trong hoàn cảnh một
nước thuộc địa lạc hậu, Việt Nam chưa có đủ những tiền đề cơ bản cho một Đảng Cộng
sản ra đời như ở Nga và một số nước khác. Hồ Chí Minh đã sáng tạo trong việc
kết hợp nhân tố dân tộc và nhân tố giai cấp để thành lập Đảng Cộng sản. Nhân tố
dân tộc là chủ nghĩa yêu nước, nhân tố giai cấp là chủ nghĩa Mác - Lênin và
phong trào công nhân. Trong điều kiện giai cấp công nhân Việt Nam chưa phát triển
về số lượng, để tổ chức thành lập Đảng Cộng sản, Người coi trọng việc truyền bá
chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.
Hồ Chí Minh là người đã tiếp thu, vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết
Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Trong quá trình đó, Người đã có
những đóng góp đặc sắc, trong đó nổi bật là việc kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với
phong trào yêu nước, tạo nên một bước phát triển mới về lý luận
cách mạng ở các nước thuộc địa, đặc
biệt là Việt Nam.
Hồ Chí Minh tiếp
thu học thuyết Mác - Lênin một cách khoa học, chọn lọc và sáng tạo. Người tìm thấy trong học thuyết này “cái cẩm nang thần kỳ để giải
phóng dân tộc”.
Nắm vững những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin về xây dựng Đảng của
giai cấp công nhân. Hồ Chí Minh đã phát triển học thuyết này theo hướng gắn lý luận cách mạng vô sản với
thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc ở một nước thuộc địa nửa phong kiến như Việt Nam.
Người nhận thấy, ở Việt Nam, một nước bị áp bức,
dân tộc mất độc lập, động lực mạnh mẽ nhất của quần chúng không phải là ý thức
giai cấp, mà là tinh thần yêu nước. Hồ Chí Minh khẳng định: “Ở phương Đông, chủ nghĩa yêu nước
là động lực lớn của sự phát triển”.
Điểm sáng tạo nổi bật của Hồ Chí Minh là việc bổ sung yếu tố “phong trào yêu nước”
vào học thuyết Mác - Lênin. Người coi việc kết hợp chủ nghĩa yêu nước
với chủ nghĩa quốc tế vô sản là quy luật tất yếu để dẫn dắt cách mạng Việt Nam
đến thắng lợi. Chính từ sự kết hợp đó, Hồ Chí Minh đã xác định con đường cách mạng Việt Nam là con đường “độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội”,
một bước phát triển sáng tạo so với học thuyết Mác - Lênin vốn tập trung vào
cách mạng vô sản ở các nước tư bản phát triển. Sự vận dụng sáng tạo này không
chỉ góp phần giải phóng dân tộc Việt Nam mà còn mở ra một hướng đi mới cho phong trào
cách mạng ở các nước thuộc địa trên thế giới. Đây chính là sự
phát triển sáng tạo của học thuyết Mác - Lênin trong điều kiện Việt Nam, đồng
thời là cống hiến to lớn của Người đối với lý luận cách mạng thế giới.
Thứ hai,
Hồ Chí Minh đã nhận ra và đánh giá đúng vị trí, vai trò to lớn của chủ nghĩa yêu
nước, coi đó là một động lực cực kỳ mạnh mẽ của cách mạng.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. Hồ Chí Minh sớm nhận thấy rằng, ở
các nước thuộc địa như Việt Nam, nơi giai cấp công nhân còn non trẻ và ý thức
giai cấp chưa phát triển, thì chủ nghĩa yêu nước chính là nguồn sức mạnh to lớn nhất
có thể tập hợp, đoàn kết toàn dân tộc. Hồ Chí Minh
nhìn thấy chủ nghĩa yêu nước xuất hiện ở mọi giai cấp, tầng lớp nông dân, công
nhân, tiểu thương, học trò…và đó là lẽ sống được truyền từ thế hệ này sang thế
hệ khác, là cơ sở xã hội vô cùng rộng lớn để thúc đẩy cách mạng xã hội chủ
nghĩa thắng lợi. Chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn
kết, thống nhất về ý chí và hành động quyết tâm bảo vệ, xây dựng và phát triển
Tổ quốc, đó luôn là nguồn lực to lớn có ý nghĩa quyết định trong cách mạng xã hội
chủ nghĩa. Chính vì vậy, khi tiếp cận chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh không
xem cách mạng vô sản chỉ là cuộc đấu tranh giai cấp thuần túy, mà là sự nghiệp
giải phóng dân tộc, do Đảng Cộng sản lãnh đạo, lấy tinh thần yêu
nước làm nền tảng tinh thần và động lực quần chúng.
Hồ Chí Minh không
chỉ kế thừa truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam mà còn nâng lên thành lý
luận cách mạng, coi đó là động lực chủ yếu của cách mạng giải phóng dân tộc.
Đây là sáng tạo lớn, thể hiện tầm nhìn và bản lĩnh chính trị khi Người kết hợp
tinh hoa dân tộc với chủ nghĩa Mác - Lênin. Người nhận thức sâu sắc vai trò quyết
định của chủ nghĩa yêu nước, xem đó không chỉ là tình cảm tinh thần mà còn là động
lực chính trị - xã hội để đoàn kết toàn dân. Thực tiễn các phong trào chống thực
dân Pháp cho thấy lòng yêu nước là lực hút mạnh mẽ trong xã hội. Đặc biệt là
trong điều kiện một nước thuộc địa, nhiệm vụ trước mắt là giải phóng dân tộc và
phong trào yêu nước chính là thực tế, là nguồn lực lớn nhất thúc đẩy cách mạng
tiến lên. Ở đây, Hồ Chí Minh đã kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước xuất
phát từ truyền thống lịch sử và yêu cầu thực tiễn cuộc đấu tranh. Trong thư gửi
Tổng thống hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1946, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Từ năm 1941
đến năm 1945, chúng tôi đã chiến đấu gian khổ và duy trì được là nhờ chủ nghĩa
yêu nước của đồng bào chúng tôi”
Chủ nghĩa yêu nước
là cơ sở tạo nên sự đoàn kết các giai cấp, tầng lớp trong xã hội qua đó hình
thành mặt trận dân tộc rộng rãi chống ngoại xâm, chống áp bức. Yêu nước là nguồn
động viên tinh thần và tập hợp lực lượng khơi dậy ý chí hi sinh, tinh thần
trách nhiệm cộng đồng, đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết. Người luôn
tin tưởng vào sức mạnh của lòng yêu nước và khả năng cách mạng của nhân dân.
Theo Người, chính nhân dân, những người thấm đượm tinh thần yêu nước, là lực lượng
quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Lòng yêu nước ấy không chỉ là
tình cảm tự nhiên mà được Hồ Chí Minh nâng lên thành lý tưởng chính trị, gắn liền
với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh là người cách mạng
xuất sắc, nhà tư tưởng chiến lược đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa Mác - Lênin
và truyền thống yêu nước Việt Nam.
Thứ ba, sự kết hợp này đã
giải quyết được yêu cầu của lịch sử: Gắn kết mục tiêu giải phóng dân tộc với giải
phóng giai cấp, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giúp Đảng ngay từ
khi ra đời đã hòa quyện trong lòng dân tộc.
Hồ Chí Minh nghiên
cứu và làm việc với tổ chức cộng sản quốc tế, thấy rõ tính chất giai cấp của
phong trào công nhân và mối liên hệ hữu cơ giữa yêu nước và giải phóng giai cấp
trong điều kiện một nước thuộc địa. Hồ Chí Minh trung thành với chủ nghĩa Mác -
Lênin cho rằng cách mạng vô sản là con đường tất yếu, nhưng Hồ Chí Minh xác định
ở các nước thuộc
địa, nhiệm vụ trước hết là giải phóng dân tộc. Chỉ khi giành được
độc lập, mới có điều kiện tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đây là một bước phát triển sáng tạo quan trọng, phản ánh sâu sắc
thực tiễn Việt Nam và các nước thuộc địa. Nội dung cốt lõi và đặc sắc nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thống nhất
biện chứng giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, là kết quả của
quá trình Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết Mác - Lênin
vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, một nước thuộc địa nửa phong kiến, nơi mâu
thuẫn dân tộc nổi lên hàng đầu. Ngay
từ khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã nhận thấy bản chất khoa học và cách mạng của học thuyết
này ở chỗ nó chỉ ra con đường giải phóng cho cả giai cấp công nhân lẫn các
dân tộc bị áp bức. Người khẳng định: “Muốn
cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng
vô sản”.
Như vậy, đối với Hồ Chí Minh, giải phóng dân tộc không tách rời mà phải gắn liền với con đường cách mạng xã hội
chủ nghĩa, vì chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đảm bảo độc lập dân tộc được
thực hiện triệt để và bền vững.
Hồ
Chí Minh cũng chỉ rõ: trong điều kiện Việt Nam, vấn đề dân tộc là trên hết, trước hết, bởi không thể nói đến giải
phóng giai cấp khi dân tộc chưa giành được độc lập. Tuy nhiên, sau khi giành
được độc lập, nếu không tiến lên chủ nghĩa xã hội thì thành quả cách mạng sẽ không
được bảo đảm. Người chỉ rõ nếu nước
được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng
có nghĩa lý gì. Điều đó thể hiện sâu sắc quan điểm nhất quán của Hồ Chí
Minh: độc lập dân tộc phải gắn liền với
hạnh phúc của nhân dân, tức là phải gắn với chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng gắn bó hữu
cơ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không chỉ là kim
chỉ nam cho cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX mà còn là định hướng lâu dài cho
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đó là di sản tư tưởng quý báu của Hồ Chí Minh,
thể hiện tầm nhìn chiến lược và bản lĩnh của một nhà cách mạng kiệt xuất.
2. Vận dụng
tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay
Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh về quy luật hình thành Đảng Cộng
sản Việt Nam bắt nguồn từ việc Người không rập khuôn theo mô hình châu Âu, mà
vận dụng linh hoạt vào hoàn cảnh Việt Nam, nơi phong trào yêu nước và phong
trào công nhân cần được thống nhất. Từ đó, Hồ Chí Minh đi đến kết luận: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của
sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào
yêu nước. Quan điểm này có ý nghĩa lý luận rất sâu sắc: nó mở rộng phạm
vi lý luận Mác - Lênin, đưa yếu tố yêu
nước vào công thức hình thành Đảng, phù hợp với điều kiện các nước thuộc
địa. Trong công tác xây dựng Đảng hiện nay, việc nắm vững quy luật đó nhắc nhở
mỗi cán bộ, đảng viên rằng Đảng ta không chỉ là Đảng của giai cấp công nhân, mà
còn là Đảng của dân tộc, mang sứ
mệnh đại đoàn kết toàn dân vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh.”
Tư tưởng Hồ Chí
Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng được hình thành, bổ sung, hoàn thiện gắn liền
với tiến trình cách mạng nước ta; chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong
toàn bộ di sản tư tưởng của Người. Các nghị quyết của Đảng về xây dựng Đảng qua
40 năm đổi mới, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, Nghị quyết
Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, XIII chính là sự vận dụng
và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong bối cảnh mới.

Từ Đại hội VI của Đảng đến nay, Ban Chấp hành Trung
ương Đảng đã ban hành 9 nghị quyết, Bộ Chính trị đã ban hành 6 nghị quyết
chuyên đề về xây dựng Đảng. Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16-1-2012, của Hội nghị
Trung ương 4 khóa XI, “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Kết
luận 01 của Bộ Chính trị khoá XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ
Chính trị khoá XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong
cách Hồ Chí Minh”. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
XIII chỉ rõ: “Trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa
xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và
cán bộ”. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản
Việt Nam không chỉ dừng lại ở việc xác định bản chất, vai trò, chức năng và sứ
mệnh của Đảng mà còn là kim chỉ nam cho toàn bộ công tác xây dựng, chỉnh đốn
Đảng.
Xây dựng Đảng về chính trị: Trong bối cảnh hiện nay, các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến
lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội
bộ, việc kiên định nền tảng tư tưởng càng có ý nghĩa sống còn. Trong xây dựng Đảng về chính trị phải đổi mới và nâng cao chất lượng công tác hoạch định đường lối, chủ
trương của Đảng; coi trọng nâng cao năng lực dự báo; bám sát và xuất phát từ thực
tiễn và tổ chức thực hiện có hiệu quả; nâng cao năng lực thể chế hóa, cụ thể
hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, công tác xây dựng Đảng về
chính trị cần tập trung: Kiên
định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên định đường lối đổi mới
vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Giữ vững bản chất
giai cấp công nhân của Đảng, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng. Giữ vững lập trường, bản lĩnh chính
trị vững vàng của cán bộ, đảng viên. Đấu tranh chống mọi biểu hiện sai trái,
xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Thực hành dân chủ trong
Đảng gắn liền với kỷ luật, kỷ cương. Nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị,
trí tuê, trình độ, tính chiến đấu của cấp ủy, tổ chức Đảng.
Xây dựng Đảng về tư tưởng: Vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng về tư tưởng trước hết phải giữa vững nền tảng
tư tưởng của Đảng, chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm đảm bảo cho
Đảng ta luôn giữ vững bản chất cách mạng, tiên phong, đoàn kết, thống nhất để xứng
đáng là đội tiên phong lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi. Đặc biệt, xây dựng Đảng về tư tưởng phải gắn liền với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh, làm cho tư tưởng cách mạng, nhân văn, khoa học
của Người thấm sâu vào đời sống tinh thần của mỗi đảng viên và nhân dân. Trong bối cảnh
toàn cầu hóa, kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, các luồng tư tưởng trái
chiều, cơ hội chính trị, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng đang tác động mạnh
mẽ đến đời sống xã hội. Vì vậy, xây dựng Đảng về tư tưởng là quá trình kiên quyết
và thường xuyên đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai
trái, thù địch,
cơ hội chính trị, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào con đường
cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn.
Xây dựng
Đảng về đạo đức: Một trong những sáng tạo quan trọng
nhất của Hồ Chí Minh là coi đạo đức
cách mạng là nền tảng của Đảng. Xây dựng Đảng về đạo đức càng có ý nghĩa
quan trọng khi Đảng ta trở thành đảng cầm quyền. Vận dụng tư tưởng của Người,
chúng ta tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức theo tinh
thần của Hồ Chí Minh “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” phù hợp với truyền thống
văn hóa tốt đẹp của dân tộc và điều kiện mới.
Đối với đạo đức của tổ chức Đảng: Đạo đức của tổ chức
Đảng là biểu hiện tập thể của phẩm chất, lối sống, trách nhiệm và văn hóa chính
trị của toàn bộ tổ chức trong quá trình lãnh đạo, quản lý và phục vụ nhân dân.
Đạo đức của tổ
chức Đảng
chính là “linh hồn” của Đảng, yếu tố quyết định uy tín, năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của Đảng trong mọi giai đoạn cách mạng. Do đó, tổ chức Đảng phải trung thành tuyệt đối với lý tưởng
cách mạng của Đảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội, không bao giờ dao động trước khó khăn, không thỏa hiệp với sai
trái, luôn giữ vững nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh. Biết
dựa vào dân, tôn trọng dân, lắng nghe dân, chịu sự giám sát của dân, vì nhân
dân mà phục vụ. Khi Đảng thật sự gắn bó với nhân dân, dựa vào dân để xây dựng
và chỉnh đốn, thì niềm tin của nhân dân đối với Đảng sẽ bền vững. Biết phát huy
dân chủ trong sinh hoạt, tôn trọng nguyên tắc tập trung dân chủ, đề cao tự phê
bình và phê bình, tinh thần đoàn kết và kỷ luật nghiêm minh, tiên phong trong đấu
tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Khi đạo đức tập thể được củng cố, Đảng
ta sẽ ngày càng trong sạch, vững mạnh, đủ uy tín và năng lực để lãnh đạo đất nước
phát triển bền vững, xứng đáng với niềm tin của nhân dân.
Đối với đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên: Phải thường xuyên
tuyên truyền, giáo dục để mỗi đảng viên thấm nhuần tư tưởng tư tưởng, đạo đức,
phong cách Hồ Chí Minh, gắn giáo dục đạo đức với việc học tập và làm theo tư tưởng,
đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách
mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình,
luôn vững vàng trước khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền
tài, danh vọng. Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng.
Thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương. Tăng
cường đấu tranh chống các quan điểm, hành vi phản đạo đức, phi đạo đức làm
cho việc “tu dưỡng đạo đức” trở thành nhu cầu tự thân của mỗi đảng viên.
Xây dựng Đảng về tổ chức: Chủ tịch Hồ Chí
Minh từng khẳng định: “Có tổ chức chặt chẽ thì cách mạng mới thành công. Không
có tổ chức, cách mạng sẽ rời rạc, tan rã”.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng về tổ chức cần thực hiện nghiêm
nguyên tắc “tập trung dân chủ”, “tự phê bình và
phê bình”, coi đó là quy luật phát triển của Đảng. Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ
chức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến
đấu của tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, đổi mới nội
dung, phương thức lãnh đạo, gắn công tác xây dựng Đảng với nhiệm vụ chính trị của
từng cơ quan, đơn vị, địa phương, phát huy vai trò nêu gương, kiểm tra, giám
sát, bảo đảm mọi đảng viên đều tuân thủ Điều lệ Đảng, giữ gìn kỷ luật, đạo đức,
lối sống, xây dựng đội ngũ cấp ủy, cán bộ lãnh đạo, quản lý, có phẩm chất, năng
lực và uy tín, có cơ chế phát hiện đào tạo và trọng dụng người có tài, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm, dám đổi
mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động
vì lợi ích của nhân dân, đất nước. Chủ động
phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên, xử lý nghiêm minh các hành vi
vi phạm kỷ luật đảng.
Xây dựng Đảng gắn bó mật thiết với
Nhân dân: Khẳng định Dân là gốc, là trung tâm, là chủ thể của công
cuộc đổi mới đất nước, của công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Tiếp tục quán triệt, tăng cường đối thoại, lắng nghe và
giải quyết kịp thời nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Phát huy vai trò giám
sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.
Kiên quyết phòng, chống quan liêu, xa dân, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí. Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể
hoá, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”
và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ
hưởng”. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu
chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng
viên. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Đổi mới nội dung, phương thức
tuyên truyền, vận động, sử dụng có hiệu quả các phương tiện thông tin đại
chúng, mạng xã hội theo hướng thiết thực, tăng cường đồng thuận, củng
cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Khi Đảng giữ được niềm tin của nhân dân, thì đó chính là
biểu hiện sinh động nhất của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựngĐảng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về quy luật hình thành của Đảng Cộng
sản Việt Nam là một sáng tạo vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử và lý luận to lớn đối
với cách mạng Việt Nam. Trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào
điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định quy luật tất yếu của
sự ra đời Đảng Cộng sản, kết quả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt
Nam. Đây là sự tổng kết sâu sắc quá trình phát triển lịch sử dân tộc, là
sáng tạo riêng có của Hồ Chí Minh, phản ánh bản lĩnh độc lập, tự chủ và trí tuệ
vượt thời đại. Những đóng góp của Hồ Chí Minh làm phong phú thêm học thuyết về
Đảng kiểu mới trong điều kiện thuộc địa; khẳng định con đường phát triển của
Đảng ở các nước đang đấu tranh giải phóng dân tộc và chứng minh tính phổ quát
nhưng linh hoạt của chủ nghĩa Mác - Lênin khi vận dụng vào từng hoàn cảnh cụ
thể.
Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đang đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, những giá trị tư tưởng
của Hồ Chí Minh về Đảng vẫn giữ nguyên giá trị chỉ đạo thực tiễn. Có thể khẳng
định, sự sáng tạo của Hồ Chí Minh về
quy luật hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ có ý nghĩa lịch sử, mà còn
có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đó là nền tảng tư tưởng, kim
chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng trong quá trình xây dựng, chỉnh đốn và phát
triển; đồng thời là nguồn cảm hứng, là ngọn đuốc soi sáng con đường cách mạng
Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Hoàng Trang, Phạm Ngọc
Anh (2000), Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập
dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội.
2. Ban Tuyên giáo Trung ương (2021), Học tập và làm theo tư
tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh - Chuyên đề toàn khóa Đại hội XIII,
Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
4. Phạm Văn Đồng (1990), Hồ Chí Minh- Một con
người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, Nxb Sự thật, Hà Nội.
5. Trần Văn Giàu (2005), Sự hình thành tư tưởng Hồ
Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
6. Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương- Hộ đồng Lý luận Trung
ương, Tài liệu hỏi- đáp về nội dung cơ
bản của văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb Cính trị
Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026
7. Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 1-15, Nxb Chính trị quốc gia Sự
thật, Hà Nội, 2011.
8. Đàm Văn Thọ, Vũ Hùng (1997), Mối quan hệ giữa Đảng và
dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.
9. Nguyễn Phú Trọng (2018), Xây dựng và chỉnh đốn Đảng - Một
số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
|
|
Phạm Quốc Khánh
Khoa lý luận Mác- Lênin,
tư tưởng Hô Chí Minh
|
C. Mác và PhĂng
ghen, Tuyển tập, tập 1, Nxb Sự thật, M.1962, tr.615.
V.I.Lênin, Tuyển tập, tập 4, Nxb Sự thật, M.1977, tr. 473.
Hồ Chí
Minh: Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.510.
Đảng
Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.180
Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, 2011,
tr.303.