Đấu tranh với những chiêu trò xuyên tạc hình ảnh lực lượng vũ trang nhân dân

Thời gian qua,  trên một số trang mạng xã hội phản động xuất hiện một số thông tin, hình ảnh phản cảm được gán ghép cho là của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân Việt Nam trong quá trình huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và trong công tác, với những tên gọi “rất kêu”, chẳng hạn như: “ Việt Tân”; “Yêu bộ đội”; “Yêu lính”; “Bộ đội của dân”...


Cần khẳng định ngay rằng đó là sự ngụy tạo trắng trợn của kẻ xấu nhằm xuyên tạc truyền thống tốt đẹp của lực lượng vũ trang Việt Nam, chia rẽ tình đoàn kết máu thịt giữa cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang với nhân dân.

Một trong những âm mưu, thủ đoạn nằm trong âm mưu,- thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch là “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, làm cho lực lượng vũ trang xa rời sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mất dần phương hướng chính trị, không xác định được mục tiêu chiến đấu, mục tiêu bảo vệ... Khi mà lực lượng vũ trang không còn là chỗ dựa thì ắt sẽ dẫn đến Đảng, chính quyền không còn được bảo vệ, mất vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý điều hành đất nước và chế độ sẽ sụp đổ.

Toan tính của họ là thế và trên thực tế chúng ta không thể phủ nhận những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đã đạt được những kết quả nhất định. Bài học xương máu của Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã cho thấy rõ điều đó. Quân đội Liên Xô - một đội quân hùng mạnh nhất thế giới, với bề dày hơn 70 năm xây dựng, chiến đẩu và trưởng thành đã bị vô hiệu hóa hoàn toàn trước những đòn thâm hiểm của mưu đồ “phi chính trị hóa”.

Đối với cách mạng Việt Nam và lực lượng vũ trang Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Đặc biệt sau khi chúng ta giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, tư tưởng “chiến thắng không cần chiến tranh” đã được chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ráo riết thực hiện. “Phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang nói chung và Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng luôn là một trong những mục tiêu nhất quán, xuyên suốt của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch. Để thực hiện “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, thời gian qua, các thế lực thù địch đã không từ bất cứ một thủ đoạn nào... Thế nhưng, có thể nói những đòn thâm hiểm, những thủ đoạn tinh vi mà các thế lực thù địch áp dụng nhằm “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang nói chung và quân đội nói riêng đã bị vô hiệu hóa!

Trải qua hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân đã khẳng định luôn là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Quân đội nhân dân Việt Nam thực sự là một quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.

Ngày nay, trong điều kiện, hoàn cảnh mới, lực lượng vũ trang nói chung, Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng tiếp tục được giáo dục, rèn luyện, huấn luyện, đầu tư vũ khí, trang bị phát triển theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đặc biệt, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân vững mạnh về chính trị, lấy đó làm cơ sở, nền tảng để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu. Do được xây dựng vững mạnh về mọi mặt nên Quân đội nhân dân và Công an nhân dân đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, lực lượng vũ trang nói chung, Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng luôn luyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Cùng với toàn Đảng, toàn dân, quân đội ta đã bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống;... Những thành quả, những chiến công mà Quân đội nhân dân và Công an nhân dân đã đạt được chứng tỏ những chiêu trò hòng “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đã bị vô hiệu hóa!

Thế nhưng các thế lực thù địch không dễ từ bỏ âm mưu chống phá Việt Nam. Khi mà “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân và Công an nhân dân không thực hiện được, chúng lại giở chiêu bài nói xấu, bôi nhọ hình ảnh, hạ thấp uy tín. Để thực hiện chiêu trò này, một mặt chúng đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, bóp méo những truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, bôi nhọ hình ảnh, phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Mặt khác, chúng tán phát tài liệu, tung tin đồn nhảm, gán ghép, ngụy tạo hình ảnh để vu cáo, nói xấu cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân...

Cần phải nói rõ rằng hành vi lợi dụng các diễn đàn, mạng xã hội để tung ra những thông tin, hình ảnh nhằm mục đích bôi nhọ danh dự, uy tín Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là hành vi vi phạm pháp luật. Đây là một loại tội phạm không gian ảo hết sức nguy hiểm, vi phạm pháp luật Việt Nam. Mục đích của chiêu trò này không gì khác là nhằm giảm sút niềm tin của nhân dân vào quân đội và công an; chia rẽ khối đại đoàn kết, tạo sự hoài nghi, ngờ vực trong xã hội, đặc biệt là chia rẽ mối quan hệ đoàn kết giữa Quân đội nhân dân và Công an với nhân dân... Cùng với đó, xuyên tạc truyền thống cũng là cách để họ đánh vào tư tưởng hòng làm giảm sút tinh thần, sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân... Những chiêu trò ấy xét đến cùng đều nhằm phục vụ cho mưu đồ “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang nói chung và Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng mà các thế lực thù địch đang tiến hành.

Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần phải cảnh giác, tẩy chay những thông tin độc hại, không tiếp tay cho kẻ xấu lan truyền những thông tin ảo. Nếu ai đó nhẹ dạ tin vào những tài liệu, hình ảnh ngụy tạo ấy là đã mắc mưu kẻ xấu, trúng kế của các thế lực thù địch. Để vô hiệu hóa chiêu trò này, mỗi chúng ta cần nâng cao khả năng đề kháng, không mơ hồ, chủ quan, mất cảnh giác, cần hết sức tỉnh táo để nhận rõ tính ngụy tạo, xuyên tạc của những tài liệu, hình ảnh đó... Cách tốt nhất để giúp nhân dân và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang tỉnh táo, “miễn dịch” và nhận diện rõ sự thâm hiểm đằng sau những chiêu trò ấy là phải thường xuyên tuyên truyền, giáo dục, phổ biến, trang bị cho mọi người những kiến thức cần thiết. Nhận diện rõ, có kiến thức cũng là cách giúp chúng ta luôn chủ động, nhạy bén, tích cực tham gia đấu tranh, vạch trần tính chất phản khoa học, vô căn cứ trong những âm mưu, thủ đoạn thâm hiểm, ngày càng tinh vi của các thế lực thù địch. Cùng với đó thông qua công tác dân vận cần tạo môi trường thuận lợi để phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, phẩm chất người công an cách mạng ngày càng tỏa sáng trong điều kiện mới. Thông qua những nghĩa cử, việc làm tốt đẹp, đem lại hiệu quả thiết thực để tăng cường, củng cố niềm tin của nhân dân vào Quân đội nhân dân và Công an nhân dân.

Đại tá, ThS Đặng Thành Nam,  Khoa Lý luận Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh


Đọc tiếp »

Quán triệt, vận dụng tốt quan điểm chỉ đạo “2 kiên định, 2 đẩy mạnh, 2 ngăn ngừa” và phương châm “5 vững” vào định hướng tư tưởng cho học viên trong giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn quân sự ở Học viện Biên phòng hiện nay

 

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đặt ra những yêu cầu mới đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Đại hội XIV của Đảng đã khẳng định tinh thần “kiên định” chính là bản lĩnh chính trị, là sự tiếp nối mạch nguồn lịch sử và những bài học từ công cuộc đổi mới, là lời cam kết mạnh mẽ của Đảng trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong bối cảnh đó, Học viện Biên phòng - nơi đào tạo đội ngũ sĩ quan Biên phòng tương lai - có trách nhiệm đặc biệt trong việc giáo dục, định hướng tư tưởng cho học viên. Việc quán triệt và vận dụng quan điểm chỉ đạo “2 kiên định, 2 đẩy mạnh, 2 ngăn ngừa” cùng phương châm “5 vững” vào giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn quân sự không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn mà còn là trách nhiệm chính trị của giảng viên. Đây là yêu cầu cấp thiết nhằm xây dựng đội ngũ sĩ quan Biên phòng có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, năng lực toàn diện, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Quán triệt và vận dụng tốt quan điểm chỉ đạo này trong giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn quân sự cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, quán triệt “2 kiên định” trong giảng dạy

Kiên định đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng là nguyên tắc bất di bất dịch, là nền tảng để giữ vững định hướng chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Giảng viên phải giúp học viên hiểu rõ quan điểm quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân, chính sách quốc phòng “bốn không” với tính chất hòa bình và tự vệ. Đây không chỉ là lý luận cơ bản mà còn là định hướng chiến lược cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Trong giảng dạy, phải giúp học viên hiểu rõ quan điểm “Dân là gốc”, Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, do đó phải dựa vào dân, tin vào sức mạnh của Nhân dân. Từ đó, học viên nhận thức rõ vai trò nòng cốt của Quân đội nhân dân trong củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, cùng với Nhân dân và cả hệ thống chính trị xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại, hội nhập.

Kiên định xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị là yêu cầu xuyên suốt, đảm bảo Quân đội luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Giảng viên phải thường xuyên giáo dục cho học viên quán triệt và thực hiện tốt “bốn kiên định” theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Định hướng tư tưởng cho học viên phải giúp họ nhận thức rõ Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Bộ đội Biên phòng là một thành phần của Quân đội, là lực lượng nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Học viên cần được giáo dục để có ý chí chiến đấu cao, dám đương đầu và vượt qua khó khăn, thử thách, dám đánh, quyết đánh và biết đánh, biết thắng. Đây chính là phẩm chất chính trị - tinh thần cốt lõi mà giảng viên phải truyền đạt, rèn luyện cho học viên thông qua từng bài giảng, từng buổi thảo luận, từng hoạt động ngoại khóa.

Ba là, vận dụng “2 đẩy mạnh” trong định hướng tư tưởng

Đẩy mạnh xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là yêu cầu cấp thiết trong tình hình mới. Giảng viên cần giáo dục học viên về yêu cầu xây dựng con người hiện đại trong Quân đội, gắn với phát triển công nghiệp quốc phòng tự chủ, hiện đại, hội nhập, ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Học viên phải nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc làm chủ vũ khí, trang bị hiện đại, sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống. Đây là yếu tố quyết định để Quân đội đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Giảng viên cần liên hệ trực tiếp với thực tiễn công tác Biên phòng, giúp học viên hiểu rõ vai trò của sĩ quan Biên phòng trong việc quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng là yêu cầu quan trọng để giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, đồng thời nâng cao vị thế, hình ảnh Bộ đội Biên phòng trên trường quốc tế. Định hướng tư tưởng cho học viên phải giúp họ hiểu rõ vai trò của đối ngoại quốc phòng trong giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, đồng thời nâng cao hình ảnh Bộ đội Biên phòng trên trường quốc tế. Qua đó, học viên được định hướng tư tưởng về tinh thần chủ động, tích cực hội nhập, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Giảng viên cần khơi dậy trong học viên niềm tự hào về truyền thống anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam, để mỗi học viên trở thành một sĩ quan Biên phòng vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Bốn là, vận dụng “2 ngăn ngừa” trong giáo dục tư tưởng

Ngăn ngừa nguy cơ chiến tranh, xung đột là yêu cầu phòng ngừa từ xa, bảo vệ Quân đội và đất nước trước những nguy cơ tiềm ẩn. Giảng viên cần giáo dục học viên về yêu cầu nắm chắc tình hình, dự báo đúng xu thế, tham mưu chiến lược, giữ cho “trong ấm, ngoài êm”. Đây là định hướng quan trọng để học viên thấy rõ trách nhiệm của mình trong bảo vệ biên giới quốc gia. Học viên phải được rèn luyện tinh thần cảnh giác cao, khả năng phân tích, dự báo tình hình, xử lý tình huống linh hoạt, sáng tạo, hiệu quả. Qua đó, học viên hình thành bản lĩnh chính trị vững vàng, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Ngăn ngừa suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là yêu cầu cấp thiết để xây dựng đội ngũ sĩ quan Biên phòng có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng. Định hướng tư tưởng phải giúp học viên nhận diện và đấu tranh với các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Giảng viên phải khơi dậy tinh thần tự rèn luyện, tự phê bình và phê bình, xây dựng đội ngũ sĩ quan Biên phòng có phẩm chất chính trị, đạo đức trong sáng, kiên định lý tưởng cách mạng, vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách. Đây là trách nhiệm nặng nề nhưng cũng rất vẻ vang, bởi giảng viên chính là người trực tiếp góp phần xây dựng đội ngũ sĩ quan Biên phòng vừa “hồng” vừa “chuyên”, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, giữ vững “bốn kiên định” trong mọi hoàn cảnh.

Năm là, vận dụng phương châm “5 vững”

Phương châm “5 vững” là sự cụ thể hóa yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới, trong đó “chính trị vững” được đặt lên hàng đầu. Chính trị vững yêu cầu học viên tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, kiên định lý tưởng cách mạng, không dao động trước mọi khó khăn, thử thách. Đây là nền tảng để học viên hình thành bản lĩnh chính trị vững vàng, giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Kỷ luật vững đòi hỏi học viên phải thực hiện nghiêm điều lệnh, điều lệ, quản lý chặt chẽ quân nhân, vũ khí trang bị, xây dựng tác phong chính quy, rèn luyện ý thức tổ chức kỷ luật, coi kỷ luật là sức mạnh của Quân đội. Công nghệ vững yêu cầu học viên phải làm chủ công nghệ quân sự hiện đại, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số trong huấn luyện và công tác, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đây là những yếu tố quan trọng để học viên trở thành sĩ quan Biên phòng có năng lực toàn diện, vừa kiên định về chính trị, vừa thành thạo về chuyên môn, kỹ thuật, sẵn sàng đáp ứng mọi nhiệm vụ trong tình hình mới.

Nghệ thuật quân sự vững yêu cầu học viên phải nắm vững nghệ thuật chiến tranh nhân dân, kinh nghiệm dân tộc và thế giới, vận dụng sáng tạo trong điều kiện mới. Đây là sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa lý luận và thực tiễn, giúp học viên có khả năng tham mưu, chỉ huy, tổ chức lực lượng trong mọi tình huống. Đời sống bộ đội vững yêu cầu học viên phải có tinh thần tự lực, tự cường, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đoàn kết, dân chủ, kỷ luật. Đây là yếu tố quan trọng để tạo nên sức mạnh tổng hợp của Quân đội, giúp bộ đội yên tâm công tác, gắn bó máu thịt với Nhân dân. Phương châm “5 vững” không chỉ là yêu cầu đối với học viên mà còn là trách nhiệm của giảng viên trong việc giáo dục, rèn luyện, định hướng tư tưởng cho học viên. Qua đó, xây dựng đội ngũ sĩ quan Biên phòng vừa “hồng” vừa “chuyên”, có bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực toàn diện, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Sáu là, phát huy vai trò, trách nhiệm của giảng viên

Giảng viên các môn khoa học xã hội và nhân văn quân sự vừa là người truyền đạt kiến thức, vừa là người định hướng tư tưởng, phải kiên định, gương mẫu, đồng thời tiên phong trong đổi mới giáo dục. Trách nhiệm này gắn liền với tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, yêu cầu giảng viên phải kết hợp giữa kiên định chính trị với đổi mới phương pháp, ứng dụng công nghệ hiện đại, xây dựng môi trường học tập tiên tiến. Mỗi bài giảng phải trở thành một bài học về lý tưởng, niềm tin và trách nhiệm đối với Tổ quốc và Nhân dân, góp phần xây dựng đội ngũ sĩ quan Biên phòng vừa “hồng” vừa “chuyên”. Giảng viên phải giúp học viên nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, từ đó nâng cao cảnh giác, củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và Quân đội. Đồng thời, giảng viên phải khơi dậy tinh thần tự học, tự rèn luyện, phát huy tư duy phản biện, khả năng sáng tạo, năng lực tự nghiên cứu để học viên có thể thích ứng với yêu cầu mới của thời đại.

Vai trò, trách nhiệm của giảng viên còn thể hiện ở việc nêu gương, truyền cảm hứng, khơi dậy tinh thần trách nhiệm và ý chí chiến đấu cho học viên. Giảng viên phải là tấm gương sáng về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, phong cách sư phạm, để học viên noi theo. Mỗi lời nói, hành động, thái độ của giảng viên đều có tác động trực tiếp đến nhận thức, tư tưởng của học viên. Do đó, giảng viên phải kiên định, vững vàng, gương mẫu, đồng thời có khả năng truyền cảm hứng, khơi dậy tinh thần trách nhiệm và ý chí chiến đấu cho học viên. Đây là trách nhiệm nặng nề nhưng cũng rất vẻ vang, bởi giảng viên chính là người trực tiếp góp phần xây dựng đội ngũ sĩ quan Biên phòng vừa “hồng” vừa “chuyên”, có bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực toàn diện, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đồng thời, giảng viên phải thường xuyên tự học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ, cập nhật kiến thức mới, đổi mới phương pháp giảng dạy để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục - đào tạo trong Quân đội.

Việc quán triệt và vận dụng “2 kiên định, 2 đẩy mạnh, 2 ngăn ngừa” và phương châm “5 vững” vào định hướng tư tưởng cho học viên trong giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn quân sự ở Học viện Biên phòng hiện nay là nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Đây là sự cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị, đồng thời là trách nhiệm chính trị của mỗi giảng viên, góp phần xây dựng đội ngũ sĩ quan Biên phòng kiên định lý tưởng cách mạng, vững vàng bản lĩnh chính trị, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó. Đây chính là con đường để xây dựng đội ngũ sĩ quan Biên phòng vừa có trí tuệ, vừa có bản lĩnh, vừa có phẩm chất đạo đức, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

 

Tài liệu tham khảo

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

2. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Hà Nội.

3. Quân ủy Trung ương (2025), Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII nhiệm kỳ 2025 - 2030, Hà Nội.

4. Học viện Biên phòng (2024), Kỷ yếu hội thảo khoa học về giáo dục chính trị, tư tưởng cho học viên trong tình hình mới, Hà Nội.

5. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

 

Đại tá, TS Hoàng Trọng Thiết, CNBM, Khoa LL Mác - Lênin, TT Hồ Chí Minh

Đọc tiếp »

Nhận diện, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc về công tác nhân sự trong bầu cử Đại biểu Quốc hội Khoá XVI và Hội đồng nhân dân các cấp Nhiệm kỳ 2026-2031

 

Bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khoá XVI và Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 sẽ diễn ra vào ngày 15/3/2026 trên phạm vi cả nước. Đây là sự kiện chính trị quan trọng nhằm bầu ra 500 đại biểu quốc hội tiêu biểu từ 864 người ứng cử. Cuộc bầu cử diễn ra trong bối cảnh công cuộc đổi mới ở nước ta sau 40 năm đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, đồng thời cũng diễn ra vào thời điểm nước ta đang tích cực triển khai việc sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp đảm bảo tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả để tiến vào kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc. Chính vì ý nghĩa đó, càng gần đến ngày bầu cử, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội càng gia tăng hoạt động chống phá, phát tán thông tin xuyên tạc, sai sự thật trên không gian mạng. Nếu không được nhận diện và phản bác kịp thời, những “nhiễu sóng” này có thể tác động, ảnh hưởng đến nhận thức, làm xói mòn niềm tin của một bộ phận người dân trước ngày bầu cử.

Như chúng ta đã biết, mục tiêu của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị phản động là đẩy mạnh phát tán thông tin sai trái nhằm gieo rắc hoài nghi, chia rẽ nội bộ, hạ thấp uy tín Đảng, Nhà nước, làm giảm sự đồng thuận xã hội. Phương thức không mới nhưng thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Cụ thể:

Thứ nhất, chúng tung tin sai sự thật về quy trình hiệp thương, giới thiệu người ứng cử. Chúng cố tình xuyên tạc rằng việc lựa chọn ứng viên đã được sắp đặt sẵn, không có cạnh tranh thực chất, từ đó phủ nhận bản chất dân chủ của cuộc bầu cử. Đặc biệt, sau khi Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức Hội nghị hiệp thương lần thứ hai để thoả thuận danh sách sơ bộ những người thuộc các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở Trung ương được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội khoá XVI, ngày 03/02/2026, một số phần tử phản động, chống đối, cơ hội chính trị đã mạo danh “dân chủ”, hô hào ký tên ủng hộ, tung hô, cổ xuý cho những đối tượng tự xưng là “nhà dân chủ” ra ứng cử nhằm gây rối, phá hoại công tác chuẩn bị nhân sự của cơ quan chức năng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trên trang mạng phản động “Nhật ký Yêu nước” phát tán “kêu gọi”, được cho là của Nguyễn Văn Đài (trú tại Đức) có nội dung kêu gọi chính phủ Đức và Liên minh Châu Âu “tiếp tục giám sát chặt chẽ các hành vi đàn áp xuyên quốc gia của nhà cầm quyền Việt Nam, các tổ chức nhân quyền quốc tế lên tiếng trước việc lạm dụng các cơ chế tư pháp quốc tế để đàn áp chính trị”.

Thứ hai, trên nền tảng mạng xã hội như TikTok, Facebook, có một số bài viết đi theo hướng “giật tít dẫn dắt” như: “Hàng loạt tướng lĩnh quân đội, công an tranh cử đại biểu Quốc hội”, được dàn dựng, cắt ghép theo cách gây cảm giác bất thường, từ đó kích động, khoét sâu vào sự khác biệt giữa các lực lượng. Đáng chú ý hơn là tình trạng bôi nhọ cá nhân những người ứng cử. Các đối tượng đã làn truyền thông tin sai sự thật về đời tư, tài sản, phát ngôn, sử dụng video giả mạo, thậm chí sử dụng công nghệ AI để tạo nội dung sai sự thật. Mục tiêu không chỉ làm giảm uy tín cá nhân mà còn nhằm gây nghi ngờ, chia rẽ, tác động tiêu cực đến tâm lý của cử tri trước ngày bầu cử.

          Thực tiễn cho thấy, công tác chuẩn bị nhân sự cho cuộc bầu cử ĐBQH và bầu cử HĐND các cấp đang được triển khai chặt chẽ, đúng quy trình, quy định, đảm bảo dân chủ, công khai, minh bạch, đặt lợi ích của Đảng, Nhà nước và Nhân dân lên trên hết. Mặc dù các thế lực thù địch cố tình tạo sự so sánh “khập khiễng” về chức vụ để dẫn dắt dư luận tin rằng bầu cử chỉ là sự “dàn dựng”, nhưng thực tế có sự bình đẳng tuyệt đối giữa các ứng cử viên là giá trị cốt lõi của Luật Bầu cử. Theo Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND, khi đã đứng trong danh sách ứng cử tại một đơn vị bầu cử, mọi công dân, dù là lãnh đạo cấp cao hay cán bộ cơ sở đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ. Do đó, việc xếp chung danh sách không phải là “làm màu” mà là thể hiện tinh thần gần dân, sát dân của lãnh đạo các cấp.

          Đảng, Nhà nước ta luôn xác định bầu cử là một sự kiện chính trị trọng đại của đất nước, là dịp để nhân dân thực hiện quyền làm chủ, trực tiếp lựa chọn những người đủ đức, đủ tài, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của mình trong cơ quan quyền lực nhà nước. Chính vì vậy, ngay từ đầu nhiệm kỳ chuẩn bị bầu cử ĐBQH khoá XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, các cơ quan chức năng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo một cách toàn diện, uỷ ban bầu cử các cấp được thành lập đúng thời gian, đủ thành phần và phân công nhiệm vụ rõ ràng. Các kế hoạch bầu cử được xây dựng chi tiết, bám sát hướng dẫn của Trung ương, xác định từng nội dung công việc cụ thể, tinh thần xuyên suốt là đảm bảo công khai, minh bạch, đúng tiến độ, đúng quy định trong từng bước triển khai bầu cử. Do đó, luận điệu về việc lựa chọn ứng viên đã được “sắp đặt” sẵn nhân sự mà các thế lực thù địch đưa ra là luận điệu vu khống, bịa đặt, suy diễn nhằm làm giảm uy tín của hệ thống chính trị, gây tác động xấu nếu một bộ phận người dân thiếu thông tin, hiểu biết về quy trình bầu cử.

Phát huy vai trò cấp uỷ, chính quyền, các tổ chức chính trị- xã hội các cấp đối với công tác bầu cử, chúng ta đã và đang triển khai nhiều giải pháp đồng bộ để bầu cử ĐBQH khoá XVI và HĐND các cấp được thực hiện dân chủ, an toàn, đúng quy định của pháp luật, trong đó có vai trò và trách nhiệm của Quân đội nói chung và cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng Bộ đội Biên phòng nói riêng. Để đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tinh thần nhất quán và xuyên suốt là chủ động phòng ngừa từ sớm, từ xa; lấy tuyên truyền, nâng cao nhận thức làm nền tảng; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, điều đó đặt ra yêu cầu sau:

Thứ nhất, cần nâng cao nhận thức cho mỗi cá nhân, nâng cao tinh thần cảnh giác, chủ động sàng lọc thông tin, không chia sẻ, bình luận các nội dung chưa được kiểm chứng.

Thứ hai, công tác thông tin, tuyên truyền cần phải được tăng cường với nội dung phong phú, chính xác, kịp thời, chủ động chia sẻ những thông tin chính xác về ý nghĩa, quy trình, quyền lợi và nghĩa vụ của cử tri. Bên cạnh đó, việc nâng cao “kỹ năng số” ứng dụng vào trong công tác bầu cử cho người dân cần phải được coi trọng.

Thứ ba, lực lượng chức năng nói chung và mỗi quân nhân trong quân đội nói riêng cần tăng cường theo dõi, nắm bắt dư luận xã hội, nhất là trên không gian mạng, kịp thời phát hiện, xử lý trường hợp tung tin giả, tin sai sự thật.

Có thể nói rằng, Bầu cử ĐBQH và HĐND là một trong những quyền chính trị cơ bản của mỗi công dân đã được Hiến pháp ghi nhận. Trong không khí tưng bừng, phấn khởi chờ đón đến ngày bầu cử, việc chủ động phòng, chống tin giả của các thế lực thù địch, sai trái trên không gian mạng chính là một hành động thiết thực góp phần để “Ngày hội Non sông” diễn ra an toàn, dân chủ, đúng pháp luật, qua đó góp phần thực hiện thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031./.

Thượng tá, ThS Phạm Như Quỳnh - Giảng viên khoa CTĐ, CTCT/ Học viện Biên phòng.

Đọc tiếp »

Cuộc “cách mạng màu”, những hệ lụy chính trị – xã hội và tác động đối với thanh niên quân đội hiện nay nhận diện và giải pháp phòng ngừa

 


Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, các hình thức đấu tranh chính trị, chiến lược can thiệp và tác động xã hội của các thế lực bên ngoài ngày càng tinh vi. Một trong những phương thức thường được nhắc đến trong nghiên cứu chính trị quốc tế là hiện tượng “cách mạng màu” – thuật ngữ dùng để chỉ các phong trào thay đổi chính trị – xã hội diễn ra tại một số quốc gia, thường gắn với các cuộc biểu tình quy mô lớn, sự thay đổi chính quyền và những biến động sâu sắc trong đời sống xã hội.

Trong nghiên cứu chính trị – an ninh, nhiều học giả cho rằng các cuộc “cách mạng màu” thường gắn với các yếu tố như: khai thác bất ổn xã hội, sử dụng truyền thông và mạng xã hội để định hướng dư luận, kích hoạt các phong trào biểu tình, từ đó tạo ra áp lực chính trị dẫn tới thay đổi thể chế hoặc chính quyền. Những biến động này đã từng xảy ra ở một số quốc gia Đông Âu, Trung Á và Trung Đông trong những thập niên gần đây.

Đối với Việt Nam, lợi dụng các cuộc biểu tình của giới trẻ hay còn gọi là gen Z ở một số quốc gia Nam Á và Đông Nam Á thời gian qua, các đối tượng, tổ chức phản động, kênh truyền thông chống đối Việt Nam đang tích cực đăng tải nhiều bài viết, hình ảnh, clip hòng kích động tư tưởng cực đoan, gieo rắc mầm mống biểu tình, bạo loạn, “cách mạng màu” trong giới trẻ ở Việt Nam.

Trên Fanpage của tổ chức khủng bố Việt Tân, các trang Facebook của thế lực phản động thời gian qua đều tích cực đưa các bài viết nhằm kích động lớp trẻ thuộc gen Z, kiểu như: “Khi Gen Z nổi giận: Lời cảnh tỉnh cho các chế độ độc tài”, “Philippines xuống đường chống tham nhũng, Nepal, Indonesia cũng đồng lòng vì minh bạch, công lý. Tiếng nói người dân là sức mạnh lớn nhất!”... Các bài viết như trên đều có nội dung đổ lỗi nguyên nhân của sự bất ổn tại một số quốc gia Nam Á và Đông Nam Á là do sự kiểm soát, độc tài và đàn áp của chính quyền. Từ đó, chúng liên hệ tới tình hình chính trị tại Việt Nam và kích động người dân, nhất là giới trẻ “vùng lên”, xuống đường biểu tình với các luận điệu như “mọi chế độ xã hội chủ nghĩa đều độc tài”; “biểu tình là con đường duy nhất để thay đổi”; “Việt Nam sớm muộn cũng sẽ bất ổn như Nepal, Indonesia”...

Chúng triệt để khai thác các sự kiện, vụ việc trong xã hội, từ đó cắt ghép hình ảnh, dựng video giả để thổi phồng, bôi đen. Từ thiên tai, lũ lụt mà các tỉnh miền Bắc đang phải hứng chịu, hay vụ cháy làm chết 5 người tại Hà Nội vừa qua đều trở thành cơ hội để các trang mạng phản động tấn công, đổ lỗi, bôi nhọ chính quyền. Nếu không được cung cấp thông tin minh bạch và kịp thời, nhiều người dân, nhất là thế hệ trẻ có thể bị dẫn dắt, lan truyền tin giả, gây hoang mang, làm suy giảm niềm tin xã hội.

Âm mưu mà kẻ xấu nhằm hướng tới chính là tạo khủng hoảng về niềm tin, ý thức hệ và chuẩn mực giá trị trong các tầng lớp xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Thủ đoạn của chúng rất đa dạng như: Lập các trang web, mở các diễn đàn, hội nhóm trên mạng xã hội nhằm tán phát tài liệu phản động và tuyên truyền phá hoại tư tưởng; sử dụng công nghệ số và không gian mạng để đưa các thông tin xuyên tạc, bịa đặt, bôi nhọ, gây nhiễu loạn dư luận xã hội, tác động trực tiếp đến nhận thức, lập trường của thế hệ trẻ. Nội dung tuyên truyền xuyên tạc, kích động chủ yếu lợi dụng những vấn đề được quan tâm trong đời sống xã hội như tham nhũng, tiêu cực, ô nhiễm môi trường, khiếu kiện đất đai, chủ quyền biển, đảo... Chúng chỉ trích Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, không có tự do internet, xuyên tạc rằng “chính quyền đàn áp dân”, ca ngợi, tán dương hình mẫu “dân chủ, tự do” kiểu tư bản, từ đó kêu gọi tụ tập gây rối, biểu tình, bạo loạn, lật đổ chính quyền. Nắm được đặc điểm những người thuộc gen Z vẫn còn mơ hồ, hiểu biết hạn chế về các vấn đề chính trị, xã hội, quốc tế, thế lực thù địch bịa đặt rằng các cuộc biểu tình ở Nepal hay Indonesia đều bắt nguồn từ “sự kiểm soát của các chính quyền cộng sản”, mặc dù các quốc gia trên đều là các nước đa đảng.

Do đó, việc quan trọng đầu tiên là cần nhận diện đặc điểm của các cuộc “cách mạng màu”, phải cảnh báo, vạch trần âm mưu này để từ đó có biện pháp hữu hiệu ngăn chặn, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và giữ vững ổn định chính trị – xã hội.. Qua các nghiên cứu chính trị quốc tế, các cuộc “cách mạng màu” thường có một số đặc điểm phổ biến:

Thứ nhất, khai thác các vấn đề xã hội và tâm lý bất mãn. Các vấn đề như tham nhũng, chênh lệch giàu nghèo, sai phạm của một bộ phận cán bộ… thường bị khai thác, thổi phồng nhằm kích động tâm lý bất mãn trong xã hội.

Thứ hai, sử dụng mạnh mẽ truyền thông và mạng xã hội. Internet và mạng xã hội trở thành công cụ để lan truyền thông tin một chiều, thông tin chưa được kiểm chứng, tạo hiệu ứng tâm lý đám đông.

Thứ ba, hình thành các phong trào xã hội mang tính biểu tượng. Nhiều phong trào sử dụng màu sắc, khẩu hiệu hoặc biểu tượng để tập hợp lực lượng, tạo nên hiệu ứng truyền thông và tâm lý xã hội.

Thứ tư, tạo áp lực chính trị và làm suy yếu bộ máy nhà nước. Khi các phong trào biểu tình lan rộng, các thiết chế chính trị – xã hội có thể bị rơi vào tình trạng khủng hoảng, dẫn tới bất ổn kéo dài.

Thứ năm, bắt cóc, tiêu diệt các nhà lãnh đạo có xu hướng cứng rắn, độc lập, tạo dựng nhân vật mềm yếu dễ lôi kéo để thao túng. Đây là vấn đề rất mới đang được một số cường quốc áp dụng…

Thực tiễn quốc tế cho thấy, sau nhiều cuộc “cách mạng màu”, các quốc gia liên quan phải đối mặt với những hệ lụy chính trị – xã hội, hậu quả đáng kể.

Thứ nhất, bất ổn chính trị kéo dài: Một số quốc gia sau biến động rơi vào tình trạng tranh chấp quyền lực, xung đột chính trị và mất ổn định xã hội trong thời gian dài.

Thứ hai, suy giảm kinh tế và đời sống nhân dân: Khủng hoảng chính trị thường kéo theo suy giảm đầu tư, thất nghiệp gia tăng và đời sống người dân gặp nhiều khó khăn.

Thứ ba, gia tăng nguy cơ xung đột xã hội: Sự chia rẽ trong xã hội, mâu thuẫn giữa các nhóm lợi ích và sự can thiệp từ bên ngoài có thể khiến tình hình trở nên phức tạp.

Thứ tư, suy giảm niềm tin vào các thiết chế chính trị: Khi các thiết chế nhà nước bị khủng hoảng, niềm tin xã hội có thể bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Thanh niên nói chung và thanh niên trong lực lượng vũ trang nói riêng là nhóm xã hội năng động, nhạy bén với thông tin và dễ chịu ảnh hưởng bởi môi trường truyền thông số. Một số tác động có thể nhận thấy:

Một là, tác động từ thông tin sai lệch trên không gian mạng. Các nội dung xuyên tạc, thông tin chưa kiểm chứng nếu không được nhận diện đúng có thể gây nhiễu loạn nhận thức.

Hai là, nguy cơ dao động về nhận thức chính trị ở một bộ phận thanh niên.
Trong môi trường thông tin đa chiều, nếu thiếu nền tảng lý luận vững chắc, một số người có thể bị ảnh hưởng bởi các luận điểm phiến diện.

Ba là, tác động tới bản lĩnh chính trị và lý tưởng nghề nghiệp. Đối với thanh niên quân đội, bản lĩnh chính trị và lòng trung thành với Tổ quốc, với nhân dân và với Đảng là yếu tố cốt lõi. Những thông tin sai lệch nếu không được định hướng kịp thời có thể ảnh hưởng đến nhận thức và tâm lý.

Để hạn chế tác động tiêu cực từ các thông tin sai lệch và các chiến lược tác động xã hội từ bên ngoài, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm nâng cao “sức đề kháng” của thanh niên Quân đội trong tình hình hình hiện nay.

Thứ nhất, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị, lịch sử dân tộc, truyền thống Quân đội nhằm củng cố bản lĩnh chính trị và lý tưởng cách mạng cho thanh niên.

Thứ hai, nâng cao năng lực nhận diện thông tin sai lệch. Cần trang bị cho thanh niên quân đội kỹ năng phân tích thông tin, nhận diện tin giả, tin xuyên tạc trên không gian mạng.

Thứ ba, phát huy vai trò của tổ chức đoàn và tổ chức Đảng trong quân đội. Các tổ chức chính trị – xã hội trong Quân đội cần chủ động nắm bắt tư tưởng của thanh niên, kịp thời định hướng và giải đáp những vấn đề nảy sinh.

Thứ tư, xây dựng môi trường văn hóa quân đội lành mạnh. Một môi trường văn hóa tích cực, kỷ luật nghiêm minh và đời sống tinh thần phong phú sẽ giúp thanh niên quân đội củng cố niềm tin và lý tưởng.

Thứ năm, tăng cường đấu tranh trên không gian mạng. Cần phát huy vai trò của các lực lượng chuyên trách trong việc phản bác thông tin sai lệch, bảo vệ nền tảng tư tưởng và định hướng dư luận xã hội. Giới trẻ cần phải có ý thức cảnh giác cao độ khi sử dụng mạng xã hội, có ý thức đấu tranh, có sức đề kháng, nhận thức rõ thông tin xấu độc, chuẩn mực khi tham gia môi trường mạng, không bị mắc bẫy khi chia sẻ, lan truyền các tin đồn thất thiệt. Phải xây dựng và phát huy vai trò của báo chí, thông tin chính thống trên các nền tảng, qua đó tránh tạo khoảng trống để đối tượng phản động lợi dụng tán phát các thông tin xuyên tạc.

Tóm lại, các hiện tượng “cách mạng màu” là một vấn đề phức tạp trong nghiên cứu chính trị quốc tế với nhiều góc nhìn khác nhau. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy rằng, những biến động chính trị – xã hội dạng này thường để lại nhiều hệ lụy đối với sự ổn định và phát triển của các quốc gia.

Đối với Việt Nam, việc nâng cao nhận thức chính trị, củng cố bản lĩnh cho thế hệ trẻ, đặc biệt là thanh niên quân đội, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng xã hội phát triển bền vững. Trong bối cảnh mới, mỗi cán bộ, giảng viên, học viên – những thế hệ thanh niên cần tiếp tục đóng góp vào công tác giáo dục chính trị, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, góp phần củng cố niềm tin, lý tưởng và trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước./.

Thượng tá, ThS. Nguyễn Thị Thúy Ngọc Phụ trách bộ môn – Khoa Khoa học Cơ bản

Đọc tiếp »

Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh về quy luật hình thành Đảng cộng sản Việt Nam và ý nghĩa trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ta hiện nay

Tóm tắt: Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930) là bước ngoặt vĩ đại, đánh dấu thắng lợi của quá trình tìm đường cứu nước đầy gian khổ và sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Không chỉ tiếp thu lý luận Mác - Lênin, Hồ Chí Minh còn vận dụng và phát triển sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, một nước thuộc địa nửa phong kiến, hình thành nên Đảng kiểu mới - Đảng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Nhận thức sâu sắc tư tưởng đó không chỉ giúp hiểu rõ bản chất cách mạng của Đảng, mà còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, nhất là trong điều kiện Việt Nam đang đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng. Những quan điểm của Hồ Chí Minh về quy luật hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ mang giá trị lịch sử, mà còn chứa đựng ý nghĩa lý luận, thực tiễn sâu sắc đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

          Từ khóa: Đảng Cộng sản, Hồ Chí Minh

1. Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh về quy luật hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam

Quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh tìm thấy trong chủ nghĩa Mác những chân lý phổ biến của thời đại, đó là sự ra đời, phát triển và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản, đội tiên phong, lãnh tụ chính trị của giai cấp công nhân hướng tới mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng con người, giải phóng nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa. Theo học thuyết Mác - Lênin, điều kiện tiên quyết để giai cấp công nhân thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình là phải có một tổ chức tiên phong, lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu chiến đấu là hạt nhân đại biểu cho trí tuệ, lợi ích, nguyện vọng của toàn thể giai cấp, đó là Đảng Cộng sản. Đảng Cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân. Các ông khẳng định: “Giai cấp công nhân chỉ khi nào tổ chức ra chính đảng độc lập…thì mới có thể hành động với tư cách là một giai cấp được”[1]. V.I.Lênin nhấn mạnh: “Không có tổ chức đó thì giai cấp công nhân sẽ không có khả năng vươn đến một cuộc đấu tranh tự giác”[2]. Tiếp thu thế giới quan, phương pháp luận cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, bằng thiên tài trí tuệ, nhận thức đúng xu thế phát triển tất yếu của loài người và tính chất của thời đại mới. Hồ Chí Minh khẳng định sự cần thiết phải thành lập Đảng Cộng sản theo học thuyết Mác- Lênin ở các nước thuộc địa. Hồ Chí Minh khẳng định: Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản và trong tác phẩm Đường cách mệnh (1927), Người khẳng định: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”[3]. Người chỉ rõ: muốn cách mạng Việt Nam thành công, phải có một Đảng kiểu mới, mang bản chất của giai cấp công nhân, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, đồng thời biết gắn bó với dân tộc và vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể. Người nêu rõ: “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại... Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông. Đó chính là nhiệm vụ mà các Xô viết đảm nhiệm (ban thuộc địa của chúng tôi vừa nhận được thư mời chúng tôi tham gia công tác này)”[4]. Như vậy, Hồ Chí Minh không tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin một cách giáo điều, mà luôn vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam.         

Sau khi hoàn thành công cuộc xâm lược vào cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp tiến hành thiết lập bộ máy cai trị và tiến hành khai thác thuộc địa. Xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi sâu sắc trong tình trạng nửa phong kiến, nửa thuộc địa, đầy những mâu thuẫn gay gắt về chính trị, kinh tế, xã hội và tư tưởng. Trước tình cảnh đất nước bị xâm lược và áp bức, ý thức dân tộc, tinh thần tự cường, ý chí độc lập được khơi dậy mạnh mẽ. Các phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX diễn ra sôi nổi, phong phú về hình thức. Tuy nhiên, do hạn chế về tư tưởng và phương pháp, các phong trào này dần lụi tàn nhưng đã để lại ảnh hưởng sâu sắc, thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân, góp phần truyền bá tư tưởng canh tân, cổ vũ tinh thần dân tộc. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu bức thiết: cần một đảng cách mạng kiểu mới, có đường lối khoa học, thống nhất và đủ năng lực lãnh đạo cách mạng Việt Nam

           Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, đặc biệt từ khi Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thành công, chủ nghĩa Mác - Lênin bắt đầu được truyền bá vào Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên tiếp thu và truyền bá học thuyết này vào phong trào cách mạng Việt Nam. Sự kiện Nguyễn Ái Quốc gửi “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” tới Hội nghị Versailles năm 1919 đánh dấu bước chuyển quan trọng: từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống sang lập trường cách mạng vô sản. Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn- con đường cách mạng vô sản, phong trào công nhân Việt Nam có bước phát triển, giai cấp công nhân Việt Nam trở thành lực lượng xã hội mới có tinh thần cách mạng. Các cuộc bãi công ở Ba Son (1925), Nam Định, Hải Phòng, Sài Gòn đã đánh dấu sự trưởng thành của giai cấp công nhân Việt Nam. Đặc biệt, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phong trào dần chuyển từ tự phát sang tự giác, giai cấp công nhân Việt Nam bước lên vũ đài chính trị, trở thành nòng cốt của phong trào cách mạng dân tộc. Những tổ chức cách mạng đầu tiên mang màu sắc vô sản ra đời, như Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1925), Tân Việt Cách mạng Đảng (1928), Đông Dương Cộng sản Đảng (1929). Tất cả chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930. Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh về quy luật hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam trên những nội dung cơ bản:

        Thứ nhất, Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển học thuyết Mác -Lênin, bổ sung thêm yếu tố “phong trào yêu nước” cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Trong hoàn cảnh một nước thuộc địa lạc hậu, Việt Nam chưa có đủ những tiền đề cơ bản cho một Đảng Cộng sản ra đời như ở Nga và một số nước khác. Hồ Chí Minh đã sáng tạo trong việc kết hợp nhân tố dân tộc và nhân tố giai cấp để thành lập Đảng Cộng sản. Nhân tố dân tộc là chủ nghĩa yêu nước, nhân tố giai cấp là chủ nghĩa Mác - Lênin và phong trào công nhân. Trong điều kiện giai cấp công nhân Việt Nam chưa phát triển về số lượng, để tổ chức thành lập Đảng Cộng sản, Người coi trọng việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Hồ Chí Minh là người đã tiếp thu, vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Trong quá trình đó, Người đã có những đóng góp đặc sắc, trong đó nổi bật là việc kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào yêu nước, tạo nên một bước phát triển mới về lý luận cách mạng ở các nước thuộc địa, đặc biệt là Việt Nam.

Hồ Chí Minh tiếp thu học thuyết Mác - Lênin một cách khoa học, chọn lọc và sáng tạo. Người tìm thấy trong học thuyết này “cái cẩm nang thần kỳ để giải phóng dân tộc[5]. Nắm vững những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin về xây dựng Đảng của giai cấp công nhân. Hồ Chí Minh đã phát triển học thuyết này theo hướng gắn lý luận cách mạng vô sản với thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc ở một nước thuộc địa nửa phong kiến như Việt Nam.

 Người nhận thấy, ở Việt Nam, một nước bị áp bức, dân tộc mất độc lập, động lực mạnh mẽ nhất của quần chúng không phải là ý thức giai cấp, mà là tinh thần yêu nước. Hồ Chí Minh khẳng định: “Ở phương Đông, chủ nghĩa yêu nước là động lực lớn của sự phát triển[6]. Điểm sáng tạo nổi bật của Hồ Chí Minh là việc bổ sung yếu tố “phong trào yêu nước” vào học thuyết Mác - Lênin. Người coi việc kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản là quy luật tất yếu để dẫn dắt cách mạng Việt Nam đến thắng lợi. Chính từ sự kết hợp đó, Hồ Chí Minh đã xác định con đường cách mạng Việt Nam là con đường “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”, một bước phát triển sáng tạo so với học thuyết Mác - Lênin vốn tập trung vào cách mạng vô sản ở các nước tư bản phát triển. Sự vận dụng sáng tạo này không chỉ góp phần giải phóng dân tộc Việt Nam mà còn mở ra một hướng đi mới cho phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa trên thế giới. Đây chính là sự phát triển sáng tạo của học thuyết Mác - Lênin trong điều kiện Việt Nam, đồng thời là cống hiến to lớn của Người đối với lý luận cách mạng thế giới.

 Thứ hai, Hồ Chí Minh đã nhận ra và đánh giá đúng vị trí, vai trò to lớn của chủ nghĩa yêu nước, coi đó là một động lực cực kỳ mạnh mẽ của cách mạng.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng. Hồ Chí Minh sớm nhận thấy rằng, ở các nước thuộc địa như Việt Nam, nơi giai cấp công nhân còn non trẻ và ý thức giai cấp chưa phát triển, thì chủ nghĩa yêu nước chính là nguồn sức mạnh to lớn nhất có thể tập hợp, đoàn kết toàn dân tộc. Hồ Chí Minh nhìn thấy chủ nghĩa yêu nước xuất hiện ở mọi giai cấp, tầng lớp nông dân, công nhân, tiểu thương, học trò…và đó là lẽ sống được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, là cơ sở xã hội vô cùng rộng lớn để thúc đẩy cách mạng xã hội chủ nghĩa thắng lợi. Chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đoàn kết, thống nhất về ý chí và hành động quyết tâm bảo vệ, xây dựng và phát triển Tổ quốc, đó luôn là nguồn lực to lớn có ý nghĩa quyết định trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, khi tiếp cận chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh không xem cách mạng vô sản chỉ là cuộc đấu tranh giai cấp thuần túy, mà là sự nghiệp giải phóng dân tộc, do Đảng Cộng sản lãnh đạo, lấy tinh thần yêu nước làm nền tảng tinh thần và động lực quần chúng.

Hồ Chí Minh không chỉ kế thừa truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam mà còn nâng lên thành lý luận cách mạng, coi đó là động lực chủ yếu của cách mạng giải phóng dân tộc. Đây là sáng tạo lớn, thể hiện tầm nhìn và bản lĩnh chính trị khi Người kết hợp tinh hoa dân tộc với chủ nghĩa Mác - Lênin. Người nhận thức sâu sắc vai trò quyết định của chủ nghĩa yêu nước, xem đó không chỉ là tình cảm tinh thần mà còn là động lực chính trị - xã hội để đoàn kết toàn dân. Thực tiễn các phong trào chống thực dân Pháp cho thấy lòng yêu nước là lực hút mạnh mẽ trong xã hội. Đặc biệt là trong điều kiện một nước thuộc địa, nhiệm vụ trước mắt là giải phóng dân tộc và phong trào yêu nước chính là thực tế, là nguồn lực lớn nhất thúc đẩy cách mạng tiến lên. Ở đây, Hồ Chí Minh đã kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước xuất phát từ truyền thống lịch sử và yêu cầu thực tiễn cuộc đấu tranh. Trong thư gửi Tổng thống hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1946, Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Từ năm 1941 đến năm 1945, chúng tôi đã chiến đấu gian khổ và duy trì được là nhờ chủ nghĩa yêu nước của đồng bào chúng tôi”[7]

Chủ nghĩa yêu nước là cơ sở tạo nên sự đoàn kết các giai cấp, tầng lớp trong xã hội qua đó hình thành mặt trận dân tộc rộng rãi chống ngoại xâm, chống áp bức. Yêu nước là nguồn động viên tinh thần và tập hợp lực lượng khơi dậy ý chí hi sinh, tinh thần trách nhiệm cộng đồng, đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết. Người luôn tin tưởng vào sức mạnh của lòng yêu nước và khả năng cách mạng của nhân dân. Theo Người, chính nhân dân, những người thấm đượm tinh thần yêu nước, là lực lượng quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Lòng yêu nước ấy không chỉ là tình cảm tự nhiên mà được Hồ Chí Minh nâng lên thành lý tưởng chính trị, gắn liền với mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh là người cách mạng xuất sắc, nhà tư tưởng chiến lược đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và truyền thống yêu nước Việt Nam.

        Thứ ba, sự kết hợp này đã giải quyết được yêu cầu của lịch sử: Gắn kết mục tiêu giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giúp Đảng ngay từ khi ra đời đã hòa quyện trong lòng dân tộc.

Hồ Chí Minh nghiên cứu và làm việc với tổ chức cộng sản quốc tế, thấy rõ tính chất giai cấp của phong trào công nhân và mối liên hệ hữu cơ giữa yêu nước và giải phóng giai cấp trong điều kiện một nước thuộc địa. Hồ Chí Minh trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng cách mạng vô sản là con đường tất yếu, nhưng Hồ Chí Minh xác định ở các nước thuộc địa, nhiệm vụ trước hết là giải phóng dân tộc. Chỉ khi giành được độc lập, mới có điều kiện tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đây là một bước phát triển sáng tạo quan trọng, phản ánh sâu sắc thực tiễn Việt Nam và các nước thuộc địa. Nội dung cốt lõi và đặc sắc nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thống nhất biện chứng giữa giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, là kết quả của quá trình Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo và phát triển học thuyết Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, một nước thuộc địa nửa phong kiến, nơi mâu thuẫn dân tộc nổi lên hàng đầu. Ngay từ khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã nhận thấy bản chất khoa học và cách mạng của học thuyết này ở chỗ nó chỉ ra con đường giải phóng cho cả giai cấp công nhân lẫn các dân tộc bị áp bức. Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[8]. Như vậy, đối với Hồ Chí Minh, giải phóng dân tộc không tách rời mà phải gắn liền với con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa, vì chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đảm bảo độc lập dân tộc được thực hiện triệt để và bền vững.

          Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: trong điều kiện Việt Nam, vấn đề dân tộc là trên hết, trước hết, bởi không thể nói đến giải phóng giai cấp khi dân tộc chưa giành được độc lập. Tuy nhiên, sau khi giành được độc lập, nếu không tiến lên chủ nghĩa xã hội thì thành quả cách mạng sẽ không được bảo đảm. Người chỉ rõ nếu nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì. Điều đó thể hiện sâu sắc quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh: độc lập dân tộc phải gắn liền với hạnh phúc của nhân dân, tức là phải gắn với chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng gắn bó hữu cơ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không chỉ là kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX mà còn là định hướng lâu dài cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đó là di sản tư tưởng quý báu của Hồ Chí Minh, thể hiện tầm nhìn chiến lược và bản lĩnh của một nhà cách mạng kiệt xuất.

2. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay

Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh về quy luật hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam bắt nguồn từ việc Người không rập khuôn theo mô hình châu Âu, mà vận dụng linh hoạt vào hoàn cảnh Việt Nam, nơi phong trào yêu nước và phong trào công nhân cần được thống nhất. Từ đó, Hồ Chí Minh đi đến kết luận: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Quan điểm này có ý nghĩa lý luận rất sâu sắc: nó mở rộng phạm vi lý luận Mác - Lênin, đưa yếu tố yêu nước vào công thức hình thành Đảng, phù hợp với điều kiện các nước thuộc địa. Trong công tác xây dựng Đảng hiện nay, việc nắm vững quy luật đó nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên rằng Đảng ta không chỉ là Đảng của giai cấp công nhân, mà còn là Đảng của dân tộc, mang sứ mệnh đại đoàn kết toàn dân vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.”

                Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng được hình thành, bổ sung, hoàn thiện gắn liền với tiến trình cách mạng nước ta; chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn bộ di sản tư tưởng của Người. Các nghị quyết của Đảng về xây dựng Đảng qua 40 năm đổi mới, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, XIII chính là sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong bối cảnh mới.

         
         Từ Đại hội VI của Đảng đến nay, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành 9 nghị quyết, Bộ Chính trị đã ban hành 6 nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng. Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16-1-2012, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Kết luận 01 của Bộ Chính trị khoá XIII về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị khoá XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII chỉ rõ: “Trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ[9]. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ dừng lại ở việc xác định bản chất, vai trò, chức năng và sứ mệnh của Đảng mà còn là kim chỉ nam cho toàn bộ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Xây dựng Đảng về chính trị: Trong bối cảnh hiện nay, các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, việc kiên định nền tảng tư tưởng càng có ý nghĩa sống còn. Trong xây dựng Đảng về chính trị phải đổi mới và nâng cao chất lượng công tác hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng; coi trọng nâng cao năng lực dự báo; bám sát và xuất phát từ thực tiễn và tổ chức thực hiện có hiệu quả; nâng cao năng lực thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, công tác xây dựng Đảng về chính trị cần tập trung: Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kiên định đường lối đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng. Giữ vững lập trường, bản lĩnh chính trị vững vàng của cán bộ, đảng viên. Đấu tranh chống mọi biểu hiện sai trái, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Thực hành dân chủ trong Đảng gắn liền với kỷ luật, kỷ cương. Nâng cao lập trường, bản lĩnh chính trị, trí tuê, trình độ, tính chiến đấu của cấp ủy, tổ chức Đảng.

          Xây dựng Đảng về tư tưởng: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng về tư tưởng trước hết phải giữa vững nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm đảm bảo cho Đảng ta luôn giữ vững bản chất cách mạng, tiên phong, đoàn kết, thống nhất để xứng đáng là đội tiên phong lãnh đạo nhân dân thực hiện thắng lợi. Đặc biệt, xây dựng Đảng về tư tưởng phải gắn liền với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, làm cho tư tưởng cách mạng, nhân văn, khoa học của Người thấm sâu vào đời sống tinh thần của mỗi đảng viên và nhân dân. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, các luồng tư tưởng trái chiều, cơ hội chính trị, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng đang tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội. Vì vậy, xây dựng Đảng về tư tưởng là quá trình kiên quyết và thường xuyên đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào con đường cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn.

Xây dựng Đảng về đạo đức: Một trong những sáng tạo quan trọng nhất của Hồ Chí Minh là coi đạo đức cách mạng là nền tảng của Đảng. Xây dựng Đảng về đạo đức càng có ý nghĩa quan trọng khi Đảng ta trở thành đảng cầm quyền. Vận dụng tư tưởng của Người, chúng ta tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các giá trị đạo đức theo tinh thần của Hồ Chí Minh “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” phù hợp với truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc và điều kiện mới.

Đối với đạo đức của tổ chức Đảng: Đạo đức của tổ chức Đảng là biểu hiện tập thể của phẩm chất, lối sống, trách nhiệm và văn hóa chính trị của toàn bộ tổ chức trong quá trình lãnh đạo, quản lý và phục vụ nhân dân. Đạo đức của tổ chức Đảng chính là “linh hồn” của Đảng, yếu tố quyết định uy tín, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong mọi giai đoạn cách mạng. Do đó, tổ chức Đảng phải trung thành tuyệt đối với lý tưởng cách mạng của Đảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, không bao giờ dao động trước khó khăn, không thỏa hiệp với sai trái, luôn giữ vững nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Biết dựa vào dân, tôn trọng dân, lắng nghe dân, chịu sự giám sát của dân, vì nhân dân mà phục vụ. Khi Đảng thật sự gắn bó với nhân dân, dựa vào dân để xây dựng và chỉnh đốn, thì niềm tin của nhân dân đối với Đảng sẽ bền vững. Biết phát huy dân chủ trong sinh hoạt, tôn trọng nguyên tắc tập trung dân chủ, đề cao tự phê bình và phê bình, tinh thần đoàn kết và kỷ luật nghiêm minh, tiên phong trong đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Khi đạo đức tập thể được củng cố, Đảng ta sẽ ngày càng trong sạch, vững mạnh, đủ uy tín và năng lực để lãnh đạo đất nước phát triển bền vững, xứng đáng với niềm tin của nhân dân.

Đối với đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên: Phải thường xuyên tuyên truyền, giáo dục để mỗi đảng viên thấm nhuần tư tưởng tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, gắn giáo dục đạo đức với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng. Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng. Thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương. Tăng cường đấu tranh chống các quan điểm, hành vi phản đạo đức, phi đạo đức làm cho việc “tu dưỡng đạo đức” trở thành nhu cầu tự thân của mỗi đảng viên.

Xây dựng Đảng về tổ chức: Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Có tổ chức chặt chẽ thì cách mạng mới thành công. Không có tổ chức, cách mạng sẽ rời rạc, tan rã”[10]. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng về tổ chức cần thực hiện nghiêm nguyên tắc “tập trung dân chủ”, “tự phê bình và phê bình”, coi đó là quy luật phát triển của Đảng. Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, gắn công tác xây dựng Đảng với nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan, đơn vị, địa phương, phát huy vai trò nêu gương, kiểm tra, giám sát, bảo đảm mọi đảng viên đều tuân thủ Điều lệ Đảng, giữ gìn kỷ luật, đạo đức, lối sống, xây dựng đội ngũ cấp ủy, cán bộ lãnh đạo, quản lý, có phẩm chất, năng lực và uy tín, có cơ chế phát hiện đào tạo và trọng dụng người có tài, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích của nhân dân, đất nước. Chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên, xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm kỷ luật đảng.

Xây dựng Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân: Khẳng định Dân là gốc, là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới đất nước, của công cuộc xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Tiếp tục quán triệt, tăng cường đối thoại, lắng nghe và giải quyết kịp thời nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Kiên quyết phòng, chống quan liêu, xa dân, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí. Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hoá, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền, vận động, sử dụng có hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội theo hướng thiết thực, tăng cường đồng thuận, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Khi Đảng giữ được niềm tin của nhân dân, thì đó chính là biểu hiện sinh động nhất của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựngĐảng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quy luật hình thành của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sáng tạo vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử và lý luận to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định quy luật tất yếu của sự ra đời Đảng Cộng sản, kết quả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Đây là sự tổng kết sâu sắc quá trình phát triển lịch sử dân tộc, là sáng tạo riêng có của Hồ Chí Minh, phản ánh bản lĩnh độc lập, tự chủ và trí tuệ vượt thời đại. Những đóng góp của Hồ Chí Minh làm phong phú thêm học thuyết về Đảng kiểu mới trong điều kiện thuộc địa; khẳng định con đường phát triển của Đảng ở các nước đang đấu tranh giải phóng dân tộc và chứng minh tính phổ quát nhưng linh hoạt của chủ nghĩa Mác - Lênin khi vận dụng vào từng hoàn cảnh cụ thể.

Trong bối cảnh hiện nay, khi đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, những giá trị tư tưởng của Hồ Chí Minh về Đảng vẫn giữ nguyên giá trị chỉ đạo thực tiễn. Có thể khẳng định, sự sáng tạo của Hồ Chí Minh về quy luật hình thành Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ có ý nghĩa lịch sử, mà còn có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đó là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng trong quá trình xây dựng, chỉnh đốn và phát triển; đồng thời là nguồn cảm hứng, là ngọn đuốc soi sáng con đường cách mạng Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hoàng Trang, Phạm Ngọc Anh (2000), Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội.

2. Ban Tuyên giáo Trung ương (2021), Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh - Chuyên đề toàn khóa Đại hội XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

4. Phạm Văn Đồng (1990), Hồ Chí Minh- Một con người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, Nxb Sự thật, Hà Nội.

5. Trần Văn Giàu (2005), Sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

6. Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương- Hộ đồng Lý luận Trung ương, Tài liệu hỏi-  đáp về nội dung cơ bản của văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb Cính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026

7. Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 1-15, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011.

8. Đàm Văn Thọ, Vũ Hùng (1997), Mối quan hệ giữa Đảng và dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

9. Nguyễn Phú Trọng (2018), Xây dựng và chỉnh đốn Đảng - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

 

 

 

Phạm Quốc Khánh

Khoa lý luận Mác- Lênin, tư tưởng Hô Chí Minh



[1] C. Mác và PhĂng ghen, Tuyển tập, tập 1, Nxb Sự thật, M.1962, tr.615.

[2] V.I.Lênin, Tuyển tập, tập 4, Nxb Sự thật, M.1977, tr. 473.

        [3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.268

   [4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.510.         

[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2011, tr.562

[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2011, tr.268

  [7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.202.          

[8] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2011, tr.314

[9] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.180

[10] Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, 2011, tr.303. 

Đọc tiếp »

Phát triển văn hóa Đảng trong không gian số

Chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong đời sống chính trị, văn hóa và xã hội. T...