VẠCH TRẦN NHỮNG HÀNH VI KÍCH ĐỘNG, CHIA RẼ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH.

 


Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những vấn đề có tính nhạy cảm như dân tộc, tôn giáo, nhân quyền,... với âm mưu thâm độc là gây chia rẽ, bất ổn tập trung ở địa bàn đồng bào dân tộc thiểu số nhằm mục đích xuyên suốt là chống phá Đảng, Nhà nước để đi tới lật đổ chính quyền.

Như chúng ta đã biết sự việc xảy ra tại Đắk Lắk do một nhóm người tấn công vào trụ sở của chính quyền và Công an hai xã Ea Tiêu và Ea Ktur thuộc huyện Cư Kuin tỉnh Đắk Lắk là hành vi đặc biệt nghiêm trọng, vi phạm pháp luật của Việt Nam. Đồng thời, nó đã tước bỏ tính mạng của người dân, của cán bộ, công chức Nhà nước, lực lượng vũ trang. Không một quốc gia, một đất nước có kỷ cương, luật pháp nào có thể chấp nhận các hành vi chống lại Nhà nước, chống lại nhân dân.

Thế nhưng, đây là cơ hội “màu mỡ” cho các thế lực thù địch, những phần tử chống đối, bất mãn, cơ hội chính trị bám vào đó để đưa ra những thông tin sai lệch, đưa ra những bình luận xuyên tạc, bóp méo sự thật, đẩy vấn đề sang một hướng khác, mục đích là làm cho người dân và những người thiếu hiểu biết, thiếu thông tin, hoặc là những người còn mơ hồ mất cảnh giác, dễ nhận thức sai lầm.

Với những chiêu trò, phương thức, âm mưu thủ đoạn của các đối tượng tuyên truyền, chống phá như sau:

Thứ nhất, các thế lực thù địch, phản động cho đây là “hành động phản kháng của người Tây Nguyên theo đạo Tin lành bị áp bức về đức tin

Như chúng ta đã biết, Hiến pháp, Pháp luật Việt Nam rất rõ ràng, công khai và được triển khai trong thực tiễn, đó là chúng ta thực thi chính sách đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo. Chúng ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng luôn tạo điều kiện cho các tôn giáo được phát triển, được hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Quan điểm nhất quán của Nhà nước ta là, đồng bào có đạo hay không có đạo, đều là công dân của nước Việt Nam. Cho nên, những chiêu trò, luận điệu cho rằng, đây là phản kháng của đồng bào có đạo hay không có đạo ở Tây Nguyên là hoàn toàn phi lý. Bởi vậy đây chính là âm mưu kích động của các thế lực thù địch.

Thực tế, chúng ta thấy, cả về pháp luật, cả về chính sách và trong hành động thực tế ở Việt Nam không có câu chuyện giữa các tôn giáo có sự xung đột, mâu thuẫn. Những luận điệu cho là phản kháng của đồng bào có đạo hay không có đạo ở Tây Nguyên, là một chiêu trò lố bịch và không đúng thực tế. Chỉ những ai đó bị dụ dỗ, lôi kéo, hoặc là do tư tưởng bất mãn, thiếu nhận thức, mất cảnh giác thì mới nghe theo các thế lực thù địch, phản động.

Bên cạnh đó đường lối nhất quán của Việt Nam từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam đến nay là xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. 54 dân tộc là anh em trong một đại gia đình các dân tộc Việt Nam, đoàn kết, thống nhất và cùng nhau xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta không hề có bất cứ một chính sách nào, một hành động nào có sự phân biệt, cũng không có hành vi nào gây kỳ thị dân tộc. Cho nên, những thủ đoạn, những chiêu trò cho rằng chúng ta kỳ thị đồng bào dân tộc, hoặc có sự đàn áp, phân biệt đối xử giữa các dân tộc, đều là sự lừa bịp. Đó chỉ là sự tưởng tượng của các thế lực thù địch.

Thứ hai, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vụ việc này, ra sức tuyên tuyền kích động đồng bào dân tộc thiểu số biểu tình, bạo loạn chống đối chính quyền, chúng hô hào đồng bào tập hợp dưới tổ chức có tên gọi là nhóm “Người Thượng vì công lý”.

Thực tiễn cho thấy các tổ chức phản động ở khu vực Tây Nguyên đã tồn tại từ rất lâu. Dưới chế độ ngụy quân, ngụy quyền cũng đã sử dụng những lực lượng phản động trong nhóm này để tạo ra sự chia tách, xung đột giữa các nhóm dân tộc với nhau, nhằm mục tiêu chia để trị. Chẳng hạn như nhóm “Người Thượng vì công lý” chỉ là một nhóm phản động, được các thế lực phản động bên ngoài tiếp sức. Chúng không thể đại diện cho một dân tộc nào đó trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, thực tế, chúng cũng không đủ năng lực, đủ khả năng để bảo đảm cho hạnh phúc, sự bình yên, sự phát triển của chính cộng đồng dân tộc họ. Và điều đó chẳng qua chỉ là nhằm thực hiện những mưu đồ riêng tư của một nhóm người bị lôi kéo, kích động.

Về nhận thức cho thấy, mỗi người dân có lòng yêu nước và có ý thức trách nhiệm, trước hết phải tôn trọng luật pháp. Bởi vì, luật pháp đảm bảo cho mọi người công bằng và bình đẳng. Không ai có quyền được thực hiện các hành vi chống lại Nhà nước, chống lại quốc gia dân tộc, chống lại chính quyền, tước bỏ sinh mạng của người khác, phá hủy tài sản nhà nước, cũng như của công dân. Cho nên, không có gì để biện minh cho những hành động bắn giết đồng bào, tấn công vào trụ sở cơ quan, gây bạo loạn an ninh trật tự.

Pháp luật Việt Nam cho phép mọi người dân có quyền khiếu nại, có quyền tố cáo, có quyền kiến nghị, để giải quyết những vấn đề vướng mắc trong thực tế đời sống xã hội; Có quyền tố cáo với người có thể sai phạm, có quyền tham gia góp ý xây dựng các chính sách pháp luật, để cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. Còn hành vi dùng bạo lực đập phá, tấn công, chống lại nhà nước, chống lại chính quyền không một quốc gia nào chấp nhận. Và đây cũng chỉ là một nhóm người, không thể đại diện cho ai cả. Và nhóm người này, hầu hết thiếu sự hiểu biết nên dễ bị lôi kéo, dụ dỗ theo đúng ý đồ của Chúng.

Qua vụ việc xảy ra tại Đắk Lắk, chúng ta thấy rất rõ đồng bào các dân tộc Việt Nam, ngay trên địa bàn Tây Nguyên, luôn luôn đứng về phía chính nghĩa; Ủng hộ, giúp sức cho các cơ quan chức năng trong việc ổn định tình hình, truy bắt các đối tượng.

Thực tế, trên thế giới cũng có rất nhiều vụ bạo loạn chống lại Nhà nước nhưng cách xử lý của Đảng và Nhà nước ta là hết sức nhân văn. luôn tạo điều kiện cho những người mắc sai lầm có thể ra đầu thú, khai báo, để được hưởng khoan hồng, chứ không phải nhằm mục đích tiêu diệt, trả thù. Mặc dù, hành động của những đối tượng này rất manh động, quyết liệt chống trả. Để đảm bảo an ninh, an toàn cho người dân, cho các lực lượng chức năng, trong trường hợp cần thiết, chúng ta vẫn có thể tiêu diệt. Nhưng chúng ta đã xử lý theo cách vẫn giữ gìn được tính mạng cho các đối tượng, vẫn xử lý theo pháp luật, vẫn giáo dục để bản thân các đối tượng nhận ra sai lầm. Đồng thời cũng là cảnh báo, giáo dục chung, đây là một sự nhân văn, không phải quốc gia nào, dân tộc nào, không phải chính quyền nào cũng giải quyết theo hướng đó.

Với các hoạt động trên, các thế lực thù địch, phản động tìm cách chia rẽ Đảng, Nhà nước với nhân dân; đối lập nhân dân với lực lượng vũ trang; chia rẽ các dân tộc, tôn giáo, phá hoại khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; kích động chống đối, làm suy yếu sức mạnh bảo vệ Tổ quốc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Những vấn đề đó đang là những thách thức đối với “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” và sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội ở nước ta hiện nay. Với người dân đồng bào các dân tộc thiểu số, việc tuyên truyền giúp bà con nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề dân tộc chống phá Việt Nam là rất cần thiết và phải được tiến hành thường xuyên nhằm nêu cao ý thức cảnh giác, góp phần phòng ngừa, ngăn chặn sự phá hoại của chúng, chung tay bảo vệ chế độ, bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân.

                                  Đại tá Nguyễn Văn Sơn - Khoa CTĐ, CTCT

 

Đọc tiếp »

BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG GIẢI QUYẾT TỐT MỐI QUAN HỆ DÂN TỘC XUYÊN BIÊN GIỚI GẮN VỚI NHIỆM VỤ BẢO VỆ CHỦ QUYỀN, AN NINH BIÊN GIỚI QUỐC GIA

 

Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, quan hệ dân tộc/tộc người xuyên biên giới nước ta ngày càng phát triển, diễn biến phức tạp ở khu vực biên giới Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ. Các thế lực thù địch, phản động đã và đang lợi dụng vấn đề này để thực hiện các hoạt động chống phá cách mạng nước ta, thực hiện âm mưu bạo loạn, lật đổ. Do đó, nắm vững, và giải quyết tốt mối quan hệ dân tộc xuyên biên giới là nhiệm vụ quan trọng của Bộ đội Biên phòng, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia.

Quan hệ dân tộc/tộc người xuyên biên giới là quan hệ qua lại giữa các cá nhân, gia đình, dòng họ, cộng đồng dân cư,…trong một dân tộc/tộc người hay khác dân tộc/tộc người ở vùng biên giới, giữa các quốc gia láng giềng. Quan hệ dân tộc/tộc người xuyên biên giới được biểu hiện trên các lĩnh vực như: nguồn gốc lịch sử tộc người, hoạt động kinh tế, đời sống xã hội, văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo,…. Những mối quan hệ này được hình thành, nuôi dưỡng qua nhiều thế hệ, không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của người dân, chi phối nhận thức tình cảm hành động của của họ, tác động to lớn đến vấn đề bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia.

Quan hệ dân tộc xuyên biên giới tạo điều kiện cho việc trao đổi, tăng cường hợp tác kinh tế với các nước láng giềng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng tình đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trên tinh thần láng giềng, hữu nghị. 

Bên cạnh những tác động tích cực, quan hệ dân tộc xuyên biên giới đặt ra nhiều vấn đề phức tạp cần giải quyết. Tình trạng quan hệ hôn nhân xuyên biên giới không đăng ký kết hôn gây khó khăn trong quản lí hành chính, dân cư. Quan hệ trao đổi, buôn bán xuyên biên giới ngày càng phổ biến dẫn đến tình trạng vượt biên, cư trú bất hợp pháp, di cư tự do, tranh chấp đất đai và các nguồn lợi tự nhiên khác giữa các tộc người, làm tăng nguy cơ xảy ra xung đột tộc người ở khu vực biên giới, ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa các quốc gia láng giềng. Dựa vào quan hệ đồng tộc hai bên biên giới, các đối tượng buôn bán người, ma túy, vũ khí mở rộng đường dây, lôi kéo, ép buộc người dân tiếp tay cho chúng, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự ở vùng biên. Nghiêm trọng  hơn, để phục vụ cho những toan tính riêng về lãnh thổ và âm mưu “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch đã lợi dụng đánh tráo, đồng nhất hai khái niệm “lãnh thổ tộc người” và “biên giới quốc gia”, triệt để khai thác các mối quan hệ thân tộc, đồng tộc hai bên biên giới để kích động tư tưởng ly khai, tự trị trong các tộc người, đặc biệt là đối với người Hmông, Khơ-me, Ê-đê…

Như vậy, quan hệ dân tộc xuyên biên giới đang làm phát sinh nhiều vấn đề mới, gây khó khăn cho công tác bảo vệ chủ quyền, an ninh biên quốc gia của nước ta hiện nay. Để giải quyết tốt vấn đề này gắn với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia hiện nay, Bộ đội Biên phòng cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, tăng cường tuyên truyền giáo dục ý thức quốc gia quốc giới, tinh thần cảnh giác cách mạng cho đồng bào các dân tộc ở khu vực biên giới.

Do có mối quan hệ gắn bó mật thiết với người đồng tộc ở quốc gia láng giềng, do hạn chế trong tiếp cận với xu thế phát triển của quốc gia, dân tộc, đã làm cho ý thức quốc gia dân tộc của một bộ phận đồng bào các dân tộc ở khu vực biên giới mờ nhạt hơn ý thức tộc người. Do đó, Bộ đội Biên phòng cần thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân ở khu vực biên giới về lòng tự hào dân tộc, truyền thống yêu nước, trách nhiệm của công dân trong bảo vệ tổ quốc, chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia. Đồng thời, tuyên truyền cho nhân dân hai bên biên giới hiểu rõ âm mưu của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng quan hệ dân tộc, thân tộc để hoạt động chống phá, âm mưu bạo loạn, lật đổ. Từ đó xây dựng thái độ đúng, tình cảm, niềm tin, ý chí quyết tâm bảo vệ vững chắc biên giới quốc gia.

Hai là, tham gia phát triển kinh tế - xã hội trên cơ sở phát huy tiềm năng thế mạnh của vùng biên giới, gắn với xây dựng “thế trận lòng dân”, thế trận an ninh nhân dân vững chắc.

Tham gia đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội là cơ sở để củng cố niềm tin, tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa các tộc người ở khu vực biên giới với Đảng, nhà nước và Bộ đội Biên phòng. Bộ đội Biên phòng cần tiếp tục triển khai có hiệu quả các mô hình giúp dân phát triển kinh tế như: “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo”, “Nhà đại đoàn kết”, “Bò giống giúp người nghèo biên giới”, “Đồng hành cùng phụ nữ biên cương”…. Bên cạnh đó cần kiên trì bám dân, bám địa bàn, chủ động tìm cách làm, mô hình sản xuất mới để giúp đồng bào phát triển kinh tế, với phương châm mỗi đồn Biên phòng lựa chọn ít nhất 01 mô hình giúp dân phát triển kinh tế góp phần từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc vùng biên giới. Xây dựng và củng cố cơ sở chính trị trong vùng đồng bào các dân tộc, củng cố mối quan hệ quân - dân, tạo “thế trận lòng dân” trong giữ gìn biên cương và chủ quyền quốc gia.

Ba là, làm tốt công tác nắm tình hình, chủ động phát hiện, giải quyết có hiệu quả các tình huống, vụ việc xảy ra ở KVBG, không để tạo thành “điểm nóng”.

BĐBP cần triển khai đồng bộ, kết hợp chặt chẽ giữa các biện pháp công tác Biên phòng, lấy công tác trinh sát làm mũi nhọn; xây dựng mạng lưới trinh sát đủ về số lượng, có chất lượng, bố trí hợp lý, khép kín biên giới. Thường xuyên rà soát, bổ sung hồ sơ điều tra cơ bản địa bàn, mục tiêu, đối tượng, nhất là các mục tiêu, đối tượng trọng điểm, tăng cường các biện pháp trinh sát, kịp thời phát hiện âm mưu, thủ đoạn, hoạt động lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới “từ sớm, từ xa”; xác định nội dung, phương thức đấu tranh phù hợp với từng đối tượng, từng địa bàn, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Chú trọng xây dựng mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, nhất là với các chức sắc tôn giáo, người có uy tín trong cộng đồng, qua đó tranh thủ sự giúp đỡ, ủng hộ của họ trong việc xử lý tình huống phức tạp, các “điểm nóng” xảy ra trên địa bàn. Trong tiếp xúc, đối thoại với nhân dân, phải khiêm tốn, lắng nghe ý kiến nhân dân, không để xảy ra sơ hở, sai sót tạo cơ hội cho kẻ địch, phần tử xấu lợi dụng, kích động, chia rẽ, làm giảm uy tín, lòng tin của nhân dân đối với Bộ đội Biên phòng.

Bốn là, tăng cường công tác đối ngoại Biên phòng trong quản lý quan hệ dân tộc, quản lý biên giới, bảo đảm an ninh quốc gia

Qúa trình giải quyết quan hệ dân tộc xuyên biên giới phải thông qua biện pháp ngoại giao để phối hợp quản lí, tạo lập quan hệ xã hội lành mạnh theo hướng cơ bản, đồng bộ, lâu dài. Bộ đội Biên phòng phối hợp với lực lượng nước bạn tiến hành điều tra khảo sát, nắm chắc các mối quan hệ dân tộc xuyên biên giới để phân loại, chú ý các mối quan hệ mà trong lịch sử thường bị các loại đối tượng lợi dụng. Quan tâm giải quyết thủ tục đơn giản, nhanh gọn đối với việc qua lại biên giới để thăm thân, giúp gắn bó tình cảm dân tộc, dòng họ, tình cảm quốc tế. Mặt khác, tăng cường quản lí vấn đề di dân tự do, vượt biên trái phép, hôn nhân xuyên biên giới, buôn lậu, ngăn chặn hoạt động của những phần tử xấu lợi dụng mối quan hệ dân tộc, thân tộc để chống phá cách mạng mỗi nước.

Quan hệ dân tộc xuyên biên giới ở khu vực biên giới nước ta hiện nay ngày càng mở rộng, có liên quan trực tiếp đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và chủ quyền biên giới quốc gia. Để giải quyết tốt mối quan hệ này, Bộ đội Biên phòng cần làm tốt công tác tuyên truyền, vận động quần chúng, tham gia xây dựng khu vực biên giới vững mạnh toàn diện, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc. Sử dụng tổng hợp các biện pháp nghiệp vụ, nắm chắc tình hình, tăng cường công tác đối ngoại với lực lượng bảo vệ biên giới nước bạn, kịp thời giải quyết những vấn đề phát sinh, đặc biệt là âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá cách mạng nước ta.

                                 Nguyễn Thị Minh Lý – Khoa khoa học cơ bản

Đọc tiếp »

NGĂN CHẶN MƯU ĐỒ GÂY NHIỄU LOẠN LÒNG DÂN

             Vừa qua, lợi dụng việc Nhà nước tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), các thế lực thù địch đã ra sức xuyên tạc, gây rối làm nhiễu loạn lòng dân. Việc “nắm thóp” chiêu bài “canh tân”, “vì dân” của các thế lực thù địch sẽ giúp chúng ta đánh trúng đích và vạch trần âm mưu đen tối, dã tâm thâm độc của chúng một cách hiệu quả. Chúng càng sốt sắng, chúng ta càng phải tích cực trong công tác tuyên truyền, định hướng dư luận để tạo thế trận lòng dân hoá giải “đòn thù” trên trận địa này.

Vì sao trận địa này luôn nóng?

Trên mặt trận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, công tác đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc về chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật đất đai luôn là trận địa nóng bỏng. Các thế lực thù địch coi đây là mảnh đất màu mỡ để gieo mầm kích động, lèo lái dư luận. Bởi chúng hiểu rõ đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng, là động lực phát triển kinh tế - xã hội của bất cứ quốc gia nào. Và pháp luật về đất đai tác động mạnh mẽ đến an ninh, chính trị, tâm lý xã hội của người dân. Vậy nên, chỉ cần triệt tiêu động lực này, khuấy nhiễu trận địa này sẽ bẻ gãy chiếc then cài cánh cửa an dân, làm chệch hướng con đường xã hội chủ nghĩa của Việt Nam.

Điều này lý giải vì sao mỗi khi Đảng và Nhà nước có chủ trương, quyết sách mới hay sửa đổi Luật Đất đai, các thế lực thù địch lại “bổn cũ soạn lại” - lợi dụng việc góp ý, bàn luận để kích động, xuyên tạc, bóp méo sự thật. Chính vì thế, đây là vấn đề hệ trọng cần quan tâm đặc biệt, định hướng dư luận kịp thời nhất là trong thời điểm nhạy cảm đang tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) như hiện nay.

Nắm thóp chiêu bài “canh tân”, “vì dân” của các phần tử cơ hội chính trị

Hiện nay, các thế lực thù địch đang đánh đòn tâm lý, nhắm thẳng vào túi tiền của người dân tung hoả mù rằng dự thảo Luật Đất đai sửa đổi nếu được thông qua sẽ đánh thuế đất, thuế nhà rất cao, chỉ lợi cho Nhà nước và bất lợi do dân nghèo gây hoang mang dư luận. Tuy nhiên, chúng ta cần nhận thức rõ các vấn đề sau đây:

Một là, việc điều chỉnh thuế suất trong giai đoạn hiện nay là phù hợp với điều kiện thực tế, giúp gia tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, từ đó có nguồn lực tài chính để đầu tư phát triển hạ tầng.

Hai là, thuế này sẽ không “đánh” vào “túi thủng” của người nghèo như lời bịa đặt, mà “đánh” vào những đối tượng đầu cơ, tích trữ nhiều nhà, đất. Điều này sẽ là liều thuốc “đặc trị” giúp giá đất hạ sốt góp phần bình ổn thị trường.

Ba là, bên cạnh việc đánh thuế cao với người có nhiều nhà, đất, Đảng và Nhà nước luôn chủ trương ưu đãi với đối tượng thuộc nhóm yếu thế, dễ tổn thương. Điều này thể hiện rõ trong việc quy định đối tượng được miễn giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tại Điều 152 bao gồm:“người có công với cách mạng, hộ gia đình nghèo; hộ gia đình, cá nhân là dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng biên giới, hải đảo”. Tính ưu việt của chế độ, tính nhân văn trong chủ trương, chính sách, pháp luật sẽ là lời phản bác đanh thép nhất trước những bịa đặt vô căn cứ của những kẻ cơ hội chính trị.


          Bên cạnh đó, không biết từ cứ liệu nào, các thế lực phản động, thù địch đưa ra luận điệu cho rằng Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi nếu được thông qua “là dấu hiệu cho thấy Chính phủ sẽ tiếp tục tước đoạt quyền lợi của người dân”(?!) hay "Nhà nước Việt Nam tiến hành sửa đổi Luật Ðất đai là để thao túng thị trường đất đai”(?!).

Tước đoạt, thao túng hay bảo vệ quyền lợi của dân? Để trả lời câu hỏi này phải soi chiếu thật kỹ càng các điều khoản trong Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi).

Rà soát 236 điều trong Dự thảo không tìm ra bất cứ điều nào để mình chứng cho sự “tước đoạt” nhưng có hàng loạt điều khoản hướng đến bảo vệ quyền lợi của người dân, người sử dụng đất. Điển hình như: “Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được pháp luật bảo hộ” (Điều 13); “Bảo hộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hợp pháp của người sử dụng đất” (khoản 1 Điều 18); Người sử dụng đất “Được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình” (khoản 5 Điều 27); “Các giao dịch về đất đai trên môi trường điện tử có tính pháp lý và được pháp luật bảo hộ” (Điểm b khoản 2 Điều 162)… Vậy suy cho cùng, có Nhà nước nào đi “tước đoạt quyền lợi của dân” mà quy định cụ thể, chi tiết các quyền của người sử dụng đất, bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụng đất, trách nhiệm của Nhà nước về đất đai với đồng bào dân tộc thiểu số, đối với người nghèo như thế kia? Có chăng, đó là lời nói dối trắng trợn của những đối tượng muốn “đánh lận con đen” gây chia cắt ý Đảng với lòng Dân.

Về việc xác định chế độ sở hữu đất đai, nguy hiểm nhất, trang RFA có bài: “Gốc để sửa đổi Luật Đất đai là công nhận quyền tư hữu về đất”(?!). Để phản bác luận điệu này, cần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn để minh chứng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong điều kiện hiện nay vẫn còn phù hợp.

Về cơ sở lý luận, theo quan điểm của V.I.Lênin, thể hiện trong Sắc lệnh về ruộng đất, “Nhà nước xô-viết cũng như tất cả mọi nhà nước không có quyền sở hữu đất đai, do vậy không được phép bán cho bất kỳ chủ thể nào dù chỉ một phần nhỏ đất đai. Nhà nước xô-viết chỉ là người quản lý, người giám đốc điều hành nhằm bảo vệ lợi ích của chủ thể sở hữu là toàn dân. Không làm được điều đó là một nhà nước tồi”.

Và chủ nghĩa Mác - Lênin có những chỉ dẫn quan trọng: Sở hữu tư nhân chính là nguồn gốc của bóc lột và bất công trong xã hội. Nguyên nhân chính của chế độ người bóc lột người là sự tồn tại chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, trong đó, đất đai chính là tư liệu sản xuất quan trọng nhất. Chủ nghĩa xã hội là giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản, chế độ sở hữu trước hết phải là chế độ sở hữu toàn dân về những tư liệu sản xuất chủ yếu. Tư liệu sản xuất chủ yếu là đất đai nếu giao vào tay tư nhân thì khác nào từ bỏ việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đây là âm mưu, dã tâm thâm độc của các thế lực thù địch cần hết sức tỉnh táo để nhận diện.

Về cơ sở thực tiễn, đất đai là tặng vật thiên nhiên, không phải của riêng ai. Và trong điều kiện lịch sử của Việt Nam, để bảo vệ đất nước, giữ vững độc lập chủ quyền lãnh thổ, biết bao thế hệ đã hy sinh xương máu. Đây không chỉ là tài sản của những người đang sống, của những tiền nhân đã khuất và cả thế hệ tương lai, những người đã, đang, sẽ khai phá, lao động và bảo vệ mảnh đất thiêng này.

Cần phải hiểu rõ rằng, cho dù là công nhận chế độ sở hữu toàn dân về đất đai nhưng người sử dụng đất ở Việt Nam có đầy đủ các quyền cơ bản như: quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất (Điều 28). Quyền năng của người sử dụng đất hiện nay ngày càng được mở rộng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu trong giao dịch, đáp ứng những mong muốn của người sử dụng đất trong quan hệ pháp luật về đất đai.

Hạn chế nổi cộm, gây bức xúc trong dư luận thời gian qua mà các thế lực thù địch luôn cố tình khoét sâu thuộc về tồn tại trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, hoàn toàn không phải là khuyết điểm của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Cần tách bạch giữa hai vấn đề này để không đánh đồng, để tránh bị các thế lực thù địch “dắt mũi” cho rằng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai hiện nay là không còn phù hợp.

Vén màn mây, định hướng dư luận kịp thời

Sau khi “vén màn mây”, dọn được “cỏ dại”là những luận điệu xuyên tạc về chính sách, pháp luật đất đai, các cơ quan có thẩm quyền, đặc biệt là các cơ quan tuyên truyền cần phải làm tốt công tác định hướng dư luận để tạo môi trường trongsạch, tránh gây nhiễu cho Nhân dân trong quá trình tiếp cận thông tin.

- Nói cho dân hiểu

Sửa đổi Luật Đất đai là vấn đề hệ trọng, ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực và tầng lớp trong xã hội. Tuy nhiên, để người dân dành thời gian nghiên cứu toàn bộ Dự thảo e là điều không thể. Vậy nên, việc tóm lược tinh thần, nội dung trọng tâm, điểm mới của Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi là cần thiết. Cách tiếp cận, trình bày phải dung dị, mộc mạc để mọi người dân đều có thể đọc, hiểu và nắm bắt vấn đề.

- Làm cho dân quan tâm

Phải tuyên truyền để người dân hiểu rõ việc góp ý dự thảo Luật Đất đai là quyền và nghĩa vụ của mỗi công dân. Là công dân chân chính sẽ không ngồi yên, không “chửi đổng” mà sẽ đóng góp trí tuệ để hoàn thiện dự thảo Luật đất đai sửa đổi. Phải cho thấu được rằng Nhà nước rất quan tâm, cầu thị, lắng nghe ý kiến đóng góp và tiếp thu nghiêm túc. Chỉ khi đó Nhân dân mới thực sự mặn mà với việc góp ý, xây dựng Luật.

Bên cạnh đó, việc tổ chức các cuộc hội thảo, diễn đàn với sự tham gia của các chuyên gia, nhà nghiên cứu nên được tổ chức công khai và đưa tin trên các phương tiện truyền thông để thu hút sự quan tâm, tham gia của dư luận.

- Phát huy khí thế dân chủ, đập tan âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch

Khi người dân có sự quan tâm, hiểu và tin vào Đảng, vào chính quyền sẽ tạo nên sức mạnh vô hiệu hoá đòn thù của các thế lực thù địch trên trận địa nóng bỏng này. Dòng thông tin chủ lưu về quá trình sửa đổi Luật Đất đai cần phải cập nhật liên tục đến với công chúng thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như báo chí, truyền hình, phát thanh, các trang mạng xã hội… Và tất nhiên, các thông tin này nên được trình bày một cách đầy đủ, rõ ràng, trung thực, khách quan để người dân có góc nhìn toàn diện và cất lên tiếng nói tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Xây dựng các trang web, fanpage, group trên mạng xã hội để giới thiệu về quá trình sửa đổi Luật đất đai, cập nhật thông tin, nhận định, đề xuất và ý kiến của các chuyên gia, nhà nghiên cứu và người dân về sửa đổi Luật đất đai. Những kênh thông tin này phải thiết lập cơ chế hai chiều. Qua đó, người dân cũng có thể sử dụng để gửi thắc mắc và nhận được phản hồi, hỗ trợ giải đáp của chính quyền.

                    Đại úy Nguyễn Thị Thanh Thuận, Khoa CTĐ, CTCT


Đọc tiếp »

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC NGUYÊN TẮC ĐẢNG HOẠT ĐỘNG TRONG KHUÔN KHỔ HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT

     Thực tế thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật cho thấy Đảng không đứng trên, đứng ngoài hệ thống chính trị mà là một thành viên trong hệ thống chính trị, mọi hoạt động của Đảng đều trong khuôn khổ quy định của Hiến pháp và pháp luật. Nguyên tắc này không thể bị xuyên tạc và bóp méo.

Nhận diện

Không gian mạng là môi trường mở, cho phép người sử dụng được tự do cung cấp, tìm kiếm, sử dụng và lan truyền thông tin. Thông tin trên không gian mạng hết sức phong phú về đề tài, đa dạng về thể loại, người dùng có thể liên tục cập nhật, quan sát, theo dõi. Do tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau và cho phép người tham gia cung cấp thông tin mà không cần công khai danh tính, vì vậy, thông tin trên không gian mạng có đặc tính là cập nhật thường xuyên, nội dung thông tin từ nhiều nguồn, nhiều địa bàn, nhiều lĩnh vực đời sống xã hội. Thông tin được phát tán, lan truyền rất nhanh thông qua không gian mạng và hầu như không có giới hạn về biên giới, lãnh thổ; dễ tạo hiệu ứng xã hội theo chiều rộng. Qua đó, công chúng tự do bình luận, đóng góp ý kiến về vấn đề mình quan tâm khiến không gian mạng trở thành diễn đàn thể hiện các quan điểm, nêu ý kiến và có cả chức năng phản biện xã hội, đôi khi còn hiệu quả hơn kênh báo chí chính thống.

Từ những đặc điểm này mà các thế lực thù địch triệt để lợi dụng không gian mạng để xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận các nguyên tắc xây dựng Đảng; gây chia rẽ đoàn kết nội bộ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ của ta trên mọi lĩnh vực...

Chính vì vậy, nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng chống phá nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật là rất quan trọng và cần thiết. Có thể khái quát các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng với các nội dung sau:

Thứ nhất, đấu tranh trực diện đòi phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Các thế lực phản động, thù địch luôn tìm mọi cách móc nối, xâm nhập vào nội bộ của ta, tìm cách phân hóa tổ chức, lôi kéo, mua chuộc các phần tử thoái hóa biến chất, bất mãn, cơ hội chính trị. Trong tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước, để tăng thêm hiệu ứng của các thông tin sai trái, chúng chú trọng tập hợp, trích dẫn các ý kiến trái chiều, đi ngược chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước của những phần tử chống đối nhưng lại tự nhận là “nhân sĩ, trí thức yêu nước”, “tâm huyết, trách nhiệm vì nhân dân”... Đây là chiêu bài mà các thế lực thù địch từ bên trong kết hợp với bên ngoài chống phá nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Thứ hai, triệt để lợi dụng không gian mạng, nhất là vào những thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước để phát tán thông tin xuyên tạc, chống phá, bằng nhiều chiêu thức với phương châm “mưa dầm thấm lâu”, “nói nhiều rồi sẽ tin”..., núp dưới những chiêu bài “góp ý”, “kiến nghị, đề nghị”, “thư ngỏ” nhằm chống phá, xuyên tạc nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Thứ ba, xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; trắng trợn bịa đặt, vu cáo Đảng, Nhà nước và các cơ quan pháp luật “vi phạm tự do, dân chủ, nhân quyền”; kích động gây dư luận xấu, tạo mâu thuẫn xã hội; tán dương, cổ vũ các hành động, hành vi trái pháp luật của những phần tử chống đối; tạo dựng, cắt ghép các video clip, phóng sự có giao diện giống của Đài Truyền hình Việt Nam và một số kênh truyền thông có uy tín để làm cho nhiều người nhầm tưởng đó là thông tin chính thống nhằm chống phá nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Thứ tư, lợi dụng sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp bị thi hành kỷ luật Đảng và bị xử lý theo pháp luật để quy chụp bản chất chung của cán bộ, đảng viên là tham nhũng, tiêu cực, suy thoái nhằm tạo ra nhận thức sai lệch, hoài nghi, dao động, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và cho rằng nguyên nhân là do Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện sai nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật nên cán bộ, đảng viên đứng trên, đứng ngoài pháp luật.

Thứ năm, các thế lực thù địch đưa ra nhiều quan điểm, luận điệu hòng bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Chúng lên tiếng cho rằng, ở Việt Nam không có “pháp trị”, chỉ có “đảng trị” và đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp; chống phá nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Luận cứ đấu tranh phản bác

Thứ nhất, kiên quyết bác bỏ luận điệu sai trái, phủ nhận vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên cơ sở khoa học.

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đây là nguyên tắc Hiến định mang tính giai cấp sâu sắc, nguyên tắc bảo đảm sự thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Sự nghiệp cách mạng xã hội của nước ta là sự nghiệp cách mạng của toàn dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đảng Cộng sản Việt Nam là một bộ phận cấu thành hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, nhưng đồng thời là lực lượng lãnh đạo hệ thống đó. Thực chất ở các nhà nước, đảng nào sau khi thắng cử cũng thông qua nhà nước để thực hiện đường lối của đảng mình. Vì vậy, Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một thành viên trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa tất yếu phải do Đảng lãnh đạo. Mọi hoạt động của Nhà nước, cũng như việc tổ chức xây dựng và phát huy vai trò của Nhà nước trong quản lý xã hội đều phải đặt dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng, ngoài ra không lực lượng nào có quyền lãnh đạo Nhà nước. Đây là vấn đề thuộc về bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước, đồng thời cũng là một nguyên tắc hiến định, đã được ghi tại Điều 4 Hiến pháp năm 2013.

Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước được thể hiện: Đảng đề ra đường lối, chủ trương và lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành Hiến pháp, pháp luật; lãnh đạo Nhân dân thực thi Hiến pháp, pháp luật; lãnh đạo Nhà nước tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức liêm chính phục vụ Nhân dân; Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng công tác kiểm tra, giám sát việc quán triệt, tổ chức thực hiện đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước; nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan nhà nước; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị xã hội và Nhân dân trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhà nước và bảo vệ Nhà nước.

Thứ hai, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định Đảng là một bộ phận của hệ thống chính trị và ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976), Đảng ta đã khẳng định: “các tổ chức đảng và đảng viên tôn trọng quyền hạn, trách nhiệm và các chế độ của cơ quan nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và các quyết định của Nhà nước, coi đó là kỷ luật của Đảng”. Đến Đại hội X của Đảng (2006) đã đưa vào Điều lệ Đảng quy định: “Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Kể từ đây, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật được xác định là một trong các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng. Hiến pháp 2013 khẳng định: “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Thứ ba, thực tế thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật cho thấy Đảng không đứng trên, đứng ngoài hệ thống chính trị mà là một thành viên trong hệ thống chính trị, mọi hoạt động của Đảng đều trong khuôn khổ quy định của Hiến pháp và pháp luật. Xác định rõ điều này không phải hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội mà chính là nhằm khắc phục tình trạng bao biện, làm thay, Đảng “lấn sân” chính quyền hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo.

Thứ tư, Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng chủ trương, đường lối, chính sách và sự gương mẫu của các tổ chức đảng và đảng viên.

Nhà nước kịp thời thể chế hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng thành pháp luật và tổ chức thực hiện. Kiên quyết đấu tranh chống lại tình trạng tùy tiện, thiếu ý thức tổ chức, kỷ luật và tinh thần trách nhiệm, không chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Sự gương mẫu của đảng viên có tác động vô cùng to lớn trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; góp phần tạo ra trạng thái xã hội khuyến khích việc chấp hành pháp luật.

Cán bộ, đảng viên ở vị trí càng cao càng phải rèn luyện đạo đức cách mạng; thật sự xứng đáng là những tấm gương sáng để Nhân dân noi theo; phát huy bài học đã được Nhân dân ghi nhận là “đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Đối với những cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật và Điều lệ Đảng phải được xử lý thật kiên quyết theo phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”.

                       Đại úy Nguyễn Thị Thanh Thuận, Khoa CTĐ, CTCT

Đọc tiếp »

TU DƯỠNG, RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHÍNH LÀ BẢO VỆ ĐẢNG

     Trải qua hơn 93 năm xây dựng và trưởng thành, với bản lĩnh chính trị vững vàng, có lãnh tụ sáng suốt, luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, động viên và phát huy sức mạnh to lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, lãnh đạo sự nghiệp cách mạng giành được những thắng lợi vĩ đại. Để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò đội tiên phong và “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”, mỗi cán bộ, đảng viên phải chủ động và thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, vì tương lai của đất nước, vì tiền đồ của dân tộc và để bảo vệ Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi đạo đức là cái gốc của người cán bộ cách mạng và “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang[1]. Đạo đức cách mạng vừa là nhân tố bảo đảm sự thống nhất nền tảng tư tưởng lý luận, mục tiêu lý tưởng cách mạng, các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng, vừa là cơ sở cho việc củng cố khối đại đoàn kết vững chắc trong Đảng. Khi nói về cán bộ và công tác cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Tôi không sợ bọn đế quốc, bọn phản động, đồng bào sẽ đánh thắng chúng. Tôi chỉ sợ những hành vi xấu xa của cán bộ làm cho đồng bào mất lòng tin với chế độ, nhà nước, Đảng. Có thể nói, kẻ phá hoại sự nghiệp cách mạng đáng sợ nhất là những người ấy, vì trước mắt đồng bào, họ là Đảng và Nhà nước[2].

Đạo đức cách mạng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, “là tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân”. Rèn luyện đạo đức cách mạng là một quá trình gian khổ, phải kiên trì, tự giác, tự nguyện, đề cao tinh thần tự phê bình và phê bình, gắn rèn luyện đạo đức với thực tiễn công tác, nêu cao chủ nghĩa tập thể, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Khi nói về chủ nghĩa cá nhân, Người không chỉ vạch rõ nguồn gốc, bản chất, hình thức đa dạng, tinh vi của chủ nghĩa cá nhân, mà còn chỉ ra hậu họa ghê gớm của nó, chủ nghĩa cá nhân là một trong những nguy cơ đe dọa vai trò lãnh đạo cầm quyền của Đảng. Người chỉ rõ “do chủ nghĩa cá nhân mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa… Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ. Cũng do cá nhân chủ nghĩa mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân. Tóm lại, do chủ nghĩa cá nhân mà phạm nhiều sai lầm”[3]. Do đó, cán bộ, đảng viên phải luôn thực hiện phương châm hành động “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” và nêu gương, vì đây là phương pháp tốt nhất vận động quần chúng, thuyết phục quần chúng, tập hợp quần chúng làm cách mạng. Quần chúng nhìn cán bộ, đảng viên tiên phong làm trước, phấn đấu, hy sinh vì mục tiêu cách mạng cao cả, từ đó họ sẽ tự giác nghe theo, tin và làm theo.

Trong điều kiện một Đảng cầm quyền hiện nay, các vị trí chủ chốt trong bộ máy quyền lực đều do đảng viên nắm giữ và đảm trách, nếu không được giáo dục thường xuyên và tự giác tu dưỡng đạo đức cách mạng, thì những cán bộ, đảng viên sa sút về đạo đức lại là một trong những nguyên nhân làm xói mòn nền tảng đạo đức xã hội và làm vô hiệu hóa quyền uy của pháp luật, làm xói mòn uy tín của Đảng đối với nhân dân và đó là thách thức lớn đối với vận mệnh của Đảng và tiền đồ của đất nước.

Tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực, “tham nhũng (tham ô, nhũng nhiễu) là hiện tượng xã hội tiêu cực, xấu xa mà thời nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có”[4], nên khi nào còn quyền lực khi đó còn điều kiện tồn tại của tham nhũng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã quán triệt “quyền lực phải được ràng buộc bằng trách nhiệm; quyền lực đến đâu trách nhiệm đến đó, quyền lực càng cao trách nhiệm càng lớn; bất kể ai lạm dụng, lợi dụng quyền lực để trục lợi đều phải bị truy cứu trách nhiệm và xử lý vi phạm”[5]. Tổng Bí thư chỉ rõ tham nhũng, tiêu cực gây nên “tác hại tiềm ẩn, khôn lường,… làm hư hỏng, mất cán bộ, mất niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ và cuối cùng là mất chế độ”[6]và tham nhũng lại diễn ra đối với những người có chức, có quyền, nên phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhiệm vụ rất khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải tiến hành một cách kiên quyết, kiên trì, liên tục, bền bỉ. Tổng Bí thư khẳng định: “không thể xóa ngay tận gốc tham nhũng trong thời gian ngắn. Do vậy, trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phải có quyết tâm cao, nỗ lực lớn và phương pháp đúng; không thể chủ quan, nóng vội”[7]. Đây là định hướng quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng và Nhà nước ta, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ tâm, đủ tầm thực hiện nhiệm vụ chính trị đặt ra.

Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng sản Việt Nam (2016) đã bổ sung thêm một thành tố quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, đó là “xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức[8].Việc bổ sung xây dựng Đảng về đạo đức là vấn đề mới rất quan trọng và cần thiết. Điều đó thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng ta trong việc đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên. Từ Cuộc vận động học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 05-CT/TW đến thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám, khóa XII (2018) về Quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp cao, là bước phát triển rất quan trọng trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trách nhiệm nêu gương được đề cao, từ quy định của Đảng đến tự giác thực hiện của mỗi cán bộ, đảng viên là sự thể hiện tính tiên phong của Đảng và phẩm chất cao quý của người cách mạng, tăng cường củng cố đoàn kết, thống nhất trong Đảng và quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.

Hiện nay, tình hình thế giới và trong nước có những diễn biến phức tạp, khó lường và bất thường, Đảng ta chủ trương phải “Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”[9]. Nếu chỉ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm thôi chưa đủ, mà phải dám nói, dám đổi mới, dám đột phá sáng tạo và đương đầu với khó khăn, thử thách, đó là yêu cầu Đảng ta đặt ra đối với mỗi cán bộ, đảng viên trước tình hình mới.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện cả về phẩm chất đạo đức, cả về tư tưởng lý luận, nắm vững quan điểm, đường lối của Đảng; xây dựng ý thức kỷ luật, luôn có ý thức gắn bó chặt chẽ với quần chúng; thường xuyên kiểm điểm, rút kinh nghiệm, tự mình đấu tranh với chính mình trước mọi cám dỗ của tiêu cực xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Kết luận 21-KL/TW (2021) của Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII "Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””. Quan điểm của Đảng ta trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng là “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai và không chịu sự tác động, sức ép của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào[10]. Và những kết quả trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua của Đảng đã tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định “Cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực đã góp phần rất quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, đặc biệt là đã từng bước lấy lại và củng cố niềm tin của nhân dân”[11]chứ không phải sẽ làm nhụt chí, chùn bước những người dám nghĩ, dám làm hay làm “chậm” sự phát triển đất nước.

Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế hiện nay, người cán bộ, đảng viên phải luôn ở vị trí tiên phong, tự giác tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, nêu gương trong công tác và đạo đức, lối sống ở mọi lúc, mọi nơi, sẵn sàng xông pha đi đầu vào những nơi khó khăn, nguy hiểm để hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ và đó chính là bảo vệ ĐảngNhư lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đối với các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống, còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền[12].Với bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, với sức mạnh của toàn Đảng và của cả dân tộc đoàn kết một lòng dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng, chúng ta hoàn toàn tin tưởng rằng, đất nước ta sẽ tiếp tục phát triển nhanh và bền vững, thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

                                Đại úy Nguyễn Thị Thanh Thuận – Khoa CTĐ, CTCT


[1]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 11. tr.601.

[2]Lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ, công nhân viên báo Nhân Dân ngày 19/8/1967, in lại trong Tuyển tập các tác phẩm đoạt giải báo chí Hội Nhà báo và Giải báo chí quốc gia. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.

[3]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 15, tr.547.

[4][5][6][7][10][11]Nguyễn Phú Trọng: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2023, tr.15; tr.39; tr.18; 37; tr.120; tr.14.

[8]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.202.

[9]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2021, tr.187.

[12]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 1, tr.284.

Đọc tiếp »

Phát triển văn hóa Đảng trong không gian số

Chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong đời sống chính trị, văn hóa và xã hội. T...