SẮC LỆNH ĐẶC BIỆT GÓP PHẦN TẠO NÊN THÀNH CÔNG BUỔI LỄ TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP 02/9/1945

Sắc lệnh số 3 do Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp thay mặt Chủ tịch lâm thời Chính phủ Dân chủ Cộng hòa Việt Nam ký ngày 01/9/1945 đã góp phần tạo nên sự thành công của buổi Lễ Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình lịch sử vào ngày 02/9/1945.

Theo Tuyên cáo ngày 28/8/1945, Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập trên cơ sở cải tổ Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam. Chính phủ Lâm thời có 13 Bộ và 15 vị Bộ trưởng, do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và có nhiệm vụ giữ vững tự do độc lập và cải tạo, kiến thiết đất nước sau bao năm bị giặc tàn phá. 

Để củng cố, đảm bảo an ninh quốc phòng trong những ngày đầu thành lập Chính phủ và bảo đảm an toàn cho buổi Lễ Tuyên ngôn độc lập và lễ ra mắt quốc dân đồng bào của Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ngày 01/9/1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã thay mặt Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ký ban hành Sắc lệnh số 3 về việc thiết quân luật ở Hà Nội.

Tại Điều 2, Sắc lệnh quy định:

“a) Từ mười hai giờ đêm đến sáu giờ sáng, không ai được đi lại trong các phố, trừ những người có giấy phép.

b) Không ai được mang khí giới, trừ những người có giấy phép.

c) Ai phạm đến tính mệnh tài sản của nhân dân sẽ phải đem xử theo quân luật”.

Sắc lệnh với 3 điều ngắn gọn nhưng đã góp phần tạo nên sự thành công của buổi Lễ Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình lịch sử vào ngày 02/9/1945. 

Đây cũng là một trong 30 Sắc lệnh mà đồng chí Võ Nguyên Giáp được Chủ tịch Hồ Chí Minh trao quyền ký trong khoảng thời gian ông làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ (28/8/1945-02/3/1946). 

Đến ngày 10/9/1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký Sắc lệnh số 22 về việc thay đổi đoạn a Điều thứ 2 của Sắc lệnh số 3 như sau: “Nhân dân được đi lại ban đêm trong thành phố như thường” .

                       Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III

Đọc tiếp »

ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH


Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán thực hiện đoàn kết lương - giáo, đoàn kết giữa những người theo các tôn giáo khác nhau. Theo Hồ Chí Minh, đoàn kết tôn giáo góp phần tập hợp, đoàn kết toàn dân tộc, tạo sức mạnh tổng hợp, thực hiện thắng lợi sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước có vai trò đặc biệt quan trọng. Chính vì vậy, sau khi nước nhà độc lập, trong Phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời (03-9-1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố: Thực dân và phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào Giáo và đồng bào Lương, để dễ thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố: Tín ngưỡng tự do và Lương Giáo đoàn kết. Theo Người, đoàn kết tôn giáo trước hết, phải lấy mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội làm điểm tương đồng, dùng cái tương đồng để khắc phục sự dị biệt. Giải phóng dân tộc ở nước ta là mục tiêu trước nhất, là nền tảng cho sự giải phóng giai cấp, là điều kiện để có độc lập, tự do cho các tôn giáo. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra nguyên tắc cụ thể để đoàn kết tôn giáo thành công. Trước hết cần lấy lợi ích quốc gia dân tộc làm mẫu số chung, dựa trên phương châm “Dân tộc trên hết - Tổ quốc trên hết” và “tất cả do con người, tất cả vì con người”. Lợi ích của từng tôn giáo gắn chặt với lợi ích của cả cộng đồng dân tộc, muốn đoàn kết được đồng bào tôn giáo vào trong khối đại đoàn kết dân tộc thì phải đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết. Ngoài ra, không chạm đến đức tin của tôn giáo nói chung và của từng tôn giáo nói riêng. Hồ Chí Minh chú ý nhiều đến việc chỉ ra cái chung, cái thống nhất của các tôn giáo với mục tiêu, lý tưởng của chủ nghĩa xã hội. Đồng thời nhấn mạnh, lòng yêu nước và đức tin tôn giáo không có gì mâu thuẫn, trái lại còn gắn bó chặt chẽ với nhau. Bên cạnh đó, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân. Đây là điều kiện tiên quyết, là nguyên tắc cơ bản để có thể đoàn kết được đồng bào tôn giáo vào khối đại đoàn kết chung của dân tộc. Bởi, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo tức là tôn trọng nhân dân, tôn trọng nhu cầu tâm linh của một bộ phận nhân dân, tôn trọng một yêu cầu về tự do, dân chủ trong đời sống văn hóa, tinh thần của xã hội.

Hồ Chí Minh còn đề ra các phương pháp đoàn kết tôn giáo trong quá trình hoạt động của mình: Tôn trọng giáo chủ, tranh thủ giáo sĩ và quan tâm đến giáo dân. Trong các tôn giáo, giáo chủ, giáo sĩ là những người không chỉ có sự hiểu biết giáo lý, giáo luật mà còn hiểu biết về tình hình chính trị - xã hội và cũng là những người có đạo đức cao cả nên có tầm ảnh hưởng lớn đối với đồng bào tín đồ tôn giáo. Nếu không nắm được giáo chủ, giáo sĩ thì rất khó thuyết phục được đồng bào có đạo tham gia vào khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mặt khác, khai thác các giá trị nhân bản, đề cao sự tương đồng, tôn trọng sự khác biệt giữa tôn giáo và chủ nghĩa cộng sản. Hồ Chí Minh nhận thấy trong bản chất tôn giáo và trong cả tư tưởng của những người sáng lập ra nó chẳng có ai là không mong muốn cho cuộc sống của con người ngày càng tốt đẹp hơn, đạo đức hơn và đều hướng tới những giá trị chung của con người là: Chân - Thiện - Mỹ. Các tư tưởng nhân ái, từ bi, bác ái của các tôn giáo đã gặp gỡ với mục tiêu lý tưởng của chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đang xây dựng. 

Tư tưởng đoàn kết tôn giáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn được Đảng ta kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo với tình hình thực tiễn. Chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo nào của nhân dân. Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật và tại Điều 6 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo có hiệu lực từ ngày 01-01-2018 cũng quy định rõ điều này. Tuy nhiên các thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề tự do, tín ngưỡng, dân chủ, nhân quyền để xuyên tạc, kích động,… hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Họ thường vu cáo Việt Nam đàn áp các tôn giáo. Nhưng sự thật, cũng như các quốc gia có chủ quyền khác, Việt Nam chỉ xử lý những đối tượng lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia./.

Đọc tiếp »

PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM LÀ “CỦA ĐẢNG, DO ĐẢNG VÀ VÌ ĐẢNG”

Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn cùng nhân dân Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, xây dựng đất nước Việt Nam đạt nhiều thành tựu trên mọi lĩnh vực, qua đó khẳng định vị thế Việt Nam trên chính trường quốc tế. Vậy mà, một số thế lực thù địch vẫn luôn tìm cách chống phá sự lãnh đạo của Đảng, cho rằng việc xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là “của Đảng, do Đảng và vì Đảng”. Đây là luận điệu xuyên tạc, sai trái cần phải vạch trần!

Trong bài viết Nhà nước pháp quyền là của ai? đăng trên trang blog phản động Danlambaovn, tài khoản có tên Phạm Trần đã cố tình vu khống, bôi nhọ Đảng khi cho rằng, sau 31 năm (tính từ Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII (ngày 29/11/1991), Đảng khẳng định xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, nhưng thực tế “dân đã bị sử dụng làm quân múa rối cho trò ảo thuật chính trị do Đảng tự chế như các cuộc bầu cử Hội đồng Nhân dân và Quốc hội”(?!). Theo tài khoản này, “tất cả các ứng cử viên đều được Đảng chọn, thông qua tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ quan ngoại vi của Đảng”(?!). Chính vì vậy, “Nhà nước ở Việt Nam thời Cộng sản không phải của dân, do dân và vì dân mà là “của đảng, do đảng và vì đảng”, lý do đơn giản vì dân không bầu ra nhà nước này mà do đảng tự lập ra để cai trị độc tài” (?!). Từ luận điệu này cho thấy, mục tiêu cuối cùng của các đối tượng thù địch, phản động vẫn là vu khống, bôi nhọ, hạ uy tín và cuối cùng nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Phải khẳng định rằng, từ khi ra đời đến nay, Nhà nước Việt Nam không có mục đích nào khác ngoài phục vụ lợi ích của nhân dân và Tổ quốc Việt Nam. Điều đó được thể hiện:

Một là, Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, ngay sau Quốc khánh, trong tháng 9/1945 đã đề nghị tiến hành cuộc Tổng tuyển cử và khẳng định: “Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống, v.v.. ”[1]. Quyền lực Nhà nước là quyền lực của nhân dân, do nhân dân ủy thác cho cán bộ trong bộ máy Nhà nước. Vì vậy, nhân dân có quyền kiểm soát, giám sát, bãi miễn đại biểu mà mình đã bầu ra. Người viết: “Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân. Nguyên tắc ấy bảo đảm quyền kiểm soát của nhân dân đối với đại biểu của mình”[2]. Như thế để thấy, Nhà nước Việt Nam ngay từ khi ra đời đã khẳng định mục tiêu: Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

Hai là, Trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta luôn khẳng định xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”[3]. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta là một hình thức nhà nước chứa đựng những giá trị quý báu của nền dân chủ tiến bộ và là nhà nước có cơ sở kinh tế khách quan (sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất chủ yếu); có lợi ích kinh tế thống nhất giữa công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức; do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Vì vậy, đây là cơ sở khách quan cho việc thực hiện mục tiêu Nhà nước của dân, do dân và vì dân.

Ba là, tại Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: 1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; 2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; 3. Quyền lực Nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhân dân là chủ thể của quyền lực Nhà nước và do đó Nhân dân là chủ thể của Hiến pháp và lần đầu tiên trong văn bản quan trọng nhất này, Nhân dân đã được viết hoa. Bên cạnh đó, trước đây chúng ta thường dùng cụm từ lấy dân làm gốc, nhưng trong Cương lĩnh năm 2011 đã sử dụng cụm từ dân là gốc. Đây là sự kết tinh của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và bài học sâu sắc từ thực tiễn đổi mới, minh chứng cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là của dân, do dân và vì dân.

Bốn là, để ban hành những văn bản có tính chiến lược trong xây dựng và phát triển đất nước, Đảng, Nhà nước Việt Nam thường xuyên tham khảo ý kiến góp ý của Nhân dân. Chẳng hạn, Văn kiện Đại hội XIII, đã tổ chức hơn 60 cuộc hội thảo, thành lập 50 đoàn đi nắm tình hình thực tế trong và ngoài nước để học tập mô hình, kinh nghiệm. Văn kiện được sửa đi sửa lại 80 lần với hơn 30 lần dự thảo và được đăng toàn văn trên các phương tiện thông tin đại chúng để toàn dân góp ý. Các góp ý của Nhân dân dày hơn 1.410 trang gửi về ban biên tập, tổng hợp 200 trang[4]; Hoặc trong xây dựng Hiến pháp, Nhà nước Việt Nam luôn công khai bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp để mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội đóng góp ý kiến. Qua đó, đợt lấy ý kiến sửa đổi Hiến pháp 1992, trong 5 tháng tính tới tháng 5/2013, cả nước đã tổ chức được 28.000 hội thảo, hội nghị, tọa đàm và thu được 26 triệu lượt ý kiến đóng góp về nội dung Hiến pháp[5]; hoặc việc lấy ý kiến về Sửa đổi Luật Đất đai trong năm 2023 vừa qua đã có sự tham gia đóng góp ý kiến của toàn dân; hoặc qua ý kiến góp ý của người dân, Luật Đặc khu, Luật An ninh mạng… đã được Quốc hội xem xét, cân nhắc rất cẩn thận, trên cơ sở ý kiến góp ý của Nhân dân

Năm là, Điều 9 Hiến pháp quy định, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Điều đó cho thấy, Mặt trận Tổ quốc hỗ trợ nhân dân thực hiện dân chủ, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Không phải là cơ quan ngoại vi của Đảng như các thế lực thù địch rêu rao.

Điểm qua những con số nêu trên đã phần nào minh chứng cho nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thời gian qua và việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân là mục tiêu và nhiệm vụ của Đảng. Đảng và Nhà nước Việt Nam không có lợi ích nào khác ngoài việc phục vụ lợi ích của Nhân dân, của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Việc cho rằng Nhà nước pháp quyền của Việt Nam là “của Đảng, do Đảng và vì Đảng” là sự vu khống trắng trợn, thiếu cơ sở khoa học, mị dân, phản động cần phải lên án và trừng phạt.

                                     Đại úy Nguyễn Thị Thanh Thuận – Khoa CTĐ, CTCT 

Tài liệu tham khảo:

[1]Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2011, tập 4 tr.7.

[2]Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2011, tập 12 tr.375.

[3]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, tr.85.

[4]Đảng Cộng sản Việt NamVăn kiện Đại hội Đại biểu lần thứ XIII của Đảng, Nxb CTQG Sự thật, Hà Nội 2021, tr. 18.


Đọc tiếp »

ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC - CỘI NGUỒN SỨC MẠNH CỦA MỌI THÀNH CÔNG


Vừa qua, Facebook “Đài Á Châu tự do - RFA” đăng tải bài viết “Chính sách “đại đoàn kết dân tộc” của Việt Nam: Nói một đằng, làm một nẻo…” nhằm xuyên tạc, chống phá khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam. Để phản bác quan điểm này, chúng ta cần nhận thức rõ chính sách về đại đoàn kết và đường lối dân tộc của Việt Nam, cùng những quan điểm của Đảng ta về tăng cường đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn cách mạng mới.

Chính sách đại đoàn kết và đường lối dân tộc ở Việt nam

Có thể khẳng định, chính sách đại đoàn kết và đường lối dân tộc là những vấn đề lớn của cách mạng Việt Nam, một trong những nội dung quan trọng phản ánh bản chất của chế độ chính trị nước Cộng hoà chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Hiến pháp năm 1946 ngay trong Lời nói đầu đã ghi nhận: “Hiến pháp Việt Nam... phải xây dựng trên những nguyên tắc dưới đây: Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo. Đảm bảo các quyền tự do dân chủ”. Trong các điều 1, 6, 7 quy định địa vị pháp lý và quyền bình đẳng của tất cả mọi người không phân biệt nòi giống, trai gái, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo; mọi người đều ngang quyền về mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hoá và bình đẳng trước pháp luật. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng làm nền tảng cho việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Đồng thời, Điều 8 còn ghi nhận: “Ngoài sự bình đẳng về quyền lợi, những quốc dân thiểu số được giúp đỡ về mọi phương diện để chóng tiến kịp trình độ chung”.

Hiến pháp năm 1980 ra đời sau khi đất nước thống nhất, cả nước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng về đoàn kết dân tộc có những điều kiện mới để phát triển. Điều 9 Hiến pháp năm 1980 khẳng định: “Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, giáo dục và động viên nhân dân đề cao ý thức làm chủ tập thể, ra sức thi đua xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc".

Hiến pháp năm 1992 một lần nữa thể hiện một cách đầy đủ và sâu sắc hơn chính sách đoàn kết và đường lối dân tộc của nước ta trong Điều 5. Đồng thời nhận rõ tầm quan trọng và sức mạnh to lớn của nhân dân trong khối đại đoàn kết dân tộc, Điều 9 Hiến pháp năm 1992 ghi rõ: “Mặt trận Tổ quổc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cổ chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức Nhà nước. Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có hiệu quả".

Hiến pháp năm 2013 kế thừa và phát triển các quy định của Hiến pháp năm 1992, quy định một cách đầy đủ, toàn diện và sâu sắc đường lối đại đoàn kết và chính sách dân tộc của nước ta tại Điều 5, Điều 9 và các điều khoản khác.

Quan điểm mới của Đảng về tăng cường đại đoàn kết dân tộc trong giai đoạn cách mạng mới

Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước theo tinh thần Nghị quyết mà Đại hội XIII của Đảng đang đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta những nhiệm vụ nặng nề nhưng rất vẻ vang. Đảng ta chỉ rõ: “Trong những năm tới, tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen; đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải đoàn kết một lòng; tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy; có quyết tâm chính trị cao; dự báo chính xác, kịp thời diễn biến của tình hình; chủ động ứng phó kịp thời với mọi tình huống; nỗ lực hơn nữa để tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; không ngừng gia tăng tiềm lực mọi mặt của quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và những thành quả phát triển đã đạt được; đưa đất nước vững bước tiến lên, phát triển nhanh và bền vững”. Trong đó, “Các thế lực thù địch cấu kết với các phần tử phản động, cơ hội chính trị trong nước chưa từ bỏ âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam, nhất là phá hoại nền tảng chính trị, tư tưởng, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”.

Tại buổi Lễ kỷ niệm 90 năm Ngày truyền thống của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: Đại đoàn kết dân tộc là chủ trương chiến lược, có ý nghĩa sống còn, quyết định sự thành bại của cách mạng, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong đường lối chiến lược cách mạng của Đảng ta. Là biểu trưng sinh động của tư tưởng đoàn kết thống nhất toàn dân tộc. Bởi vậy, đòi hỏi chúng ta phải có quyết tâm cao hơn nữa, nỗ lực lớn hơn nữa, đoàn kết thống nhất chặt chẽ hơn nữa để phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng”.

Toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục phát huy mạnh mẽ truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, phấn đấu hoàn thành  thắng lợi nhiệm vụ phát triển  kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh;  xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh, quyết tâm đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Ðảng vào cuộc sống, thực hiện thắng lợi mục tiêu “ Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh’’, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.

Đọc tiếp »

Phát triển văn hóa Đảng trong không gian số

Chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong đời sống chính trị, văn hóa và xã hội. T...