Tư tưởng Hồ Chí Minh về "nói đi đôi với làm" - mệnh lệnh trái tim của "Bộ đội Cụ Hồ"

 

Trong di sản tư tưởng vô giá của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Nói đi đôi với làm” không chỉ là một chỉ dẫn đạo đức giản dị mà còn là một nguyên tắc cách mạng nền tảng, một tiêu chí cơ bản để phân biệt người cộng sản chân chính với những kẻ cơ hội, hình thức.  Nguyên tắc ấy, qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, đã được tôi luyện, kết tinh và trở thành phẩm chất cốt lõi, làm nên danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” - một danh hiệu không do bất kỳ ai phong tặng mà được Nhân dân tin yêu trao gửi. Ngày nay, trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, việc tiếp tục quán triệt và thực hành sâu sắc phẩm chất “Nói đi đôi với làm” không còn là một lựa chọn, mà đã trở thành một mệnh lệnh trái tim, một cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận thường trực để giữ vững bản chất cách mạng, nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về "Nói đi đôi với làm" - Cội nguồn tư tưởng, đạo đức và sức mạnh của người quân nhân cách mạng

Ngay từ những ngày đầu tìm đường cứu nước, trong tác phẩm “Đường Cách mệnh” năm 1927, Nguyễn Ái Quốc đã đặt lên hàng đầu vấn đề “Tư cách một người cách mệnh”. Điều này cho thấy tầm nhìn vượt thời đại của Người: trước khi có hành động cách mạng vĩ đại, phải có con người cách mạng với phẩm chất đạo đức trong sáng. Trong 23 tiêu chí về tư cách người cách mạng, Người dành tới 14 yêu cầu về việc “tự mình phải”, 5 yêu cầu đối với người khác và 4 yêu cầu đối với công việc. trong đó nhấn mạnh “nói thì phải làm”[1].

Theo tư tưởng của Người, “Nói đi đôi với làm” là sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, giữa nhận thức và hành động, giữa ý thức đạo đức và hành vi đạo đức. Lời nói phải tương xứng với việc làm, không được mâu thuẫn, trái ngược. Việc nói một đằng, làm một nẻo không chỉ là sai lầm về tư duy, mà còn là một khuyết tật nặng nề về đạo đức, là biểu hiện của sự giả dối, thiếu trung thực, thiếu lòng tự trọng và vô trách nhiệm với Nhân dân. Đó chính là mảnh đất dung dưỡng cho chủ nghĩa cá nhân, kẻ thù nguy hiểm nhất mà Người đã căn dặn phải “quét sạch”.

Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là minh chứng sinh động và cảm động nhất về sự thống nhất giữa nói và làm. Người không chỉ dạy, mà còn suốt đời thực hành và nêu gương. Ngay sau khi đọc Tuyên ngôn Độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Người đề nghị phát động phong trào nhịn ăn để cứu đói và chính Người đã gương mẫu thực hiện mười ngày nhịn ăn một bữa. Người kêu gọi Chính phủ tìm người tài đức và đích thân Người trân trọng mời gọi, cảm hóa các bậc nhân sĩ, trí thức ra gánh vác việc nước. Người dạy phải tiết kiệm và chính Người đã thực hành một lối sống giản dị, thanh đạm đến mức khắc khổ, bởi Người tâm niệm tham ô, tham nhũng là làm hại dân, có tội với dân, với nước. Chính những việc làm cụ thể đó, xuất phát từ một trái tim lớn yêu thương Nhân dân, đã tạo nên sức mạnh cảm hóa vô song. Người đã đúc kết: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”[2]. Tấm gương của Người đã trở thành kim chỉ nam, thành chuẩn mực đạo đức cho mọi thế hệ cán bộ, chiến sĩ noi theo.

2. "Mệnh lệnh trái tim" - Biểu hiện cao đẹp và sức mạnh chiến đấu của "Bộ đội Cụ Hồ"

Đối với người lính, “Nói đi đôi với làm” không chỉ là một phẩm chất đạo đức mà đã thực sự trở thành một “Mệnh lệnh trái tim”. “Mệnh lệnh trái tim” là mệnh lệnh không được ban ra từ giấy trắng mực đen, mà xuất phát từ sự giác ngộ sâu sắc về lý tưởng cách mạng, từ lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân. Đó là tiếng nói của danh dự, của lòng tự trọng người quân nhân, thôi thúc họ phải hành động cho xứng đáng với lời thề thiêng liêng khi vào quân ngũ, xứng đáng với niềm tin yêu của Nhân dân. Đó là mệnh lệnh của lương tâm, đòi hỏi mỗi người lính phải “tự vấn”, phải biết “trọng dân, vì dân”, phải thấy hổ thẹn khi lời nói của mình không đi đôi với việc làm.

Mệnh lệnh trái tim ấy được thể hiện bằng những hành động cụ thể, làm nên bản chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”:

Trong chiến đấu: Lời thề “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” đã được hàng triệu người lính chuyển hóa thành hành động dũng cảm, kiên cường, hy sinh quên mình. Mệnh lệnh của người chỉ huy được chấp hành tuyệt đối, không chỉ bằng kỷ luật sắt mà còn bằng niềm tin và sự tự giác.

Trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu: Khẩu hiệu “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu” được cụ thể hóa bằng những giờ phút khổ luyện không mệt mỏi. Cán bộ các cấp luôn gương mẫu đi đầu trong những khoa mục khó, những bài tập cường độ cao, thực sự là tấm gương để chiến sĩ noi theo.

Trong công tác dân vận: Lời hứa “giúp dân” được thể hiện bằng những cây cầu được dựng lên, những mái nhà được lợp lại sau bão lũ, những lớp học xóa mù chữ nơi biên cương, những chuyến hàng “Tết thắm tình quân dân”... Những việc làm đó đã xây nên “thế trận lòng dân” vững chắc, củng cố mối quan hệ máu thịt quân - dân.

Trong xây dựng đơn vị: Sự gương mẫu “nói đi đôi với làm” của người chỉ huy trong chấp hành điều lệnh, trong chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội chính là mệnh lệnh không lời hiệu quả nhất, tạo nên sự đoàn kết, thống nhất, nâng cao sức mạnh chiến đấu của đơn vị.

3. Phát huy phẩm chất "Nói đi đôi với làm" vào cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận trong tình hình mới

Trong bối cảnh hiện nay, việc giữ vững và phát huy phẩm chất “Nói đi đôi với làm” là một cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận đầy cam go, quyết liệt; do đó, cần nhận diện những biểu hiện trái ngược và cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Cuộc đấu tranh này trước hết là đấu tranh với chính mình, với chủ nghĩa cá nhân - thứ “giặc nội xâm” nguy hiểm mà Bác Hồ đã cảnh báo. Nó biểu hiện qua các căn bệnh như: bệnh thành tích, nói hay làm dở, “nói một đằng làm một nẻo”; bệnh hình thức, quan liêu, xa rời thực tiễn, xa rời bộ đội; bệnh cá nhân chủ nghĩa, chỉ vun vén lợi ích cá nhân mà quên đi trách nhiệm với tập thể. Đây chính là những biểu hiện cụ thể của việc nói không đi đôi với làm, làm xói mòn bản chất cách mạng, làm suy giảm sức mạnh chiến đấu và làm tổn hại đến uy tín, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”.

Trong tình hình mới, khi Quân đội ta đang đẩy mạnh tiến trình hiện đại hóa, đối mặt với những thách thức từ an ninh truyền thống và phi truyền thống, đặc biệt là cuộc đấu tranh trên không gian mạng và âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch, thì phẩm chất “Nói đi đôi với làm” lại càng có ý nghĩa sống còn. Nó đảm bảo sự thống nhất tuyệt đối giữa mệnh lệnh và hành động, yếu tố quyết định trong tác chiến hiện đại. Nó xây dựng niềm tin sắt son của chiến sĩ vào người chỉ huy, của Nhân dân vào quân đội, tạo nên sức mạnh chính trị - tinh thần to lớn. Nó là vũ khí sắc bén nhất để đập tan luận điệu xuyên tạc cho rằng quân đội đã xa rời bản chất tốt đẹp của mình. Hành động thực tiễn của “Bộ đội Cụ Hồ” chính là câu trả lời đanh thép nhất.

Để phẩm chất “Nói đi đôi với làm” luôn là mệnh lệnh thường trực trong tim mỗi người lính, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp:

Một là, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc rằng “Nói đi đôi với làm” là danh dự, là thước đo phẩm chất của người quân nhân cách mạng.

Hai là, đề cao và phát huy mạnh mẽ trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp. Cấp trên làm gương cho cấp dưới, lời nói phải đi liền với hành động mẫu mực, tạo ra sự lan tỏa tích cực.

Ba là, cụ thể hóa tiêu chí “Nói đi đôi với làm” vào các phong trào thi đua, công tác đánh giá, nhận xét, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ. Lấy hiệu quả công việc thực tế làm thước đo chính xác nhất.

Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng, người chỉ huy và các tổ chức quần chúng. Kịp thời biểu dương những tấm gương làm tốt, đồng thời xử lý nghiêm những biểu hiện nói không đi đôi với làm, nói một đằng làm một nẻo.

Năm là, phát huy vai trò giám sát của Nhân dân. Sự tin yêu, ủng hộ hay phê bình của Nhân dân chính là tấm gương phản chiếu trung thực nhất phẩm chất của người lính.

Tóm lại: “Nói đi đôi với làm” không phải là một khẩu hiệu xa vời, mà là một nguyên tắc sống, một lẽ sống cao đẹp được Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng và suốt đời thực hiện. Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung, Bộ đội Biên phòng nói riêng nguyên tắc ấy đã được tôi luyện qua lửa đạn chiến tranh, được bồi đắp trong hòa bình xây dựng để trở thành bản chất, thành truyền thống, thành mệnh lệnh trái tim của mỗi người lính mang danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ”.

Trong kỷ nguyên mới, mệnh lệnh trái tim ấy càng phải được thực thi một cách tự giác, quyết liệt hơn bao giờ hết. Mỗi cán bộ, chiến sĩ hãy biến lời nói thành hành động cách mạng cụ thể; biến lòng trung thành thành kết quả hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; biến tình yêu thương Nhân dân thành những việc làm thiết thực. Đó là cách tốt nhất để giữ vững và làm tỏa sáng hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, góp phần xây dựng Quân đội, Bộ đội Biên phòng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

 

Hoàng Trọng Thiết

Tài liệu tham khảo:

1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tập  2, tr. 280.

2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 15, tr. 615.

3. Vũ Khiêu (2015), Học tập đạo đức Bác Hồ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

4. Phạm Ngọc Anh (2017), Học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh về  nêu cao tinh thần trách nhiệm, nói đi đôi với làm, chống chủ nghĩa cá nhân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.



[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 2, tr. 280

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 615

Đọc tiếp »

Sáp nhập tỉnh - thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp từ ngày 01/7/2025 - chủ trương hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử

 

Trong thời gian qua, Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đã thể hiện sự sáng suốt, quyết tâm chính trị rất cao trong thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy, mở rộng không gian phát triển, tạo nền tảng, sức bật cho đất nước trong kỷ nguyên mới, đồng thời đảm bảo tính ổn định lâu dài của hệ thống chính trị. Cuộc cách mạng này hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử đất nước ta và thế giới.

Tư duy chiến lược

Ở mọi cuộc cách mạng, không chỉ đơn thuần là một sự thay đổi ngắn hạn vài chục năm, mà đó là một tư duy chiến lược trăm năm, thậm chí là thế kỷ; cuộc cách mạng sáp nhập tỉnh - thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp lần này mang tính quan trọng không kém các cuộc cách mạng lớn mà dân tộc Việt Nam đã trải qua. Trước hết, chúng ta phải xác định: Chủ trương sáp nhập là cuộc cách mạng mang lại lợi ích cho dân tộc, cho toàn dân; quê hương của chúng ta là quê hương Việt Nam, trái ngược hoàn toàn với những tư duy hẹp hòi quê hương là phạm vi của một vùng miền nhất định, của một dân tộc nào đó; kiên quyết đấu tranh loại bỏ những tư duy bảo thủ để cùng nhau phấn đấu cất cánh vươn lên.

Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa của thời đại văn minh, nếu không chớp lấy cơ hội để vươn lên thì sẽ bị tụt hậu, đi ngược lại xu thế, trực tiếp làm nguy hại đến cơ đồ, vị thế của dân tộc. Chính vì vậy để thực hiện được mục tiêu to lớn đòi hỏi phải có sự chung sức, đồng lòng không phân biệt vùng miền hay dân tộc, tôn giáo, toàn Đảng, toàn dân tộc Việt Nam phải “đồng tâm, hiệp lực” cùng nhau đi lên, bước vào kỷ nguyên mới đưa dân tộc Việt Nam phát triển hùng cường.

Chủ trương của Đảng sáp nhập các đơn vị hành chính lần này được tiến hành đồng thời, thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp không tổ chức cấp huyện. Điều đó cho thấy việc sáp nhập tỉnh, thành lần này chính là một phần của cuộc cách mạng tổ chức bộ máy “vừa tinh gọn, vừa giảm cấp chính quyền địa phương”, nghĩa là thay đổi căn cơ. Việc sắp xếp không chỉ căn cứ vào các tiêu chí đơn thuần như về quy mô dân số, diện tích mà rất chú trọng đến quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch địa phương, chiến lược mở rộng không gian phát triển kinh tế xã hội, sáp nhập để đạt mục tiêu cuối cùng là phát triển và hưng thịnh.

Việc sáp nhập tỉnh nhằm tạo ra không gian mới, tạo ra động lực mạnh mẽ để địa phương và cả đất nước phát triển. Cùng với đó là các cơ quan của cấp ủy Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị xã hội… cũng được sắp xếp tổ chức lại bảo đảm tính đồng bộ trên địa bàn cấp xã (sau khi sáp nhập). Đội ngũ cán bộ, công chức sẽ phải đánh giá và phân loại để thực sự nâng cao chất lượng trong bộ máy tổ chức mới và giải quyết chế độ chính sách đối với những người chịu sự tác động của việc tinh gọn, sáp nhập. Như vậy, sắp xếp đơn vị hành chính này thể hiện tính hệ thống, toàn diện, đồng bộ trong cách mạng tinh gọn bộ máy và bảo đảm sự thành công, đưa đất nước cất cánh đi lên.

Cảnh giác và đấu tranh với luồng thông tin xấu, độc

Xuyên suốt chiều dài của lịch sử dân tộc Việt Nam cho thấy, các thế lực thù địch phản động, cơ hội chính trị chúng luôn tìm đủ mọi cách để lôi kéo, kích động những phần tử thoái hoá về tư tưởng chính trị, bất mãn, nhẹ dạ cả tin trong nước và nước ngoài thông qua các phương tiện trên không gian mạng hòng xuyên tạc chống phá, gây hoang mang dư luận, như: Rằng đây là chiêu bài chính trị, nhằm củng cố quyền lực trong nội bộ Trung ương Đảng; khoét sâu các mâu thuẫn xã hội khi sáp nhập tỉnh, về tên gọi, về thủ tục hành chính, thay đổi luật, lo ngại quyền lực cấp xã quá lớn… Mục đích cuối cùng là chống phá Đảng, Nhà nước và tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam ta. Tư duy của các thế lực thù địch sử dụng đều là kiểu “tư duy bẩn” - chúng cố tình lờ đi những lợi ích to lớn của việc sáp nhập.

Mỗi công dân Việt Nam yêu nước, hết sức cảnh giác với việc lan truyền trên các tài khoản mạng xã hội những bức tâm thư, nhất là trong hội kín, nhóm kín. Tuyệt đối không chia sẻ, tuyên truyền các “gợi ý” này nọ mà mới đọc qua tưởng như “ôi sao mà đúng quá” hay là việc có một số những bài văn tế, bài thơ, bài hát xuyên tạc thành thứ để gây cười nhảm nhí, kèm những bình luận, đàm tiếu tạo nên hiệu ứng đám đông gây dư luận xấu trong xã hội.

Kiên quyết đấu tranh với “tư duy bịa đặt” nhằm xuyên tạc chủ trương sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị bằng việc phân tích sai bản chất các khái niệm, như là “xã lớn chẳng khác gì huyện nhỏ”, để tạo sự nghi ngờ hiểu sai các chủ trương của Đảng và Nhà nước. Rồi lợi dụng việc hợp nhất một số tỉnh để kích động Nhân dân ta phải chịu trăm ngàn khó khăn trong việc làm lại giấy tờ tuỳ thân, kích động phân biệt vùng miền, địa phương, tôn giáo bằng những thực ngôn như: “mất nền văn hoá”, “mất đất tổ tiên”… Một số gợi ý trên cho thấy, cái đích đến của những kẻ phản động không ngoài sự phá hoại khối đại đoàn kết Nhân dân, phá hoại sự gắn kết “Ý Đảng, lòng dân” nhằm phục vụ cho cho kẻ cơ hội gây bạo loạn, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Giữ trọn niềm tin đi theo Đảng

Bất kỳ một cuộc cách mạng nào đều phải bắt đầu từ sự thay đổi nhận thức, tư duy, đến hành động. Chủ trương của Đảng, Nhà nước trong cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp từ ngày 01/7/2025 tất cả là vì lợi ích chính đáng của toàn thể dân tộc Việt Nam, hướng đến sự phát triển và giàu mạnh.

Mọi cán bộ, đảng viên, mọi công dân Việt Nam yêu nước phải có cách nhìn đúng đắn. Đặt lợi ích to lớn, lợi ích dân tộc, lợi ích toàn dân lên trên hết, trước hết. Từ nhận thức đúng để bày tỏ sự ủng hộ từ trong tư duy, suy nghĩ, lời nói và niềm tin trong định hướng, chủ trương sáp nhập các đơn vị hành chính cấp tỉnh, bỏ cấp huyện, sáp nhập xã. Bởi lẽ đã thấy rõ mục tiêu là sáp nhập để phát triển, sáp nhập để vươn mình. Khi ý Đảng hợp lòng dân, nhận thức rõ chủ trương của Đảng là rất đúng, thuyết phục thì dẫu cho khó khăn, rào cản nào cũng sẽ vượt qua chắc chắn sẽ thành công. Vì vậy cần nêu cao tinh thần cảnh giác, tỉnh táo hơn nữa trước những luận điệu tiêu cực, cũng như thông tin chống phá lại quá trình sáp nhập vô tình hoặc cố ý đều tạo ra các dư luận xấu.

Từ những cơ sở lý luận và thực tiễn trên, chúng ta những công dân Việt Nam yêu nước, hơn bao giờ hết phải bày tỏ sự ủng hộ chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước thể hiện niềm tin, góp sức mình vào công cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy, mở rộng không gian phát triển, tạo nền tảng, sức bật cho đất nước trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.

                                            Đàm Đình Tùng, Khoa CTĐ, CTCT

Đọc tiếp »

Kiên định những giá trị trường tồn của chủ nghĩa Mác

 

Chủ nghĩa Mác do C.Mác và người bạn đồng hành của mình là Ph.Ăngghen sáng lập vào những năm 40, 50 của thế kỷ XIX. Từ khi chủ nghĩa Mác ra đời cho đến nay, thế giới đã trải qua biết bao biến cố, thăng trầm song đời sống xã hội vẫn không nằm ngoài những quy luật phổ biến đã được C.Mác chỉ ra. Khẳng định giá trị và sức sống trường tồn của chủ nghĩa Mác là cách để chúng ta kiên định, kiên trì với việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay.

Giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác

Chủ nghĩa Mác là sự hợp thành của ba bộ phận: triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học. Nếu triết học nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy con người thì kinh tế chính trị học nghiên cứu những quy luật kinh tế cơ bản của xã hội, đặc biệt là xã hội tư bản chủ nghĩa; còn chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu con đường, cách thức, động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội. Giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác được thể hiện trên cả ba bộ phận cấu thành của nó.

Thứ nhất, chủ nghĩa Mác là thế giới quan khoa học và phương pháp luận biện chứng trong nhận thức và cải tạo thế giới.

Đúng như V.I.Lênin khẳng định: “Toàn bộ thiên tài của Mác chính là ở chỗ ông đã giải đáp được những vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của nhân loại nêu ra... Chủ nghĩa Mác là học thuyết vạn năng vì nó là một học thuyết chính xác. Nó là một học thuyết hoàn bị và chặt chẽ; nó cung cấp cho người ta một thế giới quan hoàn chỉnh, không thỏa hiệp với bất cứ một sự mê tín nào, một thế lực phản động nào, một hành vi nào bảo vệ sự áp bức của tư sản”[1]

 Nhờ có thế giới quan khoa học, C.Mác đã gắn triết học, gắn lý luận cách mạng với đời sống thực tiễn, khắc phục sự đối lập giữa lý luận với thực tiễn của các nhà triết học trước đó. C.Mác chỉ rõ: “Các nhà triết học đã giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới”[2]. Chức năng “cải tạo thế giới” đã được các nhà sáng lập thực hiện rất triệt để và có hiệu quả trong quá trình xây dựng và phát triển học thuyết của mình.

Bên cạnh việc cung cấp cho chúng ta thế giới quan khoa học, chủ nghĩa Mác còn trang bị phương pháp luật biện chứng trong việc nhận thức và cải tạo thế giới. Phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác không chỉ là sự kết tinh những tinh hoa trong tư tưởng biện chứng ngây thơ, chất phác thời cổ đại và phép biện chứng của triết học cổ điển Đức mà còn khắc phục những hạn chế của tư tưởng biện chứng trước đó để trở thành phép biện chứng duy vật. Theo đó, triết học duy vật biện chứng của C.Mác luôn hướng về thực tiễn để hướng dẫn, giải quyết những vấn đề cơ bản và bức thiết do thực tiễn đặt ra. Chính vì thế mà triết học duy vật biện chứng của C.Mác có khả năng tự đổi mới và phát triển, trở thành vũ khí lý luận sắc bén cho con người trong nhận thức và cải tạo thế giới. Thông qua phương pháp luận của phép biện chứng duy vật, lần đầu tiên các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã gắn triết học với đời sống hiện thực.

Thứ hai, chủ nghĩa Mác là học thuyết đúng đắn về quá trình vận động và phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa.

Cùng với chủ nghĩa duy vật lịch sử, học thuyết giá trị thặng dư là một trong hai phát kiến gắn liền với tên tuổi của C.Mác. Theo đánh giá của V.I.Lênin, đây là “hòn đá tảng của học thuyết kinh tế của Mác”, là “nội dung căn bản của chủ nghĩa Mác’’.

Khi nghiên cứu về xã hội tư bản, C,Mác đã nhận ra rằng quy luật giá trị thặng dư là quy luật chung, chi phối mọi hoạt động kinh tế của xã hội tư bản ở cả giai đoạn mới ra đời cho đến lúc phát triển ở giai đoạn cao. Theo đó, sản xuất và chiếm hữu giá trị thặng dư là hình thức đặc biệt trong chủ nghĩa tư bản về sản xuất và chiếm hữu sản phẩm thặng dư, nghĩa là hình thức cao nhất của sự tha hóa con người đối với hoạt động của mình, đối với sản phẩm từ hoạt động đó, đối với chính mình, đối với người khác.

 Có thể nói, với học thuyết giá trị thặng dư, C.Mác đã tìm ra bí mật của phương thức bóc lột chủ nghĩa tư bản, chỉ ra cơ chế, động lực tồn tại và phát triển của xã hội tư bản là bóc lột giá trị thặng dư. C.Mác chỉ rõ mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất ngày càng xã hội hóa cao với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất, mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và những người lao động làm thuê với giai cấp tư sản. Trên cơ sở nhận thức đúng đắn về quá trình phát triển của các quan hệ xã hội, C.Mác đã chỉ ra vai trò lịch sử vĩ đại của giai cấp vô sản toàn thế giới với tư cách lực lượng có khả năng cải tạo tận gốc các quan hệ xã hội, thủ tiêu tình trạng người bóc lột người và xây dựng chế độ xã hội mới, tự giải phóng mình và qua đó, giải phóng nhân loại.

Thứ ba, chủ nghĩa Mác là học thuyết nhân văn vì hướng con người đến một xã hội tốt đẹp.

Khi mới 17 tuổi - khi vừa mới tốt nghiệp trung học, C.Mác đã nêu rõ quan điểm khi chọn nghề: “Nếu chúng ta lựa chọn một nghề mà trong đó chúng ta có thể lao động nhiều nhất cho loài người thì chúng ta sẽ không cúi đầu vằn lưng dưới gánh nặng của nó, bởi gánh nặng ấy là sự hy sinh vì mọi người, khi ấy điều chúng ta cảm nhận được không phải là một niềm vui thảm hại, hạn hẹp, vị kỷ, mà niềm hạnh phúc của chúng ta sẽ thuộc về hàng triệu người, lúc đó sự nghiệp của chúng ta sẽ có một cuộc sống thầm lặng nhưng có hiệu lực vĩnh hằng, và những con người cao thượng sẽ rơi những giọt lệ cháy bỏng trước thi hài của chúng ta” [3]Những tư tưởng đó đã ươm mầm cho tính nhân văn của chủ nghĩa Mác sau này. Do vậy, ngay từ khi mới ra đời, chủ nghĩa Mác đã mang tinh thần nhân văn bởi các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác không chỉ bàn đến những vấn đề của xã hội hiện tại - xã hội tư bản chủ nghĩa mà còn nói đến cả xã hội tương lai. Đó là xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là xã hội xã hội chủ nghĩa.

Khát vọng của C.Mác khi xây dựng chủ nghĩa cộng sản là “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. Chính điều này đã làm nên tính nhân văn của chủ nghĩa Mác mà không học thuyết nào có được. Do đó, những người lên tiếng phê phán chủ nghĩa Mác vì họ cho rằng đó chỉ là quyết định luận kinh tế, ít quan tâm đến vai trò của con người, là “chủ nghĩa lý luận không có con người”, hay đối với C.Mác, chỉ có con người giai cấp, không có con người cá nhân… là những quan điểm sai lầm, phiến diện nhằm phủ nhận tính nhân văn của chủ nghĩa Mác.

Sức sống trường tồn của chủ nghĩa Mác trong thời đại ngày nay

Dù đã ra đời cách đây gần 200 năm nhưng những quan điểm của chủ nghĩa Mác vẫn có sức sống bền vững và giá trị trường tồn. Sức sống của chủ nghĩa Mác được thể hiện ở chỗ nó đã giải đáp những vấn đề mà tư tưởng tiến tiến của loài người đặt ra, soi sáng các nhiệm vụ lịch sử đã chín muồi của nhân loại. Đó là nhiệm vụ giải phóng con người khói mọi hình thức áp bức, bóc lột, khỏi mọi sự tha hóa.  Mặc dù ngay từ khi mới ra đời và trong giai đoạn hiện nay, vẫn luôn có nhiều quan điểm phê phán, xuyên tạc nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác nhưng cho đến ngày nay, đó vẫn là một học thuyết khoa học và cách mạng duy nhất đáp ứng mọi nhiệm vụ của lịch sử mà không một học thuyết nào có thể thay thế được.

Ngày nay, sức sống của chủ nghĩa Mác còn tiếp tục được thể hiện ở chỗ dù đời sống thực tiễn của xã hội hiện đại đã vận động, phát triển qua rất nhiều giai đoạn khác nhau với những khúc quanh co, thăng trầm song cũng không vượt ra ngoài những quy luật phổ biến được được trình bày trong học thuyết Mác dù người ta có thừa nhận hay không thừa nhận điều đó.

Trong tình hình hiện nay, chính từ các quốc gia tư bản phương Tây, người ta lại thấy có những tiếng nói về những giá trị của chủ nghĩa Mác, của học thuyết kinh tế Mác, về phong trào “trở về với Mác”, tìm đọc Mác. Đặc biệt, ở những thời điểm diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu 2008 - 2009, trong khủng khoảng nợ công và suy thoái kinh tế ở nhiều quốc gia tư bản phát triển, phong trào “trở về với C.Mác”, tìm đọc C.Mác lại trở nên sôi nổi hơn bao giờ hết. Những tác phẩm kinh điển của C.Mác vẫn được tìm đọc nhiều nhất, đặc biệt là bộ “Tư bản” của C.Mác vẫn xếp số 1 trên thế giới và được dịch ra 134 ngôn ngữ ở 63 nước.

Không thể cố nói bừa rằng, chủ nghĩa Mác là học thuyết “ảo tưởng”, đã “lạc hậu, lỗi thời” khi chính học thuyết này đã tạo nên những hiện thực làm biến đổi thế giới, thúc đẩy sự phát triển, tiến bộ của lịch sử loài người và có sức lôi cuốn cũng như tầm ảnh hưởng sâu rộng toàn nhân loại.

Để bảo vệ chủ nghĩa Mác, một mặt chúng ta phải luôn kiên định, vững vàng với những nguyên lý cho tính chất nền tảng của chủ nghĩa Mác, mặt khác cũng phải không ngừng bổ sung, phát triển những quan điểm của học thuyết này cho phù hợp với thực tiễn. Việc bổ sung, phát triển đó không phải là “xét lại” chủ nghĩa Mác; cũng không phải là làm lu mờ chân giá trị của chủ nghĩa Mác mà là làm cho những nội dung, quan điểm của học thuyết Mác được có thêm sức sống mới, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của giai đoạn hiện nay. Đó là một việc làm hết sức khó khăn đòi hỏi những người mácxít phải kiên trì, có bản lĩnh và có trách nhiệm với hệ thống lý luận khoa học và cách mạng được coi là nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay.

 Thiếu tá, ThS Nguyễn Thị Thanh Thuận – Khoa CTĐ, CTCT

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, t.23, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, tr. 49-50.

2. C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.12.

3. Mác- Ăngghen (1994), Toàn tập, t.40, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.18.

 

[1] V.I.Lênin (1977), Toàn tập, t.23, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, tr. 49-50.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.12.

 

[3] Mác- Ăngghen (1994), Toàn tập, t.40, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.18

 

Đọc tiếp »

Tinh gọn bộ máy chính trị - tư tưởng Hồ Chí Minh đến quan điểm của đảng ta

 

Vào những thời điểm lịch sử mang tính bước ngoặt, cả Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đều rất quan tâm đến xây dựng bộ máy nhà nước. Đó là những chủ trương đúng đắn đã tạo ra những chuyển đổi mang tính cách mạng.

Từ tư tưởng Hồ Chí Minh

Thắng lợi vẻ vang của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã tạo bước ngoặt lịch sử, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc xây dựng nhà nước kiểu mới ở Việt Nam - nhà nước cách mạng đầu tiên của giai cấp vô sản. Trong bối cảnh đất nước đứng trước muôn vàn khó khăn - thù trong, giặc ngoài, nền kinh tế kiệt quệ, đời sống nhân dân đói nghèo, các thế lực phản động trong và ngoài nước ráo riết chống phá, đe dọa nghiêm trọng nền độc lập non trẻ. Trước tình hình đó, nhiệm vụ hàng đầu là phải nhanh chóng kiến tạo một bộ máy nhà nước vững mạnh, đủ năng lực lãnh đạo, quản lý xã hội, bảo vệ chính quyền cách mạng và định hình con đường phát triển mới cho dân tộc. Là người đứng đầu Nhà nước ta lúc đấy giờ, Người tuyên bố: “Công việc phá hoại xong rồi. Nay bước đầu công việc dọn dẹp, sắp đặt, giữ gìn, kiến thiết”[1]

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thẳng thắn chỉ rõ những bất cập trong tổ chức bộ máy nhà nước thời kỳ đầu của chính quyền cách mạng, khi nhiều cơ quan, tổ chức còn chồng chéo chức năng, phân tán nhiệm vụ, biên chế tăng một cách tự phát. Có nơi người làm không hết việc, có nơi lại “ngồi chờ việc”, thiếu cán bộ có năng lực thực chất. Người đặc biệt phê phán căn bệnh quan liêu, hành chính hóa, hình thức, và coi đó là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng kém hiệu quả trong quản lý, điều hành. Hồ Chí Minh khẳng định: “Riêng cơ quan cung cấp tổ chức còn kềnh càng, thừa người”[2] “Về biên chế - từ các bộ, các ngành và các địa phương, bộ máy đều quá cồng kềnh và càng ngày càng phình ra. Vì vậy mà sinh ra quan liêu, lãng phí”[3].

Hồ Chí Minh xác định tiêu chí của một bộ máy nhà nước trước hết phải gọn nhẹ: ít bộ - ngành, ít tầng nấc trung gian, ít cán bộ nhưng vẫn thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong công việc bộn bề của chính quyền cách mạng non trẻ mà chính phủ liên hiệp chỉ có 10 bộ, Người cho rằng: “Vì nước mình nhỏ nên không cần nhiều bộ”[4]. Người giải thích nội hàm của tinh gọn bộ máy nhà nước như sau: “tinh là đưa năng suất lên cao, làm cho mau cho tốt, giản là vừa phải, không kềnh càng, tránh hình thức”[5]. Hồ Chí Minh nói rõ hoạt động của một người, một bộ phận sẽ tác động đến sự vận hành của cả bộ máy, việc tinh gọn phải diễn ra trong cả bộ máy chứ không chỉ trong các cơ quan hành chính: “Các cơ quan chính quyền và đoàn thể, các cơ quan kinh tế và các ủy ban, cần phải nâng cao năng suất, giảm bớt số người (tinh giản)...”[6].

Vấn đề giảm biên chế đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra một cách quyết liệt với mục tiêu không chỉ “cắt bỏ cơ học” bộ phận dôi dư mà còn là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ. Người nhìn nhận tác dụng của công tác giảm biên chế không chỉ ở góc độ kinh tế mà còn ở góc độ văn hóa và đạo đức khi nó buộc người cán bộ phải hoàn thiện mình về mọi mặt, phải nâng mình ngang tầm nhiệm vụ để đáp ứng yêu cầu của tổ chức và mong muốn của Nhân dân. Người chỉ rõ: “Giản chính - Chính quyền và đoàn thể tìm mọi cách để giảm bớt những cơ quan và những nhân viên không cần thiết để tiết kiệm sức người và của, để thêm sức vào việc sản xuất. Đồng thời, tìm mọi cách để nâng cao năng suất của những nhân viên và các cơ quan”[7].

Tư tưởng xây dựng Nhà nước kiểu mới của Hồ Chí Minh thể hiện tầm nhìn chiến lược sâu sắc, đồng thời mang tính định hướng quan trọng cho việc thiết lập Nhà nước kiểu mới của giai cấp vô sản hiệu lực, hiệu quả, lấy lợi ích của Nhân dân làm trung tâm, đặt nền móng cho sự phát triển bền vững đất nước.

Đến quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

Chủ trương sắp xếp, tinh gọn bộ máy là một định hướng có tính nguyên tắc, xuyên suốt và nhất quán trong quá trình xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.

Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng “về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” được ra đời trong bối cảnh đòi hỏi càng bức thiết về bộ máy chính trị phải được tổ chức theo hướng tinh gọn, linh hoạt và hiệu quả hơn. Qua 7 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW đã tạo chuyển động mạnh mẽ trong công tác sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế. Tuy nhiên, quá trình tổ chức thực hiện còn bộc lộ nhiều bất cập, đặc biệt trong lĩnh vực cán bộ và tổ chức bộ máy. Đội ngũ cán bộ, công chức nhìn chung còn hạn chế về chất lượng, nhất là trong tư duy đổi mới và năng lực quản lý; hiện tượng “giữ người yếu, giảm người tốt” vẫn tồn tại do quy trình sàng lọc thiếu thực chất. Về tổ chức, việc sắp xếp mới chỉ dừng lại ở việc “gộp tên, nhập cơ cấu” mà chưa cải tiến nội dung, phương thức hoạt động; chức năng, nhiệm vụ chồng chéo, phối hợp kém hiệu quả, đùn đẩy trách nhiệm…. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu quyết liệt trong chỉ đạo, tư tưởng ngại thay đổi, lúng túng trong tổ chức thực hiện, chưa có lộ trình cụ thể và chính sách hỗ trợ hợp lý cho cán bộ thuộc diện tinh giản. Trong bối cảnh hội nhập, chuyển đổi số, và yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tinh gọn bộ máy chính trị không chỉ là yêu cầu cải cách hành chính mà còn là đòi hỏi mang tính tất yếu của lịch sử.

Đảng ta xác định Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV là một dấu mốc quan trọng, có ý nghĩa mở ra một giai đoạn phát triển mới của đất nước với yêu cầu cao hơn về đổi mới và phát triển toàn diện. Do đó, “Hiện nay đã là thời điểm, thời cơ; là sự cấp thiết, là đòi hỏi tất yếu khách quan cho cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị để bộ máy hoạt động hiệu lực, hiệu quả hay chưa? Câu trả lời là: Không thể chậm trễ hơn được nữa” [8]. Trong cuộc cách mạng này, Đảng ta nhấn mạnh yếu tố tư duy đổi mới, hành động mạnh mẽ, không khoan nhượng với trì trệ, hình thức, gắn với các nguyên lý: kiên định, cải tiến, quyết liệt và toàn diện.

Chủ trương đẩy mạnh công cuộc tinh giản bộ máy của Đảng ta không chỉ là sự kế thừa và làm sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh mà còn là bước phát triển tư duy lý luận một cách sáng tạo của Đảng, thích ứng với thực tiễn Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Điều đó góp phần phản bác một số quan điểm sai trái của các thế lực thù địch khi cho rằng chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy, cho rằng đó là “nóng vội”, “áp đặt ý muốn chủ quan của Đảng”…. Những luận điệu này là hoàn toàn phiến diện, bóp méo bản chất thực sự của công cuộc tinh gọn. Thực tiễn cho thấy, tinh gọn tổ chức bộ máy là nhiệm vụ hệ trọng, bắt nguồn từ nhu cầu cấp bách của thực tiễn trong những thời điểm có tính bước ngoặt.

Như vậy, tinh gọn bộ máy chính trị ở Việt Nam là một yêu cầu tất yếu, mang tính chiến lược. Mục đích của cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy nhằm loại bỏ những yếu tố cồng kềnh, trì trệ, đồng thời nâng cao hiệu quả lãnh đạo, quản lý, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, củng cố niềm tin của Nhân dân vào hệ thống chính trị. Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là “kim chỉ nam” cho Đảng ta trong lãnh đạo cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy hiện nay.

Trung tá Lê Xuân Đồng, Khoa CTĐ, CTCT

 

Tài liệu tham khảo

[1] Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, t.4, tr.19

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, sđd, t.7, tr.432

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, sđd, t.13, tr.314

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, sđd, t.4, tr.146

[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, sđd, t.7, tr.432

[6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, sđd, t.7, tr.367

[7] Hồ Chí Minh, Toàn tập, sđd, t.6, tr.477

[8] Tổng Bí thư Tô Lâm, ngày 01/12/2024, Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII.

 

Đọc tiếp »

Phát triển văn hóa Đảng trong không gian số

Chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong đời sống chính trị, văn hóa và xã hội. T...