Bảo vệ nền tảng tư tưởng của đảng trong thời đại công nghệ số

 Tóm tắt: Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nền khoa học - công nghệ của nhân loại không ngừng phát triển mỗi ngày tạo nên những dấu ấn và thành tựu ấn tượng. Trong lĩnh vực thông tin và kết nối, bối cảnh truyền thông đã thay đổi toàn diện cùng với sự xuất hiện của Internet, các mạng xã hội, ứng dụng chia sẻ thông tin, nhắn tin trao đổi… và đặc biệt là sự ra đời của AI - trí tuệ nhân tạo. Đây là cơ hội, đồng thời cũng là thách thức không chỉ đối với nhà nước mà còn là đối với mỗi công dân đòi hỏi trong bối cảnh mới, mỗi cá nhân cần phải nâng cao ý thức “tự phản tỉnh” khi tham gia vào cộng đồng mạng. Bên cạnh với việc tỉnh táo nhận diện mưu đồ thâm độc của các thế lực thù địch, cần phải phân biệt rõ các quan điểm sai trái với những ý kiến phản biện chính đáng, tâm huyết. Muốn vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta phải xây dựng, củng cố và phát triển vững mạnh “thế trận lòng dân” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng giữa bối cảnh phát triển mạnh mẽ của kỷ nguyên công nghệ số.

Nhân dân Việt Nam đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn, đầy gian khổ hy sinh để chống lại ách đô hộ và sự xâm lược của thực dân, đế quốc để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của đất nước, vì tự do, hạnh phúc của Nhân dân với tinh thần “Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do”. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam và cũng là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú của mình kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc. Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời mùa Xuân năm 1930 là dấu mốc lịch sử trọng đại, bước ngoặt quan trọng trong tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam. Đến nay, trong suốt 94 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, 38 năm tiến hành công cuộc đổi mới và 33 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn phải đối mặt với nhiều âm mưu, thủ đoạn chống phá, công kích của các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị. Không từ một thủ đoạn nào, bọn chúng ra sức gây nhiễu, tạo khoảng trống ý thức hệ trong cán bộ, đảng viên, kích động, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” với mục đích làm lung lạc niềm tin của Nhân dân vào Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động. Để đáp ứng yêu cầu trong bối cảnh tình hình mới, ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong tình hình mới”. Công tác này được triển khai ngày càng bài bản, thống nhất, đồng bộ, toàn diện, quyết liệt, đi vào chiều sâu. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nêu rõ: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Vì vậy, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng được coi là nhiệm vụ chính trị sống còn, liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Đặc biệt, vào năm 2022, cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhận được sự đánh giá cao, hưởng ứng tích cực của các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, các tầng lớp Nhân dân trong nước cũng như bạn bè, các chính đảng, chính trị gia và dư luận quốc tế. Cuốn sách trở thành tài liệu hết sức giá trị, phục vụ việc học tập, giáo dục lý luận chính trị, nâng cao nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và Nhân dân.

Hiện nay, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Song, cần nhận thức sâu sắc rằng, con đường chúng ta kiên định đang và sẽ tiếp tục trải qua vô vàn khó khăn, thách thức. Tại Đại hội XIII, Đảng ta đã thẳng thắn chỉ ra một trong những thách thức to lớn mà chúng ta phải đối mặt và giải quyết, đó là: “Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”. Không chỉ dừng lại ở đó, lợi dụng xu thế toàn cầu hóa, sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông, tiến bộ của công nghệ thông tin trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra hết sức mạnh mẽ cùng nhiều biến động của tình hình thế giới, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước ngày càng ráo riết đẩy mạnh sức chống phá trên mọi mặt trận, trọng tâm là chĩa mũi nhọn tấn công chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng bằng hàng loạt âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc với mục đích bôi nhọ, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”.

Với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các thế lực thù địch triệt để tận dụng công cụ truyền thông, báo chí, không gian mạng để đẩy mạnh hoạt động chống phá về tư tưởng. Chúng tăng cường thực hiện nhiều chiêu thức khác nhau như xuất bản tài liệu, ấn phẩm sách báo, tạp chí, tập san, tờ rơi...; thành lập trang web, blog, các kênh phát thanh truyền hình có chương trình tiếng Việt,... thậm chí núp bóng dưới danh nghĩa yêu nước, bảo vệ dân chủ, nhân quyền, vì dân tộc, vì đất nước, thúc đẩy hình thành các hội, nhóm, tổ chức chống phá Đảng, Nhà nước. Đặc biệt, lợi dụng quá trình “chuyển đổi số”, các thế lực thù địch đã số hóa các dữ liệu không có thật, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ Đảng, lãnh đạo Đảng và Nhà nước...; thiết lập cơ sở dữ liệu, sử dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), internet kết nối vạn vật, dữ liệu lớn (Big Data)... để tạo ra các dữ liệu, tài liệu nhằm chống phá Đảng và Nhà nước ta.

Ngoài việc sử dụng phương tiện mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động còn lợi dụng ChatGPT để xuyên tạc, chống phá Đảng. ChatGPT (Chat Generative Pre-training Transformer) là một chatbot do OpenAI phát triển dựa trên mô hình Transformer của Google. Đây là một AI (trí tuệ nhân tạo) giúp bạn tạo các cuộc trò chuyện tự động và trả lời các câu hỏi về nhiều chủ đề và lĩnh vực khác nhau. ChatGPT cho phép người dùng có thể trò chuyện như con người, đặc biệt hơn, nó còn có khả năng tương tác ở dạng các cuộc hội thoại, đàm thoại tương tự như cách hai con người tương tác với nhau. Mặc dù chỉ mới ra mắt vào cuối năm 2022, phần mềm ChatGPT của OpenAI đã thu hút sự quan tâm lớn từ cộng đồng mạng. Song song với những tác động tích cự, ChatGPT cũng vô tình trở thành mảnh đất màu mỡ để các tổ chức, đối tượng phản động lợi dụng nhằm cắt ghép, xuyên tạc, bôi nhọ Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vấn đề chính trị của đất nước. “Dùng ngay ChatGPT đặt những câu hỏi về Bác và Đảng” là những bài đăng gần đây được các trang mạng của các tổ chức như Đài Á châu Tự do, BBC News Tiếng Việt, Việt Tân,… liên tiếp đăng tải, chia sẻ với mục đích dắt mũi dư luận, khiến người dân hiểu sai về Đảng, về hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những câu hỏi được chúng cố tình đặt ra để hỏi ChatGPT như: “Ai là cha già dân tộc của chúng ta?”; “Ai sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta?”;… Với những câu hỏi bị thêm, bớt câu từ hay thiếu địa danh như trên thì câu trả lời của “trí tuệ nhân tạo” ChatGPT đưa ra thường là: “Không có người được chỉ định là cha già dân tộc Việt Nam”; “Không có ai sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”;... các thế lực thù địch tuyên truyền rằng, ChatGPT là trí tuệ, hiện đại nên đã đưa ra những câu trả lời khách quan, chính xác và “cần phải tin ChatGPT”. Từ đây, mỗi người dân khi tiếp cận với những nguồn thông tin giống như trên cần phải hết sức tỉnh táo. Mọi người cũng cần phải nhớ rằng, ChatGPT hay bất kỳ phần mềm thông minh nào dù hiện đại, tối tân ra sao cũng không thể khắc phục hết những lỗ hổng. Chưa kể, đây còn là một ứng dụng mới và chưa hoàn thiện do đó, người sử dụng ChatGPT đều phải tự trang bị cho mình vốn kiến thức cần thiết để có thể sàng lọc, tiếp cận được những thông tin chính xác.

Do đặc thù phát triển quá nhanh của công nghệ, của các dịch vụ, nội dung thông tin trên mạng nên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế, chưa cụ thể hóa, bao quát hết các đối tượng và hoạt động cần quản lý, hành vi sai phạm, chế tài xử lý chưa bảo đảm tính răn đe. Trong khi đó, quy trình sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật trên lĩnh vực này theo quy định hiện hành mất khá nhiều thời gian, dẫn đến việc quy định vừa sửa đổi, bổ sung xong đã bắt đầu lạc hậu, gây khó khăn cho công tác quản lý. Vì vậy, để kịp thời ngăn chặn, đập tan âm mưu của các thế lực thù địch trong bối cảnh bùng nổ công nghệ số ở Việt Nam cần nghiên cứu, vận dụng thực hiện một số giải pháp.

Thứ nhất, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các văn bản mới và xây dựng cơ chế chính sách về thông tin điện tử cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn, đáp ứng hiệu quả quản lý, bổ sung các chế tài xử lý sai phạm nghiêm khắc hơn đối với những trường hợp bôi nhọ, xuyên tạc Đảng, phản động,…

Thứ hai, cần chú trọng xây dựng tốt công tác kỹ thuật, công nghệ: nếu như các thế lực thù địch lợi dụng công nghệ như một hình thức chống phá Đảng và Nhà nước thì ngược lại, chúng ta cũng có thể ứng dụng những tiến bộ của của công nghệ, biến công nghệ trở thành một công cụ đắc lực trong công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thông qua các hình thức tuyên truyền, thông tin cho người dân, giúp người dân tiếp cận được những nguồn thông tin chính xác, có kiểm chứng để tránh việc bị dắt mũi, lèo lái dư luận.

Thứ ba, việc xác định tin giả cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các Bộ, ngành trong việc nhận diện và xác định tin giả theo từng lĩnh vực, đối tượng ảnh hưởng đối với các vấn đề ảnh hưởng đến an ninh, chính trị, kinh tế, xã hội đặc biệt là những thông tin sai lệch liên quan đến Đảng, Nhà nước và đường lối, chính sách của Đảng.

Thứ tư, kết hợp cùng lúc nhiều phương thức, giải pháp, như đấu tranh, phản bác với nêu gương; tuyên truyền, phổ biến với giáo dục ý thức cách mạng, chủ nghĩa yêu nước; đấu tranh, phản biện với chứng minh, đối chứng, so sánh; đấu tranh, phản biện với sử dụng biện pháp mạnh.

Thứ năm,quan tâm nâng cao nhận thức của đội ngũ lãnh đạo các cơ quan báo chí về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Giáo dục đội ngũ lãnh đạo, cán bộ, phóng viên, biên tập viên nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn nữa về Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Song song với nhiệm vụ hoàn thiện pháp luật còn đòi hỏi công tác đấu tranh phòng, chống và phản bác luận điệu xuyên tạc lý luận của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị phải kết hợp cùng với nhiều hình thức như tuyên truyền, vận động, giáo dục, phổ biến pháp luật, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn và đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Đại tá NGUYỄN MẠNH TRƯỜNG Khoa Võ thuật - Đặc nhiệm

 


Đọc tiếp »

Tự do tôn giáo ở việt nam sự thật không thể xuyên tạc

           Thời gian qua, nhất là sau ngày 05/01/2024, Ngoại trưởng Hoa Kỳ công bố Danh sách các nước cần theo dõi đặc biệt về tư do tôn giáo (SWL) trong đó có Việt Nam. Các thế lực thù địch thường xuyên rêu rao, tuyên truyền luận điệu xuyên tạc rằng, "Việt Nam không có tự do tôn giáo", hay bằng những chiêu bài lợi dụng các vụ việc liên quan đến tôn giáo bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo "có tự do tôn giáo qua phiên phúc thẩm vụ Tịnh Thất Bồng Lai?" hay "Vì sao lãnh đạo Việt Nam dự các lễ của Phật giáo và các tín ngưỡng tuyền thống" hòng chống phá chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Song dù có vu cáo, áp đạt đến đâu thì sự thật không thể phủ nhận, đó là: Tự do tôn giáo ở Việt Nam là sự thật không thể xuyên tạc.


Ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã quan tâm thực hiện chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo và công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo, thể hiện qua nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến tôn giáo và hoạt động tôn giáo. Quyền tự do tôn giáo được Hiến pháp năm 1946 quy định: "Công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng", các bản Hiến pháp sau này, vấn đề đảm bảo tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn được nhắc đến và khẳng định. Đặc biệt Hiến pháp năm 2013, khẳng định rõ: "Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật". Trên cơ sở Hiến pháp, Nhà nước đã thể chế hóa, ban hành nhiều văn bản pháp luật, quy định, trong đó có Nghị quyết số 25/NQ-TW, ngày 12/3/2003, của Hội nghị Trung ương 7 khóa IX về công tác tôn giáo, khẳng định: "Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc". Nghị quyết 25, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI ban hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo; Chính phủ ban hành Nghị định số 22/2005/NĐ-CP, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo; Nghị định số 92/2012/NĐ-CP, quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo. Ngày 18/11/2016, Quốc hội khóa XIV ban hành Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo; ngày 30/12/2017, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 162/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo, xác định rõ quyền, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong các hoạt động tôn giáo, quy định việc đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, hoạt động tôn giáo; tổ chức tôn giáo; phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy tôn… là cơ sở đảm bảo cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tại Đại hội XIII, Đảng ta đánh giá: "Tình hình tôn giáo ổn định; đa số chức sắc, chức việc và đồng bào có đạo yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, góp phần đấu tranh, phản bác luận điệu xuyên tạc, vu cáo chính quyền vi phạm nhân quyền, tự do tôn giáo".

Những năm qua, các tôn giáo ở Việt Nam phát triển nhanh về số lượng tín đồ và cơ sở thờ tự, mở rộng quan hệ với nhiều tổ chức, cá nhân tôn giáo nước ngoài; mọi hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân đều được chính quyền các cấp tôn trọng, tạo điều kiện thuận lợi; đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các tôn giáo ngày càng được nâng lên. Nếu năm 2003, Việt Nam có 15 tổ chức thuộc 06 tôn giáo, khoảng 17 triệu tín đồ, với 20.000 cơ sở thờ tự, 34.000 chức sắc, 78.000 chức việc thì đến nay đã có khoảng 80% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó khoảng hơn 27 triệu tín đồ, chiếm khoảng 28% dân số cả nước, trên 55.000 chức sắc, gần 150.000 chức việc, gần 30.000 cơ sở thờ tự; có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động gồm: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Hồi giáo, Tôn giáo Baha'l, Tịnh độ Cư sỹ Phật hội, Cơ đốc Phục lâm, Phật giáo Tứ Ân Hiếu nghĩa, Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn, Bà-la-môn giáo, Minh Sư đạo, Minh lý đạo - Tam Tông Miếu, Mặc môn, Bửu Sơn Kỳ Hương. Công tác đào tạo chức sắc được các tổ chức tôn giáo đẩy mạnh, trước năm 1990, cả nước có 06 cơ sở đào tạo tôn giáo, đến nay đã tăng lên thành 63 cơ sở đào tạo, mỗi năm có hàng nghìn người tốt nghiệp. Việc in ấn, xuất bản, dịch thuật một khối lượng kinh sách, đồ dùng việc đạo được các tôn giáo đặc biệt quan tâm.

Việc tu sửa các cơ sở tín ngưỡng, thờ tự cũng được các cấp chính quyền tạo điều kiện thuận lợi. Tính đến năm 2023, có hơn 20.000 cơ sở thờ tự của các tôn giáo được sửa chữa, nhiều cơ sở thờ tự được xây mới. Các địa phương đã cấp hàng trăm hécta đất cho các tổ chức tôn giáo để xây dựng cơ sở thờ tự, như: Thành phố Hồ Chí Minh đã giao 7.500m2 đất cho Tổng liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) xây dựng Viện Thánh kinh thần học; thành phố Đà Nẵng giao 6.000m2 đất cho Hội truyền giáo Cơ đốc Việt Nam sử dụng; tỉnh Quảng Trị giao thêm 15ha đất cho Giáo sứ La Vang; thành phố Hà Nội giao 11ha đất cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam để xây dựng Học viện Phật giáo Việt Nam…



Trên khắp các vùng, miền ở Việt Nam từ thành phố đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới sinh hoạt tôn giáo đã và đang diễn ra khá sôi nổi, đa dạng và phong phú; các ngày lễ hội tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo, lễ nghi tôn giáo được tổ chức trang nghiêm, quy mô ngày càng lớn, không còn khép kín trong nội bộ giáo hội và của các tín đồ, mà vượt ra khỏi nơi thờ tự, lan tỏa ra ngoài xã hội nhờ bản tính dung hòa, không kỳ thị, bài trừ của người Việt và chính sách tự do tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam, thu hút nhiều tín đồ và đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia với sự quan tâm, lời chúc mừng của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cùng sự bảo đảm trật tự, an toàn xã hội từ các cấp chính quyền như lễ Phật đản của Phật giáo được tổ chức hằng năm vào ngày rằm tháng tư để kỷ niệm ngày Đức Phật ra đời, lễ Noel của Công giáo (từ tối 24 đến hết ngày 25/12) là dịp kỷ niệm ngày chúa Giêsu ra đời; lễ hội hành hương LaVang (tỉnh Quảng Trị)... Nhiều lễ hội được nhà nước cho phép tổ chức với quy mô lớn, như: Lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Hội thánh do Tổng hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) tổ chức vào năm 2025; lễ kỷ niệm 100 năm đạo Tin lành có mặt tại Việt Nam do Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam), Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) và Hội thánh Tin lành Việt Nam đồng tổ chức vào năm 2011 tại Đà Nẵng, với khoảng 20.000 người tham dự; Đại lễ Phật đản (Vesak) lần đầu tiên tổ chức tại Việt Nam vào năm 2008; Đại lễ Phật đản (Vesak) lần thứ hai được tổ chức vào năm 2014 tại Chùa Bái Đính, Ninh Bình do Giáo hội Phật giáo Việt Nam phối hợp với Ủy ban Tổ chức Quốc tế (ICDV) đăng cai tổ chức, có khoảng 1.500 lãnh đạo các giáo hội, hệ phái Phật giáo, các giáo sư, tiến sĩ, nhà nghiên cứu đến từ 95 quốc gia, vùng lãnh thổ với trên 10.000 Phật tử và nhân dân Việt Nam, người ngoài nước tham gia; Đại lễ Phật đản (Vesak) lần thứ ba được tổ chức vào năm 2019 tại Chùa Tam Chúc, Hà Nam với sự tham gia của trên 3.000 đại biểu chính thức (570 đoàn quốc tế với 1.650 đại biểu đến từ 112 quốc gia và vùng lãnh thổ, 250 kiều bào là tăng ni từ 40 quốc gia)... Điều đó cho thấy tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được pháp luật bảo hộ và luôn bảo đảm, thực thi trong thực tiễn, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, quan tâm tạo mọi điều kiện cho các tôn giáo được hoạt động thuận lợi và ngày càng phát triển, cả về mặt pháp lý lẫn thực tế đối với quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người, không chỉ đối với tín đồ, chức sắc các tôn giáo, công dân Việt Nam, mà còn cả tổ chức, cá nhân người nước ngoài có tôn giáo khi họ sinh sống, học tập, làm việc ở Việt Nam, cũng như người Việt Nam ở nước ngoài khi về quê hương.

Hoạt động đối ngoại tôn giáo những năm gần đây đã góp phần làm cho thế giới ngày càng hiểu biết hơn về đất nước, con người Việt Nam - một quốc gia đa tín ngưỡng tôn giáo, yêu hòa bình, công lý; về chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam, qua đó tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Nhiều hoạt động đối ngoại tôn giáo, thăm, làm việc và giao lưu được diễn ra thường xuyên, Nhà nước Việt Nam cũng đã cử nhiều đoàn đi tham dự các hội nghị, hội thảo, đối thoại về tín ngưỡng tôn giáo và hoạt động tôn giáo quốc tế như đoàn của đồng chí Trương Hòa Bình - Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ thăm và làm việc với Tòa thánh Vatican vào tháng 10/2018…; đón và làm việc với nhiều tổ chức, chức sắc tôn giáo quốc tế đến trao đổi, tìm hiểu về tình hình tôn giáo và chính sách, pháp luật tôn giáo của Việt Nam như: Viện Can dự toàn cầu Mỹ (IGE); tập đoàn truyền thông (WAZ) của Đức. Từ năm 2003 đến nay, đã có hàng chục cuộc đối thoại nhân quyền, tôn giáo được tổ chức tại Việt Nam, như đối thoại Việt - Mỹ, Việt Nam - EU,… Việt Nam đã chủ động cung cấp thông tin về tình hình tôn giáo và chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước, các vấn đề mà dư luận quốc tế quan tâm, để thấy rõ thực tiễn về đời sống tôn giáo ở Việt Nam đa dạng, phong phú, chính sách, pháp luật đã đảm bảo quyền tự do tôn giáo chính đáng của Nhân dân. Đặc biệt ở Việt Nam không có xung đột tôn giáo, các tôn giáo chung sống hòa hợp, gắn bó đồng hành cùng dân tộc. Với chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam, hầu hết tín đồ, chức sắc, chức việc các tôn giáo luôn yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết gắn bó, sống "tốt đời, đẹp đạo", tích cực tham gia phát triển kinh tế, xã hội, các phong trào xã hội, từ thiện, xóa đói giảm nghèo, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển của đất nước.

Thực tế đó cho thấy, tại Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân được tôn trọng và bảo đảm. Đó là sự thật khách quan, không thể phủ nhận. Điều này được cộng đồng quốc tế, trong đó có nhiều chính khách nước ngoài ghi nhận: Phó Chủ tịch Ủy ban tự do tôn giáo quốc tế Mỹ, ông M.Cromartie, sau khi chứng kiến các buổi sinh hoạt tôn giáo ở một số địa phương, đã khẳng định: "Tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam đã được mở rộng và có nhiều tiến bộ, nhiều điểm đáng khích lệ"; tại buổi hội kiến với Chủ tịch nước Việt Nam ngày 27/7/2023 tại Tòa thánh Vatican, Giáo hoàng Francis nêu: Tòa thánh Vatican đánh giá cao các thành tựu phát triển kinh tế -xã hội của Việt Nam cũng như hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng hoàn thiện, đảm bảo hành lang pháp lý cho các hoạt động tôn giáo.

Tuy nhiên thời gian gần đây, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị và một số tổ chức thiếu thiện chí chưa từ bỏ âm mưu "diễn biến hòa bình", chúng luôn tìm mọi cách chống phá, vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm "dân chủ, nhân quyền", "đàn áp tôn giáo", với nhiều luận điệu sai trái cho rằng, Việt Nam không có tự do tôn giáo, xuyên tạc trắng trợn về tình hình, đời sống tôn giáo ở nước ta, nói mãi điều phi thực tế nhằm tạo sự hoài nghi, phá hoại khối đại đoàn kết tôn giáo. Chúng xác định lấy vấn đề tôn giáo kết hợp với vấn đề dân tộc để làm ngòi nổ, kích động quần chúng nhân dân. Bài học kinh nghiệm các vụ việc ở Tây Nguyên năm 2001, 2004; Tây Bắc (Huổi Khon, Nậm Bồ, Điện Biên năm 2011), lợi dụng đạo Tin lành tuyên truyền, tập trung hàng nghìn người Mông với âm mưu gây bạo loạn; Formosa Hà Tĩnh năm 2016, lợi dụng sự cố ô nhiễm môi trường biển miền Trung do Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa gây ra, đã bị chúng kích động, lôi kéo dẫn đến hàng nghìn tín đồ Công giáo tụ tập, biểu tình, ngăn chặn các phương tiện giao thông qua lại, đập phá tài sản công, tấn công lực lượng chức năng và nhiều vụ việc khác cho chúng ta thấy điều đó. Trong việc lợi dụng vấn đề "Tôn giáo" để chống phá Đảng, Nhà nước ta, chúng thường đưa ra các luận điệu như: Vu cáo cho Đảng, Nhà nước ta đàn áp tôn giáo; xuyên tạc Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo của Việt Nam là bước thụt lùi, bóp nghẹt quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phù hợp với công ước quốc tế về quyền con người; chỉ một số tôn giáo "thuần phục" nhà nước mới dễ bề hoạt động, các tôn giáo có tư tưởng tự do, có liên hệ với bên ngoài thì bị làm khó qua rất nhiều bài viết trên các trang của BBC, VOA, hay các trang mạng xã hội (Facebook, Youtube, Blog,… của các tổ chức phản động, các cá nhân có tư tưởng chống đối, thù địch). Những năm qua, các phần tử phản động là người Việt Nam ở trong và ngoài nước cấu kết với các thế lực thù địch ngước ngoài chống phá Việt Nam bằng cách công bố những báo cáo sai sự thật về tự do tôn giáo ở Việt Nam thông qua cách tiếp cận thông tin một chiều, phiến diện, thiếu thiện chí. Qua theo dõi, từ năm 2018 đến nay, Ủy ban Tư do tôn giáo quốc tế Mỹ, vẫn định kỳ ra báo cáo thường niên về tự do tôn giáo toàn cầu. Họ cho mình cái quyền, nhận xét, đánh giá phê phán về tình hình nhân quyền và tự do tôn giáo của Việt Nam và một số quốc gia khác. Họ sử dụng thông tin, tài liệu cũ từ các nhóm, phái tôn giáo chưa được Nhà nước công nhân, số chức sắc cực đoan bất mãn với chế độ, định kiến với Đảng, Nhà nước để tiếp nhận thông tin không chính xác đưa vào báo cáo đánh giá; khuyến khích cổ vũ cho các hoạt động tôn giáo trái pháp luật, không cần xin phép, đăng ký, thúc đẩy các hoạt động "tà đạo, đạo lạ" ở các vùng sâu, vùng xa. Họ kiến nghị Bộ Ngoại giao Hoa kỳ đưa Việt Nam trở lại những nước cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo và gây sức ép và hối thúc Việt Nam cho phép tất cả các nhóm, phái tôn giáo chưa được công nhận hoạt động một cách tự do.

Phải khẳng định rằng những thông tin, luận điệu sai lệch, xuyên tạc nêu trên là hết sức phí lý, với ý đồ mục đích xấu xa, thâm độc, nhằm tác động đến suy nghĩ, tình cảm của chức sắc tôn giáo và đồng bào có đạo, nhằm tạo sự hoài nghi về chính sách, pháp luật về tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Song, dù các thế lực thù địch có cố tình, xuyên tạc chống phá thế nào đi chăng nữa cũng không thể chia rẽ chức sắc tôn giáo, đồng bào có đạo tin tưởng vào chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo.

Thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh hoạt động chống đối dưới chiêu bài "đòi tự do tôn giáo", "dân chủ, nhân quyền", xuyên tạc chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ta về tôn giáo; gia tăng các hoạt động truyền đạo trái phép trên không gian mạng; lợi dụng chính quyền xử lý, vu cáo Việt Nam không có tự do tôn giáo, gây cản trở cho tiến trình hội nhập kinh tế của nước ta. Đề chủ động đấu tranh, ngăn chặn các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá Việt Nam. Thiết nghĩ các cấp, các ngành, các lực lượng chức năng cần:

1. Thực hiện tốt chức năng Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, trọng tâm các địa bàn trọng điểm, phức tạp; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử lý ngay tại cơ sở các hoạt động tôn giáo vi phạm pháp luật, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội không để phát sinh điểm nóng để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

2. Quan tâm, củng cố nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị cơ sở trong triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trưởng, chính sách phát triển kinh tế, xã hội, chính sách tôn giáo, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần các tín đồ và nhân dân.

3. Đổi mới, nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền, về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về tôn giáo; vạch trần "chân tướng" các đối tượng cơ hội, các việc làm vi phạm pháp luật, giáo luật của số đối tượng cực đoan lợi dụng tôn giáo; phản bác các luận điệu vu cáo Việt Nam vi phạm "dân chủ", "nhân quyền", "đàn áp tôn giáo". Đồng thời làm tốt công tác tuyên truyền đối ngoại để cộng đồng quốc tế có đầy đủ thông tin và kết quả, thành tựu trong lĩnh vực tôn giáo của Việt Nam; trao đổi với các tổ chức, các quốc gia có quan tâm về nhân quyền và tự do tôn giáo; giảm thiểu nhìn nhận khác biệt; tiếp cận các thông tin chính thống của Việt Nam cung cấp, không sử dụng thông tin trái chiều, thiếu khách quan để lợi dụng xuyên tạc chính sách, pháp luật của Việt Nam về tư do tôn giáo./.

                               Trung tá Nguyễn Thị Mai Giảng viên Khoa Khoa học Cơ bản 

Đọc tiếp »

GÓP PHẦN ĐẤU TRANH LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN “PHI CHÍNH TRỊ HÓA” QUÂN ĐỘI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

              Lịch sử phát triển của xã hội loài người từ khi có giai cấp đã chứng minh rằng: bất kỳ quốc gia nào dù ở điều kiện thời bình hay thời chiến đều tổ chức ra quân đội nhằm bảo vệ chế độ chính trị và lợi ích của giai cấp thống trị. Và lẽ hiển nhiên, quân đội đó phải mang bản chất của chính giai cấp tổ chức ra nó. Vì vậy, không thể và không bao giờ có quân đội “phi giai cấp” hay “phi chính trị”. Mặc dù vậy, bất chấp sự thật lịch sử, từ trước đến nay, các thế lực thù địch, phản động luôn kiên trì thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam. Xét về thực chất, “phi chính trị hóa” quân đội là một âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Dã tâm thâm hiểm của các thế lực thù địch, phản động là làm cho Quân đội ta bị tha hóa, biến chất, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu. Để thực hiện âm mưu đó, chúng đã và đang thực hiện “trăm phương, nghìn kế”, lúc ngấm ngầm, lúc công khai, lúc vu cáo, lúc bịa đặt, nhưng chủ yếu là xuyên tạc sự thật, đánh lừa dư luận, hòng gây tâm lý hoài nghi, hoang mang, dao động trong nhân dân, đặc biệt là trong nội bộ quân đội.

Thời gian gần đây, trên một số phương tiện thông tin đại chúng, trên mạng internet đã xuất hiện khá nhiều bài viết làm ra vẻ “khách quan, khoa học” biện minh cho luận điệu “phi chính trị hóa”quân đội. Họ lập luận rằng, “nhiệm vụ chính trị cao nhất của quân đội là đánh tan mọi kẻ thù xâm lược và phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân; chứ không phải trung thành với bất cứ tổ chức hay cá nhân nào khác”, rằng, vì thế các lực lượng vũ trang phải duy trì tính trung lập về chính trị”(!). Cũng có đối tượng lập luận xoay quanh 2 khái niệm “phi chính trị” và “phi đảng phái” để rồi thừa nhận “quân đội phi chính trị là điều không thể”, tuy nhiên lại cho rằng quân đội phải “phi đảng phái”. Thực chất của những kiểu luận điệu mập mờ này không có mục tiêu nào khác là tạo cớ, tạo dư luận đòi tách Quân đội ta ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm cho Quân đội ta mất phương hướng chính trị, từ bỏ mục tiêu chiến đấu, tiến tới bị vô hiệu hóa. Trước âm mưu, dã tâm, thủ đoạn vô cùng nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động, đòi hỏi mọi cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta phải luôn đề cao cảnh giác, nắm vững cơ sở lý luận, thực tiễn đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội.

Nghiên cứu lịch sử xây dựng, chiến đấu của quân đội các nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta nhận thấy, ngay từ những ngày đầu thành lập Chính quyền Xô-viết, trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng Quân đội Xô-viết, V.I.Lênin đã cực lực đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn đòi “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, các triết gia, chính trị gia tư sản phản động. V.I.Lênin đã viết: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị - đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ giả nhân giả nghĩa của giai cấp tư sản và của chế độ Nga hoàng, bọn này trong thực tế bao giờ cũng đã lôi kéo quân đội vào chính trị phản động” (1). V.I.Lênin luôn đặc biệt coi trọng việc chỉ đạo xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, nhờ đó, Quân đội Xô-viết đã không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, chiến thắng “thù trong, giặc ngoài” bảo vệ vững chắc sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho Liên Xô trở thành thành trì của cách mạng thế giới trong nhiều thập niên ở thế kỷ XX.

Theo V.I.Lênin, quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản “do một bộ phận tiên tiến những người cộng sản” lãnh đạo, đó chính là Đảng Cộng sản, người “lập ra quân đội” và đội quân này có chức năng, nhiệm vụ thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng Cộng sản. Do vậy, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng là một nguyên tắc cốt tử trong xây dựng quân đội cách mạng, bảo đảm cho quân đội luôn giữ vững lập trường, mục tiêu chính trị, trên cơ sở đó, nâng cao sức mạnh chiến đấu. Đảng Cộng sản tuyệt đối không được xem nhẹ việc giữ vững, tăng cường lãnh đạo đối với quân đội và quân đội, tuyệt đối không được buông lỏng, coi nhẹ vấn đề xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Theo chỉ dẫn của Lênin, mọi sự xem nhẹ, buông lỏng vấn đề xây dựng quân đội về chính trị là làm suy yếu, thậm chí làm biến chất quân đội cách mạng. Đáng tiếc rằng, những chỉ dẫn vô cùng quan trọng của Lênin đã không được những người cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu sau này coi trọng, và đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu vào những thập niên cuối của thế kỷ trước. Do mất cảnh giác trước âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, phản động, nên Quân đội Xô-viết đã nhanh chóng bị tha hóa về chính trị, bị vô hiệu hóa, không còn là lực lượng trung thành bảo vệ Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa, mặc dù lúc đó Quân đội Liên Xô còn 3,9 triệu quân thường trực, được trang bị rất hiện đại, vượt xa các nước cả về lực lượng chiến đấu thông thường và lực lượng hạt nhân chiến lược. Bài học đắt giá từ thực tiễn này nhắc nhở chúng ta không được một phút lơ là mất cảnh giác trước mọi âm mưu, luận điệu đòi “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch, phản động.

Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời từ các phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong suốt quá trình lãnh đạo, tổ chức, giáo dục, rèn luyện quân đội, Đảng và Bác Hồ luôn nhất quán phương châm: “người trước, súng sau”; “chính trị trọng hơn quân sự”; luôn đặc biệt coi trọng xây dựng Quân đội ta vững mạnh về chính trị. Trong đó, vấn đề cốt tử nhất là không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội; không ngừng tăng cường nâng cao hiệu quả, hiệu lực của công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội để bảo đảm cho quân đội luôn vững vàng về lập trường chính trị, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Sinh thời, Bác Hồ từng chỉ rõ: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại” (2). Nhờ quán triệt và thực hiện nghiêm phương châm, nguyên tắc xây dựng do Đảng, Bác chỉ dẫn nên Quân đội ta luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong mọi giai đoạn cách mạng, xứng đáng với lời tuyên dương của Bác Hồ: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” (3). Xét dưới góc độ đấu tranh trên lĩnh vực chính trị tư tưởng, có thể khẳng định, Quân đội ta luôn giữ vững được lập trường, bản lĩnh chính trị, luôn “đi đúng con đường chính trị của Đảng” trước mọi sóng gió của thời cuộc chính là nhờ cấp ủy các cấp cũng như các thế hệ cán bộ, chiến sĩ luôn biết chăm lo xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, luôn tỉnh táo, cảnh giác chủ động đấu tranh vô hiệu hóa mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của các thế lực thù địch, phản động. 

Tuy nhiên, như trên đã đề cập, xét về thực chất và mục tiêu, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch không thay đổi nhưng thủ đoạn của chúng đã có sự thay đổi, đa dạng, nham hiểm và khó lường hơn trước. Đặc biệt mặt trái của các quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, sự bùng nổ của công nghệ thông tin, viễn thông đã tạo thêm công cụ, phương tiện, cơ hội cho các thế lực thù địch triển khai âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam và Quân đội nhân dân Việt Nam. Điều đó đòi hỏi, cấp ủy, chỉ huy các cấp cũng như cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta phải tiếp tục nỗ lực, cảnh giác hơn nữa trong cuộc đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch; theo chúng tôi, quá trình này, cần chú trọng một số nội dung sau:

Một là, đặc biệt coi trọng việc giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong quân đội. Theo đó, phải luôn giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội; tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm cơ chế lãnh đạo của Đảng trong quân đội theo tinh thần Nghị quyết số 51-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX). Đồng thời, chủ động phát hiện, kiên quyết ngăn chặn kịp thời những dấu hiệu coi nhẹ hoặc buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng trong quân đội kể cả trong nhận thức và hành động. Coi trọng xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Nhận thức đúng đắn và vận dụng sáng tạo các nguyên tắc cơ bản trong xây dựng quân đội về chính trị phù hợp đặc điểm, tình hình, yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng, yêu cầu nhiệm vụ của quân đội trong giai đoạn mới. Tăng cường củng cố, kiện toàn, nâng cao sức mạnh chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng trong quân đội, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, lãnh đạo tập thể đi đôi với phân công cá nhân phụ trách, mở rộng dân chủ ở mọi cấp, phát hiện và ngăn ngừa kịp thời những biểu hiện chuyên quyền độc đoán, cục bộ địa phương, trục lợi cá nhân, tha hóa biến chất về đạo đức và lối sống làm tổn hại đến năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng và uy tín, phẩm chất cách mạng của “Bộ đội Cụ Hồ”.

Hai là, tích cực bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ, tạo sức đề kháng mạnh mẽ làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nhất là nội dung giáo dục về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, chủ nghĩa yêu nước, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tăng cường giáo dục lịch sử, truyền thống, làm cho cán bộ, chiến sĩ am hiểu những giá trị tiêu biểu trong lịch sử văn minh nhân loại, lịch sử, truyền thống, bản sắc văn hóa Việt Nam, bản chất, truyền thống tốt đẹp của quân đội, góp phần nâng cao bản lĩnh và trí tuệ của “Bộ độ Cụ Hồ” trong thời kỳ mới. Đồng thời, tổ chức có hiệu quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, cuộc vận động “phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” để mọi cán bộ, chiến sĩ có môi trường, điều kiện tu dưỡng phẩm chất đạo đức, cống hiến tài năng trí tuệ vào xây dựng quân đội, tham gia có hiệu quả cuộc đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, chống phá của các thế lực thù địch.

Ba là, tổ chức quán triệt nghiêm túc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về bảo vệ Tổ quốc, giúp cán bộ, chiến sĩ nâng cao cảnh giác, nâng cao khả năng nhận diện đúng đắn về “đối tác”, “đối tượng”, nhận rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, nhất là âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội. Trên cơ sở đó, củng cố niềm tin, sự kiên định, trách nhiệm, tinh thần sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao cho cán bộ, chiến sĩ. Coi trọng giữ vững định hướng chính trị, nâng cao tính chiến đấu, sức thuyết phục của công tác tư tưởng lý luận, thông tin tuyên truyền, văn hóa, văn nghệ, báo chí xuất bản. Thường xuyên rèn luyện cho đội ngũ cán bộ nâng cao năng lực tư duy sáng tạo, khả năng xử lý những tình huống phức tạp diễn ra trong hoạt động thực tiễn theo đúng quan điểm của Đảng; kịp thời uốn nắn những lệch lạc về nhận thức và dao động về tư tưởng trong một số cán bộ, chiến sĩ. Các hoạt động trên phải theo đúng tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã đề ra, đó là, luôn nêu cao cảnh giác làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, xâm lược của các thế lực thù địch; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Bốn là, phát huy vai trò của các lực lượng nòng cốt, phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các lực lượng tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, vạch trần bản chất phản động của mọi âm mưu, luận điệu đòi “phi chính trị hóa” quân đội. Cùng với việc động viên đông đảo cán bộ, đảng viên và quần chúng tham gia, cần đặc biệt coi trọng phát huy vai trò nòng cốt của các cơ quan và đội ngũ cán bộ chuyên trách trong quân đội để bảo đảm có chiều sâu và độ vững chắc trong đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận. Căn cứ chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, chức trách, nhiệm vụ của từng cán bộ để động viên mọi tiềm năng sáng tạo, phối hợp hiệp đồng chặt chẽ tạo sức mạnh tổng hợp trên mặt trận đấu tranh về tư tưởng, lý luận. Cần quan tâm đầu tư phát triển các cơ quan và đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn quân sự; có cơ chế cung cấp thông tin, chính sách đào tạo, sử dụng, bồi dưỡng, bảo vệ đội ngũ này một cách hợp lý. Trên cơ sở đó, phát huy vai trò của họ trong nghiên cứu dự báo tình hình tư tưởng bộ đội, dự báo âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. Cần có cơ chế tổ chức, chỉ huy và phối hợp hành động một cách chặt chẽ giữa các lực lượng đảm nhiệm công tác tuyên huấn, bảo vệ an ninh, dân vận, tình báo, nghiên cứu và giáo dục lý luận, thông tin tuyên truyền, văn hóa, văn nghệ trong quân đội. Tăng cường phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các lực lượng trong và ngoài quân đội, ở cả trung ương và địa phương trong phòng chống âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận. 

                                                        Đại úy, ThS NGUYỄN ĐÌNH NAM

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

(1). V.I.Lênin, Toàn tập, tập 12, Nxb Tiến bộ, M, 1979, tr. 136

(2). Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.6, Nxb CTQG, H, 2000, tr. 318.

(3). Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.11, Nxb CTQG, H, 2000, tr. 350.




Đọc tiếp »

CẢNH GIÁC VỚI CHIÊU TRÒ GÂY NHIỄU TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG

 


Trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động đẩy mạnh các hoạt động chống phá, tuyên truyền xuyên tạc, tung tin sai trái, bịa đặt. Một trong những thủ đoạn nguy hiểm, thu hút sự chú ý của nhiều người là xuyên tạc “ Dự đoán công tác nhân sự, cán bộ của Đảng” để chống phá.

 Trên nhiều phương tiện truyền thông hải ngoại, trang mạng của tổ chức phản động, lưu vong và mạng xã hội, các đối tượng này tăng cường tung ra các luận điệu xuyên tạc, giả mạo, thất thiệt chống phá Đại hội XIV. Chúng ra sức thổi phồng, suy diễn, bóp méo, bịa đặt, quy kết thành những hạn chế, yếu kém của Đảng, Nhà nước trong công tác cán bộ. Chúng cho rằng công tác cán bộ, nhân sự Đại hội XIV là cuộc “tranh giành quyền lực”, “thanh trừng nội bộ”, “thủ tiêu đối phương”... Chúng cố tình dựng chuyện, quy chụp rằng, việc chuẩn bị đại hội như là hoạt động thay cho đại hội, là “xóa bỏ quyền của các đại biểu dự đại hội”; việc thực hiện công tác quy hoạch và đào tạo cán bộ cốt cán cho Đại hội XIV là Ban Chấp hành Trung ương đã “tước đi quyền tự do, dân chủ trong việc ứng cử, đề cử và bầu cử của các đại biểu dự Đại hội XIV”, “tổ chức đại hội đảng các cấp, Đại hội XIV chỉ mang tính hình thức, là dịp để hội hè, tốn kém tiền của nhân dân”….

Xuyên tạc công tác cán bộ, nhân sự Đại hội XIV của Đảng, những thủ đoạn của chúng là:

Suy diễn công tác cán bộ theo kiểu “trong nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã thông” như: “Dự báo thay đổi nhân sự cấp cao Đại hội XIV”, “Ai sẽ vào “tứ trụ” Đại hội XIV”, “nhân sự Đại hội XIV: Gươm đã tuốt khỏi vỏ”… Thật nực cười, Đại hội còn chưa diễn ra, song những “con buôn” chính trị lại tỏ ra thông thái khoác lác như thật, khẳng định người này triệt hạ người kia để giữ vị trí này vị trí khác, sắp xếp bộ máy lãnh đạo của Đảng từ cao xuống thấp; từ đó suy diễn, đánh giá theo chiều hướng tiêu cực. Mánh lới thường thấy của chúng là “giật tít - câu khách” đánh trúng vào sự tò mò của nhiều người, từ đó đưa ra phân tích nhận định công tác cán bộ, nhân sự có sự “an bài”, “sắp xếp”, “thỏa hiệp”, cuối cùng là rêu rao, xuyên tạc chế độ mất dân chủ, độc đảng, chuyên quyền, toàn trị.

Ngoài thủ đoạn trên, chúng còn xuyên tạc đời tư, nói xấu, vu cáo cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng. Thời gian gần đây, trên các mạng xã hội, các blog, không gian mạng xuất hiện nhiều thông tin vu cáo, xuyên tạc, rêu rao, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước. Chúng thường phát tán các thông tin, hình ảnh, clip giả tạo, sai lệch, biến không thành có, thật giả lẫn lộn, gây hoài nghi, hoang mang trong dư luận xã hội. Từ đó hòng tác động đến nhận thức, tâm lý, tư tưởng, tình cảm của nhân dân, cán bộ, đảng viên.

Nguy hiểm không kém, chúng tập trung tung ra những bài viết, nhận định xuyên tạc, đánh đồng công tác phòng chống tham nhũng là “thanh trừng nội bộ”, “tranh giành quyền lực” trước Đại hội XIV. Chúng lợi dụng vào một số vụ việc cụ thể như: Việc một số đồng chí ủy viên Bộ Chính trị, tướng lĩnh, sĩ quan bị Bộ Chính trị, Ủy ban Kiểm tra Trung ương kết luật, xử lý vừa qua để xuyên tạc đó là sự “đấu đá quyền lực” “tranh giành lợi ích”, “tiêu diệt phe nhóm”,“thanh trừng nội bộ”… Từ đó nhằm gây ra tình trạng nghi ngờ, hoang mang, lầm tưởng an ninh chính trị mất ổn định, nội bộ mất đoàn kết, làm suy giảm niềm tin đội ngũ cán bộ, công tác cán bộ dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước.

Đối với mỗi một đảng chính trị, đảng cầm quyền ở bất kỳ quốc gia hay thể chế chính trị nào, để xây dựng, bầu ra bộ máy lãnh đạo của đảng thì công tác tiến hành lựa chọn, bầu cử bộ máy lãnh đạo, người đứng đầu dưới hình thức nào (từ dân chủ trực tiếp hay gián tiếp) là việc bình thường. Một ví dụ của nền chính trị dân chủ tư sản, điển hình ở Mỹ thì đảng Dân chủ hay đảng Cộng hòa, định kỳ vẫn tổ chức đại hội toàn quốc để đảng viên bầu cơ quan lãnh đạo của đảng, chủ tịch đảng, đề cử đại biểu của đảng mình tham gia bầu Tổng thống Hoa Kỳ…Hay cũng ở hầu hết các nước, những công chức trong hệ thống chính trị dù ở cương vị nào, nếu tham ô, tham nhũng thì đều bị điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của pháp luật. Lẽ nào, những điều thông thường, phổ quát như vậy cũng là“đấu đá”, “tranh giành”, “thanh trừng”, “tiêu diệt” nội bộ hay sao?

Nói về công tác nhân sự Đại hội của Đảng, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội của Đảng không chỉ là nhiệm vụ của Tiểu ban Nhân sự, của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, của Ban Chấp hành Trung ương mà là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị, của các cấp uỷ, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị và các địa phương. Các cơ quan, tổ chức có liên quan, mà trước hết là Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương phải dày công chuẩn bị, phải xác định đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, là nhiệm vụ “then chốt” của “then chốt”, có liên quan đến sự sống còn của Đảng, vận mệnh của chế độ, sự phát triển, vững mạnh của đất nước. Từng cơ quan, địa phương, từng cán bộ trực tiếp tham gia vào công tác chuẩn bị phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc trách nhiệm của mình, toàn tâm, toàn ý lo cho công việc chung, phải đặt lợi ích của Đảng, của đất nước, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải tiến hành tổng kết, rút kinh nghiệm, chỉ ra những ưu điểm, kết quả cũng như những khuyết điểm, hạn chế của các khoá trước, để có thêm cơ sở đề ra phương hướng, yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ của khoá mới.

Công tác nhân sự, cán bộ của Đảng được thực hiện trên một quy trình chặt chẽ, chuẩn bị công phu, cách làm cẩn trọng, dựa trên nguyên tắc xây dựng Đảng vốn là sức mạnh, tiến bộ, phát huy được nguyện vọng, ý chí tập thể là nguyên tắc tập trung dân chủ, thiểu số phục tùng đa số. Từ đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là cơ quan cao nhất của Đảng sẽ dân chủ lựa chọn, sáng suốt bầu ra đội ngũ cán bộ là tinh hoa của Đảng, thật sự vững vàng, có đủ bản lĩnh, phẩm chất, trí tuệ và có uy tín cao để giải quyết những công việc, xử lý kịp thời, đúng đắn, có hiệu quả những tình huống phức tạp có quan hệ đến sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc, sự sống còn của chế độ.

Những luận điệu suy diễn, những thông tin giả mạo, thất thiệt ở trên là những chiêu trò xuyên tạc, “diễn biến hoà bình” công tác cán bộ của Đảng, đánh vào tâm lý tò mò của nhiều người, gây nhiễu loạn thông tin, dao động về tư tưởng chính trị. Mục đích của chúng là cố tình tạo ra sự mất đoàn kết nội bộ, hạ thấp uy tín của cán bộ lãnh đạo cấp cao. Làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào tầm quan trọng, ý nghĩa đặc biệt to lớn của Đại hội XIV, vào sự lãnh đạo của Đảng, tính ưu việt của chế độ và Nhà nước pháp quyền XHCN.

Đại tá Nguyễn Văn Sơn - Khoa CTĐ, CTCT

Đọc tiếp »

Phát triển văn hóa Đảng trong không gian số

Chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong đời sống chính trị, văn hóa và xã hội. T...