TỈNH TÁO, NHẬN DIỆN ĐÚNG CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Hơn 36 năm qua, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước phát triển mạnh mẽ, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật, đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt.

Thế nhưng, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, bất mãn vẫn cố tình phủ nhận những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, nhất là đổi mới trên lĩnh vực chính trị, xã hội. Họ ra sức xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta trên tất cả lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại...

Thủ đoạn tinh vi, khó lường  

Về chính trị: Trước hết, họ tập trung phê phán, xuyên tạc, chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền lãnh đạo đất nước, họ cho rằng, đó là “chế độ đảng trị”, độc tài, mất dân chủ. Họ còn lợi dụng cụm từ “dưới sự lãnh đạo của Đảng” để xuyên tạc rằng, đó là bằng chứng của vấn đề “Đảng đứng trên luật pháp”, “quyền lực xã hội tập trung vào một số ít cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản”, “Đảng bao biện làm thay Nhà nước”... Vấn đề Nhà nước, họ xuyên tạc rằng: “Nói là Nhà nước pháp quyền, nhưng trên thực tế, luật pháp không được tôn trọng...”; “hệ thống tổ chức, bộ máy cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả”... Đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, họ cho rằng: “Hoạt động chỉ là hình thức, kém hiệu quả”... Vấn đề xã hội, họ cho rằng: "Mất dân chủ, vi phạm nhân quyền...". 

Nhận diện những vấn đề trên là một hoạt động khó khăn, phức tạp. Bởi lẽ, các đối tượng thường sử dụng internet, mạng xã hội Facebook, YouTube, Twitter, Zalo... và các phương tiện truyền thông khác như các đài phát thanh, truyền hình VOA, RFA, BBC, RFI... để tuyên truyền xuyên tạc, chống phá bằng những thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc, khó lường. Một trong những thủ đoạn nguy hiểm nhất mà họ thường sử dụng, đó là mượn các thông tin, sự kiện có thật đã xảy ra, được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng hay được phát tán thông qua mạng xã hội để lồng ghép, biên tập, sửa chữa và thêm thắt các tình tiết ngụy tạo, bóp méo rồi được tung ra như một dạng thông tin chính thống. Sau đó, thông qua các hình thức tán phát, như bình luận theo chuyên đề, kể chuyện lịch sử, hội luận, ý kiến chuyên gia, người trong cuộc, ngoài cuộc... để xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo lịch sử, bóp méo sự thật. Cuối cùng, thông qua sự tương tác, bình luận (comment), ý kiến người đọc, người xem để định hướng dư luận theo ý đồ của họ. Với những thủ đoạn tinh vi, dàn dựng khá bài bản, có thể họ đã lừa phỉnh được một số người còn thiếu thông tin, nhận thức hạn chế, phiến diện. Thậm chí, có cả một bộ phận cán bộ, đảng viên còn mơ hồ, dao động, đã cố tình hoặc vô ý cổ xúy, tiếp sức cho các luận điệu sai trái, phản động, biểu hiện của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

Từ việc nhận rõ bản chất âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đối với công cuộc đổi mới đất nước nói chung, đổi mới trên lĩnh vực chính trị-xã hội nói riêng, chúng ta thấy rằng, vấn đề chính trị-xã hội ở Việt Nam luôn là mối quan tâm, chống phá hàng đầu của các đối tượng này. Bởi đây là vấn đề hệ trọng, liên quan đến sự ổn định và phát triển đất nước. Mục tiêu sâu xa của chúng là gây mất ổn định chính trị, xã hội, mất lòng tin của quần chúng đối với Đảng, Nhà nước, tất yếu dẫn tới rối loạn chính trị-xã hội, khủng hoảng và sụp đổ, dẫn tới xóa bỏ chế độ chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, thành quả cách mạng của đất nước, nhân dân ta.

Thực tế sinh động, minh chứng thuyết phục

Thành tựu sau hơn 36 năm đổi mới toàn diện đất nước đã khẳng định tính đúng đắn, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mô hình phát triển đất nước do Đảng, nhân dân ta lựa chọn. Đó là, minh chứng thuyết phục nhất để bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực phản động, thù địch. Nhìn lại lịch sử, những thành tựu đất nước đã đạt được trong công cuộc đổi mới, trong đó có đổi mới chính trị-xã hội với bước đi, hình thức phù hợp “toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(1). Cho đến nay, ở Việt Nam, không có tổ chức chính trị nào có thể thay thế được vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về năng lực điều hành, quản lý đất nước có nhiều chuyển biến mang tính đột phá. Hoạt động của Nhà nước về thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng với quyết tâm cao, hiệu quả thiết thực. Phát huy được mọi nguồn lực, động lực và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa; tháo gỡ nhanh, hiệu quả các điểm nghẽn, vướng mắc; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu gắn với phát huy sức mạnh đồng bộ của cả hệ thống chính trị; phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương; thực hiện tốt sự phối hợp trong lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước; coi trọng chất lượng và hiệu quả thực tế; tạo đột phá để phát triển. Chính phủ và các bộ tập trung hơn vào quản lý, điều hành vĩ mô và năng động giải quyết những vấn đề lớn, quan trọng. Cải cách hành chính tiếp tục được chú trọng và đạt kết quả tích cực.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, với phương châm “Hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư, thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội”(2) đã phát huy tốt chức năng, vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân, là cầu nối quan trọng giữa Đảng và nhân dân. Củng cố được lòng tin, sự gắn bó của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Những kết quả tích cực đó tạo ra nhiều thay đổi lớn trong đời sống xã hội, dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy, mở rộng hơn, người dân được thông tin, giám sát hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị, quyền làm chủ của nhân dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, nhất là trong lĩnh vực kinh tế và chính trị được phát huy tốt hơn. Hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách ngày càng thích ứng với thông lệ quốc tế, tính nghiêm minh trong thực hiện cao hơn.

Những kết quả đó khẳng định rằng đổi mới chính trị ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, trực tiếp là cơ sở để đất nước có được bước phát triển to lớn như hiện nay. Mặt khác, những hạn chế, yếu kém, sai lầm, khuyết điểm được Đảng, Nhà nước thẳng thắn chỉ rõ, như: Đổi mới chính trị chưa đồng bộ với đổi mới kinh tế, năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị chưa ngang tầm nhiệm vụ. Một số hạn chế, vướng mắc chậm được giải quyết, thậm chí kéo dài trong một số nhiệm kỳ, làm cho vận hành của các tổ chức trong hệ thống chính trị trong một số trường hợp thiếu thống nhất, thông suốt; việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế và quản lý đất nước; chưa chế định rõ, đồng bộ, hiệu quả cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở các cấp. Từ đó, nhiều tiềm năng, thế mạnh của đất nước chưa được phát huy đầy đủ... những hạn chế đó không thể ngày một, ngày hai có thể khắc phục triệt để mà phải có một quá trình khắc phục kết hợp với đổi mới lâu dài, khó khăn, phức tạp. Vấn đề là Đảng, Nhà nước đã thẳng thắn nhìn nhận và khắc phục với quyết tâm cao nhất.

Từ thực tiễn thành tựu và những hạn chế về đổi mới chính trị-xã hội ở Việt Nam trong sự phát triển của đất nước cho thấy, những kết quả đạt được là cơ bản, to lớn và có ý nghĩa lịch sử, càng khẳng định con đường, mô hình phát triển đất nước là đúng hướng; những hạn chế, thiếu sót khuyết điểm không làm thay đổi bản chất, tính đúng đắn, ưu việt của chế độ chính trị, nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng. Đồng thời, là luận cứ đanh thép nhất phản bác những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực phản động, thù địch, cơ hội chính trị thời gian qua./. 

                                        Báo Quân đội Nhân dân

Đọc tiếp »

PH.ĂNGGHEN - LÃNH TỤ THIÊN TÀI CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VÀ NHÂN DÂN LAO ĐỘNG TOÀN THẾ GIỚI

Năm 2023 những người cộng sản và công nhân quốc tế kỷ niệm lần thứ 203 năm Ngày sinh của Phơ-ri-đơ-rích Ăng-ghen (28/11/1820 - 28/11/2023), lãnh tụ thiên tài, người thầy vĩ đại của giai cấp công nhân, người đã cùng với C.Mác xây dựng hệ thống lý luận khoa học, cách mạng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động nhằm giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người. Ông là nhà bác học và người thầy, lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới.

Xuất thân từ một gia đình tư sản, nhưng Ph.Ăngghen đã hiến dâng toàn bộ cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân. Ông là người bạn, người đồng chí gần gũi nhất của C.Mác, đã cùng C.Mác xây dựng hệ thống lý luận cách mạng, khoa học của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, nghiên cứu lý luận, Ph. Ăngghen luôn tích nghiên cứu, tiếp thu, kế thừa những tinh hoa tư tưởng của nhân loại. Đồng thời luôn gắn chặt với thực tiễn phong phú, sinh động của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân. Ông được coi là người đầu tiên phát hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh giải phóng người lao động, xây dựng xã hội mới không có áp bức, bóc lột. 

Bước ngoặt vĩ đại nhất của Ph. Ăngghen trong hoạt động lý luận là cùng với C.Mác phát hiện, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử “đã tống cổ chủ nghĩa duy tâm ra khỏi hầm trú ẩn cuối cùng của nó”; phát hiện ra những quy luật khách quan của sự phát triển xã hội và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; xây dựng lý luận giá trị thặng dư chỉ ra các quy luật chi phối sự vận động, phát triển và diệt vong tất yếu của chủ nghĩa tư bản. Trong đó, khẳng định sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản “là tất yếu như nhau”.

Quá trình hoạt động lý luận bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác, bên cạnh những tác phẩm viết riêng của mình, Ph.Ăngghen đã cùng C.Mác viết chung rất nhiều tác phẩm nhằm củng cố, bổ sung, phát triển những nguyên lý của chủ nghĩa Mác và đấu tranh chống các quan điểm sai trái, duy tâm, phản động của giai cấp tư sản. Bên cạnh đó, Ph.Ăngghen cũng đã bổ sung, phát triển những ý tưởng của C.Mác và tiếp tục hoàn thiện những công việc, những tác phẩm mà C.Mác chưa thực hiện xong. Ông đi sâu nghiên cứu các môn khoa học tự nhiên, quân sự, chính sách quốc tế; viết nhiều bài tổng kết kinh nghiệm các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân. Đặc biệt, Ph.Ăngghen cùng với C.Mác đã soạn thảo Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848). Đây là một văn kiện có tính chất cương lĩnh, là vũ khí lý luận, tư tưởng sắc bén của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh lật đổ sự thống trị xã hội của giai cấp tư sản, xây dựng một chế độ xã hội mới tốt đẹp hơn.

Ph. Ăngghen luôn gần gũi đi sâu tìm hiểu thực tế đời sống của các tầng lớp nhân dân và phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân trong xã hội tư bản đương thời. Trong những ngày tháng khó khăn của cách mạng, ông vẫn luôn giữ vững liên lạc với những người lãnh đạo và xây dựng các tổ chức cách mạng của giai cấp công nhân, trở thành lãnh tụ của phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân các nước châu Âu ở nửa cuối thế kỷ XIX. Khi tham gia Quốc tế thứ nhất, ông cùng C.Mác đấu tranh không khoan nhượng với các trào lưu tư tưởng phi vô sản, cải lương, cơ hội.

Sau khi C.Mác qua đời, Ph.Ăngghen đã tập trung thời gian, công sức để hoàn thành những công việc mà Mác thực hiện còn giang dở. Ông đảm nhiệm vai trò lãnh đạo tổ chức những người theo chủ nghĩa xã hội ở châu Âu; dành nhiều thời gian, công sức truyền bá tư tưởng, lý luận cách mạng và khoa học của C.Mác, xây dựng các tổ chức cách mạng của giai cấp công nhân. Đồng thời, tiếp tục tuyên truyền, đấu tranh bảo vệ tư tưởng của C.Mác trước sự tấn công, xuyên tạc của các lực lượng thù địch. Bên cạnh đó, ông cũng xem xét lại cả những quan điểm lý luận của chính mình khi thời cuộc thay đổi và cuộc sống đặt ra những vấn đề mới. Đây thật sự là quan điểm biện chứng và phong cách của một nhà khoa học, một nhà cách mạng chân chính.

Trong hệ thống tác phẩm đồ sộ của mình, với tình cảm mãnh liệt, trí tuệ sáng suốt, tầm hiểu biết sâu rộng và sự lăn lộn trong thực tiễn phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản, Ph.Ăngghen vừa thể hiện phẩm chất của một lãnh tụ, người thầy vĩ đại của giai cấp vô sản, người chiến sĩ trung thành, tận tụy chiến đấu cho sự tiến bộ xã hội; vừa là một nhà bác học bách khoa, nhà lý luận quân sự thiên tài của giai cấp vô sản và loài người tiến bộ. Ông xứng đáng là “cây vĩ cầm thứ hai” bên cạnh C.Mác. Những tư tưởng vĩ đại của Ph.Ăngghen là khoa học thực sự và cách mạng triệt để, có giá trị bền vững và sức sống mạnh liệt trước mọi thử thách, đã và đang soi sáng cho giai cấp vô sản, nhân loại tiến bộ tiến lên phía trước, hướng tới một tương lai tốt đẹp. Đó là những tư tưởng có ý nghĩa thời đại rất to lớn

Ngày nay, mặc dù thực tiễn có nhiều biến đổi, nhưng tư tưởng của Ph.Ăngghen về chủ nghĩa xã hội khoa học, vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp, công tác xây dựng Đảng vẫn còn nguyên giá trị. Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn là nền tảng tư tưởng và hành động cho các Đảng Cộng sản và phong trào công nhân quốc tế. Kiên định, vận dung và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn bám sát thực tiễn, đề ra đường lối lãnh đạo phù hợp với điều kiện của từng giai đoạn cách mạng và giành được những thành tựu có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 

Hơn 90 năm ra đời và phát triển, Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng nước ta, đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, đưa cách mạng Việt Nam hòa vào phong trào cách mạng của thế giới; tập hợp, đoàn kết, phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, kết hợp với sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thắng lợi vĩ đại có ý nghĩa lịch sử. Đó là bằng chứng hùng hồn, sinh động khẳng định sự đúng đắn, vai trò và ý nghĩa to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà Ph.Ăngghen là một trong những lãnh tụ sáng lập.  

Đánh giá về Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã viết: Ph.Ăngghen là nhà bác học và người thầy lỗi lạc nhất của giai cấp vô sản hiện đại trong toàn thế giới văn minh. Kỷ niệm 203 năm ngày sinh Ph.Ăngghen, mỗi chúng ta mãi trân trọng tất cả những gì Ông đã cống hiến cho khoa học, cho cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản vì lương tri và phẩm giá con người, vì sự bình đẳng và tiến bộ xã hội của các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Đồng thời, cũng hết sức trân trọng và học tập ở Ông tấm gương sáng ngời về nhân cách của người chiến sĩ cộng sản, đức khiêm tốn, sống có nghĩa, có tình, trong sáng, thủy chung với người bạn, người đồng chí của mình là C.Mác. Cùng với giai cấp công nhân và những người cộng sản trên toàn thế giới, giai cấp công nhân và những người cộng sản Việt Nam tự hào và biết ơn vô hạn đối với Ph.Ăngghen, nhà tư tưởng, lãnh tụ vĩ đại của mình.

Đọc tiếp »

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN NÓI PHẢI ĐI ĐÔI VỚI LÀM

 

          Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 03/02/1930 đánh dấu bước ngoặt lịch sử vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong suốt tiến trình lịch sử. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành điều kiện tiên quyết đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, Đảng ta luôn coi trọng việc nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên coi đây là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

Những năm qua, cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp đã lãnh đạo, chỉ đạo, cụ thể hoá, tổ chức thực hiện nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên tạo những chuyển biến tích cực. Phần lớn đội ngũ đảng viên luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, có ý thức rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, nói đi đôi với làm,  tự phê bình và phê bình, tiên phong, gương mẫu, xây dựng đoàn kết thống nhất trong Đảng, xây dựng mối quan hệ mật thiết với nhân dân. Những kết quả đạt được nêu trên có ý nghĩa quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên, phát huy tốt vai trò lãnh đạo của Đảng ở cơ sở, góp phần xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, qua đó củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Tuy nhiên, một bộ phận đảng viên năng lực, trình độ, trách nhiệm chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu bản lĩnh chính trị, đấu tranh tự phê bình và phê bình yếu; tinh thần trách nhiệm, ý chí phấn đấu giảm sút; chưa gương mẫu, sống thực dụng; suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa", vi phạm nguyên tắc, kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật. Đặc biệt tình trạng tình trạng “nói không đi đôi với làm”, “nói một đàng làm một nẻo”, “nói mà không làm”; bệnh nói dối, làm sai, nói và làm không thống nhất vẫn còn tồn tại trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, đã làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng. 

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên ráo riết thực hiện âm mưu chống phá Đảng với nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi xảo quyệt bôi nhọ, xuyên tạc, hạ thấp uy tín, vai trò của Đảng, chia rẽ Đảng với Nhà nước, Quân đội và nhân dân, phủ nhận thành quả cách mạng, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, trong đó chúng tập trung khoét sâu chống phá vào nội bộ Đảng vào đội ngũ đảng viên của Đảng.

Tình hình trên đặt ra yêu cầu trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, phát huy vai trò tiền phong gương mẫu đi đầu, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm nhất là nói đi đôi với làm của cán bộ, đảng viên trở nên cần thiết hơn bao giờ hết trong giai đoạn hiện nay. Để nâng cao trách nhiệm nói đi đôi với làm trong đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp, các ngành, các đoàn thể, mỗi cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, đẩy mạnh thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khoá XII về tiếp tục “Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XI về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay, Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XII về xây dựng và chỉnh đốn Đảng ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; Nghị quyết Trung ương 5 Khóa XIII về  tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới.

Hai là, thường xuyên làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên thấm nhuần sâu sắc tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì hại dân ta phải hết sức tránh”(1)Nói đi đôi với làm không chỉ là nguyên tắc, đạo đức, lẽ sống mà còn là biểu hiện của sự gương mẫu trong thực hiện nhiệm vụ được giao; mỗi cán bộ, đảng viên phải là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

Ba là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, sớm phát hiện những biểu hiện sai lệch trong cách nói, cách làm trong công việc. Mở rộng và phát huy dân chủ trong Đảng, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, rút kinh nghiệm sau mỗi phong trào hoạt động của cơ quan, đơn vị. Đây là cơ sở xây dựng đức tính trung thực, thẳng thắn, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của cán bộ, đảng viên. Phát hiện, bồi dưỡng và nhân rộng điển hình, gương người tốt, việc tốt gắn với đấu tranh với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng và kịp thời xử lý các hành vi vi phạm; bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; khơi dậy, phát huy ý chí, tinh thần cống hiến, vì lợi ích chung, tạo sức mạnh tổng hợp, góp phần quan trọng để cán bộ, đảng viên phấn đấu trở thành tấm gương tiêu biểu trong thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị được giao.

Bốn là, thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm thực hiện nêu gương đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là cán bộ chủ trì, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương. Cán bộ cấp trên phải gương mẫu trước cán bộ cấp dưới, đảng viên và nhân dân để thực sự trở thành tấm gương sáng cho mọi người noi theo. Vấn đề nêu gương của cán bộ, đảng viên cũng được đề cập rất nhiều lần trong các văn kiện, Chỉ thị, Nghị quyết, Quy định của Đảng như: Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư (Khóa XI) về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; Quy định số 55-QĐ/TW ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị (Khóa XII) đã nghiêm cấm một số việc và yêu cầu cán bộ, đảng viên thực hiện nghiêm một số việc, nhằm tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, giữ gìn hình ảnh, uy tín của Đảng; Quy định 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên đã thẳng thắn chỉ rõ những nội dung cán bộ, đảng viên phải nghiêm khắc với bản thân và kiên quyết chống, tập trung vào những khuyết điểm, yếu kém, bức xúc trong xã hội do cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu gây ra; việc nêu gương không chỉ tự thân cán bộ, đảng viên, mà còn trong quan hệ đối với người thân, gia đình, đối với công việc, tập trung vào các vấn đề về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong công tác, việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, chấp hành kỷ cương, kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân...

Năm là, nêu cao tinh thần tự học, tự nghiên cứu theo tư tưởng Hồ Chí Minh, học ở mọi lúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh, học ở trường, lớp, sách, vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân, với tinh thần học tập suốt đời để nâng cao trình độ về mọi mặt; trên cơ sở nhiệm vụ được giao, cần xác định rõ trách nhiệm của mình, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Phân tích chất lượng đảng viên, đánh giá cán bộ phải dựa trên cơ sở kết quả công việc, không chung chung, đại khái, phải đi sâu đi sát, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện công việc được giao.

Sáu là, ra sức thực hành nói đi đôi với làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là biểu hiện trách nhiệm của mỗi cá nhân, tổ chức trong mọi hoạt động, cần được tiến hành thường xuyên, liên tục. Với mỗi cán bộ, đảng viên thì điều này càng quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết vì cán bộ là gốc của mọi công việc, là những tấm gương sống để quần chúng noi theo.  Bởi lẽ, theo Hồ Chí Minh: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(2). Học phải đi đôi với hành, lý luận phải gắn với thực tiễn: Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông(3)

Trong giai đoạn hiện nay, hơn bao giờ hết, mỗi cán bộ, đảng viên nhất là cán bộ chủ trì các cấp phải nêu cao nhận thức trách nhiệm trước Đảng, trước Tổ quốc và nhân dân, nói đi đôi với làm, suy nghĩ và hành động thiết thực gương mẫu trong cả lời nói và việc làm ở mọi lúc, mọi nơi, mọi công việc, mọi cương vị chức trách. Phát huy hành động gương mẫu của người đảng viên phải khơi dậy, củng cố, phát huy sự tự ý thức về tính tiên phong, sự tự tu dưỡng, rèn luyện nghiêm túc, thường xuyên, bền bỉ của mỗi cán bộ, đảng viên; đồng thời, phải phát huy vai trò của các thiết chế chính trị, văn hóa, xã hội, tạo dựng sức mạnh tổng hợp, môi trường lành mạnh để nuôi dưỡng, phát huy hành động tiên phong, gương mẫu của người đảng viên. Qua đó, mỗi cán bộ, đảng viên sẽ ngày càng hoàn thiện bản thân trên mọi phương diện, nhiều cá nhân nêu gương tốt sẽ góp phần xây dựng tập thể nêu gương, tổ chức đảng nêu gương, toàn Đảng nêu gương để Đảng ta thật sự “là đạo đức, là văn minh”, xứng đáng với sự tin cậy, yêu mến của nhân dân.

Hoàng Trọng Thiết

 

Tài liệu tham khảo:

          (1) Hồ Chí Minh (1945), “Sao cho được lòng dân?”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 51.

(2) Hồ Chí Minh (1924), “Thư gửi đồng chí Pêtơrốp, Tổng thư ký Ban Phương Đông”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 284.

          (3) Hồ Chí Minh (1957), “Diễn văn khai mạc Lớp học lý luận chính trị Khóa I Trường Nguyễn Ái Quốc”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 95.

 

 

Đọc tiếp »

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA CHÍNH TRỊ VÀ ĐẠO ĐỨC VÀO XÂY DỰNG PHẨM CHẤT CHÍNH TRỊ - ĐẠO ĐỨC CHO THANH NIÊN BỘ ĐỘI BIÊN PHÒNG HIỆN NAY

 


Cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, luôn lấy độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội làm mục tiêu chung để mọi hoạt động chính trị và đạo đức hướng tới thực hiện. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng không chỉ dừng lại ở những chuẩn mực, quy tắc sống của các cá nhân trong quan hệ sinh hoạt hàng ngày, mà nó còn hàm chứa thái độ của mỗi người trong giải quyết các mối quan hệ xã hội phong phú, đòi hỏi sự tự nguyện, đức hy sinh của mỗi người, chứa đựng những giá trị xã hội lớn lao, mang nội dung nhân văn sâu sắc.

Sự thống nhất giữa lý tưởng chính trị cách mạng và đạo đức cao đẹp là cơ sở của những hành động cách mạng dũng cảm hy sinh quên mình, là cơ sở để mỗi người tự giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ, nghĩa vụ và quyền lợi, giữa nghĩa vụ pháp lý và nghĩa vụ đạo đức trước vận mệnh dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Khẳng định sự thống nhất giữa đạo đức với chính trị, Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh: “Nói tóm lại, chính trị là đức, chuyên môn là tài. Có tài mà không có đức là hỏng. Có đức mà chỉ i, tờ thì dạy thế nào? Đức phải có trước tài.[5, tr. 269]. Người còn chỉ rõ sự thống nhất giữa đạo đức và chính trị cách mạng có nguồn gốc sâu xa từ bản chất tốt đẹp của cách mạng vô sản và nhân cách mẫu mực của người cộng sản.

Trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, mục tiêu chính trị cao cả là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã được mỗi người giác ngộ, chuyển hoá thành lương tâm, nghĩa vụ đạo đức, nguyện chiến đấu hy sinh cho quyền lợi của dân tộc, lợi ích của nhân dân. Người cũng dạy rằng: “Đó là đạo đức cách mạng. Đạo đức đó không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người” [2, tr. 292]. Sự thống nhất giữa chính trị và đạo đức được thể hiện sâu sắc, trước hết trong phẩm chất nhân cách của người cán bộ cách mạng. Trau dồi đạo đức là yêu cầu nền tảng của mỗi con người. Yêu cầu đó càng trở nên cấp thiết đối với người cán bộ cách mạng, những nhà hoạt động chính trị - xã hội chuyên nghiệp. Người căn dặn: “Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính… Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay là không” [4, tr. 354].

Giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên là xây dựng cái nền tảng, cái “gốc” vững chắc của người cán bộ, đảng viên. Nội dung giáo dục bao gồm hệ thống các phẩm chất, chuẩn mực đạo đức cách mạng rất phong phú và mang nội dung chính trị sâu sắc. Trong đó, trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất chính trị - đạo đức hàng đầu, khẳng định trách nhiệm chính trị và nghĩa vụ đạo đức của mỗi cá nhân đối với xã hội, của mỗi người dân đối với Tổ quốc. Cơ sở vững chắc của lòng trung thành đó phải được xây dựng bằng sự giác ngộ về lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối của Đảng, nhiệm vụ cách mạng. Trung với nước phải gắn liền với “hiếu với dân”. Nhân dân là chủ và cán bộ phải hết lòng phụng sự, làm đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Đạo trung - hiếu đó phải được biểu hiện trong thực tiễn cuộc sống là phấn đấu: “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”, với tinh thần xả thân: “Mình đánh giặc là vì dân. Nhưng không phải là “cứu tinh” của nhân dân, mà mình có trách nhiệm phụng sự nhân dân” [3, tr. 76]. Cùng với phẩm chất đạo đức “Trung với nước, hiếu với dân”, Hồ Chí Minh còn luôn nhắc nhở mỗi công dân, nhất là mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên trau dồi phẩm chất đạo đức: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Sự thống nhất giữa chính trị và đạo đức trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn đòi hỏi luôn kết hợp chặt chẽ giữa lòng yêu nước chân chính với tinh thần quốc tế cao cả, trong sáng. Yêu quý nhân dân nước mình, đồng thời phải kính trọng, yêu quý, giúp đỡ nhân dân nước bạn. Thể hiện tinh thần đoàn kết “bốn phương vô sản đều là anh em”.

        Hiện nay, trước những yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới (ANBG) quốc gia, vấn đề xây dựng phẩm chất chính trị - đạo đức cho thanh niên Bộ đội Biên phòng (BĐBP), nhất là ở các đơn vị cơ sở BĐBP tiếp tục được xác định là một nhiệm vụ quan trọng của lực lượng. Để việc xây dựng phẩm chất chính trị - đạo đức cho thanh niên BĐBP hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh được thực hiện có hiệu quả hơn nữa, cần tập trung vào một số vấn đề sau:

Một là, tăng cường công tác giáo dục, quán triệt để thanh niên BĐBP nhận thức đúng đắn và vận dụng có hiệu quả hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa chính trị và đạo đức trong xây dựng phẩm chất chính trị - đạo đức cho bản thân và cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị. Để công tác giáo dục, quán triệt về xây dựng phẩm chất chính trị - đạo đức có hiệu quả và đi vào chiều sâu cần lồng ghép vào chương trình giáo dục chính trị của các đơn vị kết hợp với quá trình thực hiện Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 05- CT/TW, ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Bộ Chính trị (Khoá XII) về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28/12/2021 của Quân uỷ Trung ương về “Phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”; Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”.

Hai là, tiếp tục thực hiện tốt việc đẩy mạnh “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và lời dạy của Bác Hồ đối với BĐBP”. Để vấn đề này được thực hiện đi vào chiều sâu cần phải gắn việc triển khai thực hiện với quá trình xây dựng phẩm chất chính trị - đạo đức cho cán bộ, chiến sĩ BĐBP nhất là cho bộ phận thanh niên trong lực lượng. Cụ thể cần tập trung vào công tác giáo dục nhằm: Nâng cao, ý thức trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; tinh thần, ý thức tập thể xã hội chủ nghĩa; lề lối, tác phong công tác; tinh thần đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân - dân, đoàn kết quốc tế; lối sống trong sạch, lành mạnh, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, tiêu cực.

Ba là, phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng ở đơn vị đối với việc giáo dục, hướng dẫn xây dựng phẩm chất chính trị - đạo đức cho thanh niên BĐBP. Muốn thực hiện tốt vấn đề này trước hết cần phải quan tâm xây dựng các tổ chức này vững mạnh. Đây là trách nhiệm không chỉ của lãnh đạo, chỉ huy các cấp, của những cán bộ “Đoàn”, “Hội” mà còn là trách nhiệm chung của toàn thể cán bộ, chiến sĩ trong từng đơn vị. Đi sâu vào việc giáo dục, hướng dẫn xây dựng phẩm chất chính trị - đạo đức cho thanh niên BĐBP, để phát huy tốt vai trò của mình, đòi hỏi các tổ chức quần chúng cần phải đưa nội dung xây dựng phẩm chất chính trị - đạo đức vào chương trình hành động của đoàn, hội; thường xuyên tổ chức các buổi học tập, bồi dưỡng để nâng cao nhận thức cho các thành viên về vai trò của xây dựng phẩm chất chính trị - đạo đức trong quá trình hoàn thiện nhân cách người quân nhân cách mạng, nội dung và biện pháp để xây dựng phẩm chất chính trị - đạo đức gắn với tình hình thực tiễn của đơn vị mình.

Bốn là, tích cực nhân rộng các gương điển hình, tiên tiến về xây dựng phẩm chất chính trị - đạo đức của các cá nhân và tập thể trong thanh niên BĐBP. Xây dựng và nhân rộng các gương điển hình tiên tiến trước hết phải bắt đầu từ sự cố gắng, nỗ lực của từng cá nhân, đơn vị. Mặt khác, lãnh đạo, chỉ huy các cấp cũng cần thiết phải quan tâm chỉ đạo, xây dựng các “đơn vị điểm về phẩm chất chính trị - đạo đức trong thanh niên” qua đó tổ chức phổ biến và tổng kết những kinh nghiệm hay để áp dụng trong thanh niên toàn lực lượng. Quan tâm theo sát quá trình xây dựng phẩm chất chính trị - đạo đức cho thế hệ trẻ từ đó phát hiện, động viên, khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân có thành tích tốt trong xây dựng phẩm chất chính trị - đạo đức. Đồng thời phải kiên quyết xử lý với các hình thức kỷ luật nghiêm đối với những thanh niên trong lực lượng vi phạm phẩm chất, đạo đức, lối sống ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và uy tín của BĐBP nói chung cũng như quá trình xây dựng phẩm chất chính trị - đạo đức của thanh niên BĐBP nói riêng.

* Dương Ngọc Hưởng

Tài liệu tham khảo:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Kết luận của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Số: 01-KL/TW ngày 18.5, Hà Nội.

2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội - 2011. 

3. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, Nxb CTQG, Hà Nội - 2011.

4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG, Hà Nội - 2011.

5. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 12, Nxb CTQG, Hà Nội - 2011.

Đọc tiếp »

ĐẤU TRANH CHỐNG CHIÊU TRÒ ĐÒI THỰC HIỆN “TAM QUYỀN PHÂN LẬP” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH ĐỐI VỚI CÔNG CUỘC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

 


Hiện nay, các thế lực thù địch đang tìm mọi cách xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, kể cả bằng chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, thậm chí bằng chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao... Trong đó, thủ đoạn sử dụng học thuyết “Tam quyền phân lập” kết hợp với yêu thuật “đánh tráo khái niệm” vẫn được chúng ráo riết thực hiện. Đối với Việt Nam hiện nay, các thế lực thù địch ra sức kêu gọi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; đòi thực hiện tam quyền phân lập trong tổ chức quyền lực Nhà nước.

Học thuyết “Tam quyền phân lập” - thuyết phân chia quyền lực xuất hiện gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chống lại chế độ phong kiến chuyên chế. Để hạn chế quyền lực của nhà vua, các nhà tư tưởng của giai cấp tư sản đã đưa ra luận điểm về sự cần thiết phân chia quyền lực nhà nước thành các nhánh quyền lực độc lập. Những nhà tư tưởng này đã nhận thấy ở các nhà nước quân chủ chuyên chế thì quyền lực nhà nước tập trung trong tay một nhà quân chủ (một người), dẫn đến việc độc đoán, lạm quyền, tuỳ tiện trong việc sử dụng quyền lực nhà nước.

Về vấn đề phân chia quyền lực trong bộ máy nhà nước, ngay từ thời cổ đại, những tư tưởng phân quyền đầu tiên đã xuất hiện với các nhà tư tưởng như Platôn, Arixtốt. Tuy nhiên, tư tưởng phân quyền thời kỳ này chỉ là sự phân công lao động, phân công chức năng, thẩm quyền giữa các bộ phận trong bộ máy nhà nước. Đến thời kỳ cách mạng tư sản (giai đoạn từ thế kỷ XVII - XVIII), các học giả tư sản đã kế thừa tư tưởng phân quyền thời cổ đại và phát triển nó thành học thuyết. Nguyên tắc phân chia quyền lực được J.Locker (1632- 1704), nhà triết học người Anh sáng lập. J.Locker chia quyền lực nhà nước thành quyền lập pháp, hành pháp và quyền liên bang. Sau đó, người phát triển học thuyết của J.Locker, đưa nó trở thành học thuyết “Tam quyền phân lập” là L.S.Môngtetxkiơ (1698-1755). Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” (L'esprit des lois), L.S.Môngtetxkiơ đã xác định một cách cụ thể các dạng quyền lực và đã chia quyền lực nhà nước thành quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp. Ngoài ra, theo L.S.Môngtetxkiơ, nguyên tắc phân chia quyền lực còn đòi hỏi phải trao cho mỗi nhánh quyền lực những thẩm quyền riêng biệt để chúng có thể kiềm chế lẫn nhau. Cần phải có một trình tự mà theo đó, quyền lực này có thể ngăn chặn quyền lực khác, các quyền có khả năng chế ước lẫn nhau. Việc giao cho các cơ quan khác nhau thực hiện quyền lực nhà nước, mỗi cơ quan chịu trách nhiệm về những chức năng khác nhau để chúng có thể đối trọng, kiềm chế lẫn nhau nhằm ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực và chuyên chế [1].

Trong bối cảnh lịch sử đương thời lúc đó, thuyết “Tam quyền phân lập” ra đời là một bước tiến bộ so với chế độ quân chủ phong kiến. Nó đã trở thành ngọn cờ tư tưởng để giai cấp tư sản tập hợp quần chúng chống lại chế độ phong kiến trong tiến trình cách mạng tư sản giai đoạn thế kỷ XVII - XVIII. Khi giai cấp tư sản giành được chính quyền, học thuyết “Tam quyền phân lập” trở thành nguyên tắc cơ bản về tổ chức hoạt động của nhà nước tư sản nhằm hạn chế sự độc quyền, lạm quyền, tuỳ tiện trong việc sử dụng quyền lực nhà nước. Nguyên tắc này đã tạo ra cơ chế kiềm chế và đối trọng giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong nhà nước tư sản. Học thuyết “Tam quyền phân lập” gắn liền với chế độ chính trị đa đảng của nhà nước tư sản. Tuy nhiên, việc áp dụng học thuyết này trong việc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước ở nhà nước tư sản là rất khác nhau và trên thực tế, nhà nước tư sản cũng không thực hiện tuyệt đối nguyên tắc phân quyền theo như lý thuyết kinh điển, mà họ áp dụng linh hoạt cho phù hợp với tình hình của nước mình. Theo đó, có thể thấy rằng, không có một khuôn mẫu cố định của học thuyết “Tam quyền phân lập” để áp dụng chung cho mọi nhà nước tư sản với các hình thức nhà nước khác nhau và càng không thể có một khuôn mẫu chung về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước áp dụng chung cho mọi nhà nước với những chế độ chính trị khác nhau. Ngay đối với một đất nước, thì cách thức tổ chức và phân công quyền lực nhà nước cũng không phải là bất biến, mà phải được tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử của nước đó.

Bên cạnh những mặt tích cực của học thuyết “Tam quyền phân lập”, chủ nghĩa Mác - Lênin cũng đã nhìn thấy những hạn chế của học thuyết này và đã chỉ ra bản chất bên trong của nó. Đồng thời, còn khẳng định quyền lực nhà nước được sinh ra từ mâu thuẫn giai cấp. Sự xuất hiện giai cấp, đồng thời cũng xuất hiện nhà nước và cùng với nó là quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước là quyền lực của một nhóm chủ thể nhất định đối với toàn xã hội, với đặc thù sử dụng những biện pháp cưỡng chế mang tính nhà nước. Quyền lực nhà nước là phạm trù thuộc kiến trúc thượng tầng, do đó, tính chất của quyền lực nhà nước sẽ do cơ sở hạ tầng là các quan hệ kinh tế quy định. Bộ phận cấu thành quan trọng nhất tạo nên bản chất của quyền lực nhà nước là ý chí của giai cấp cầm quyền. Quyền lực nhà nước chỉ tồn tại thông qua bộ máy thực hiện nó. Đó là bộ máy nhà nước. Bộ máy này tạo nên sức mạnh của quyền lực nhà nước. Bản thân nhà nước không phải là quyền lực, mà cùng với pháp luật chỉ là những công cụ thực hiện quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước là quyền lực chính trị, phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị và do đó về bản chất, nó là quyền lực thống nhất. Chính vì vậy, có thể thấy, quan điểm về tổ chức phân chia quyền lực không có ý nghĩa tuyệt đối, phân chia quyền lực không loại trừ sự thống nhất trong chính sách nhà nước về những vấn đề có tính nguyên tắc và sự tương hỗ, phối hợp giữa các nhánh quyền lực.

Khác với nhà nước tư sản, Việt Nam tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc thống nhất quyền lực, không phân lập, nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Bản chất của sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là: Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của mỗi loại hình cơ quan nhà nước, nhờ đó hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước được nâng cao; tránh sự trùng lặp, chồng chéo, mâu thuẫn giữa các cơ quan trong việc thực hiện ba quyền với những chức năng, nhiệm vụ cụ thể của từng cơ quan, bảo đảm sự vận hành nhịp nhàng, đồng bộ của cả bộ máy nhà nước trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước thống nhất. Nội dung của nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp thể hiện trước hết ở chỗ, quyền lực nhà nước luôn thuộc về nhân dân; nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước.

Chúng ta đã tiếp thu những nhân tố hợp lý trong cách thức tổ chức nhà nước theo học thuyết “Tam quyền phân lập”, thể hiện rõ ở các bản hiến pháp Việt Nam, đặc biệt là Hiến pháp năm 2013. Với chủ trương cụ thể hóa đường lối đổi mới, Hiến pháp năm 2013 đã thể chế hóa nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước trên tinh thần giữ vững bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, vận dụng những nhân tố hợp lý của các học thuyết tổ chức quyền lực nhà nước tiến bộ và đề ra nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ mới: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp (Điều 2 Hiến pháp năm 2013); sau đó tiếp tục được bổ sung, phát triển trong kỳ Đại hội XII (2016) và Đại hội XIII (2021): “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động;...” [2, tr. 284]; “xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền,...” [2, tr. 174 - 175] và “tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực bằng hệ thống pháp luật” [2, tr. 203] nhằm thực hiện mục tiêu “nhốt quyền lực vào trong lồng thể chế và chính sách”. Theo đó, khác với nguyên tắc “Tam quyền phân lập”, trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, không phân chia và thuộc về nhân dân.

Quyền lực nhà nước ở nước ta bắt nguồn từ nhân dân, nhưng thống nhất và tập trung vào Quốc hội. Quyền lực nhà nước thống nhất và tập trung vào Quốc hội nhưng được phân công cụ thể, rành mạch, trong đó Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, được phân công thực hiện quyền lập pháp; Chính phủ thực hiện quyền hành pháp; tòa án nhân dân cùng với viện kiểm sát nhân dân được phân công thực hiện quyền tư pháp. Về các cơ quan nhà nước ở địa phương, hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp đặt dưới sự chỉ đạo của các cơ quan chính quyền cấp trên, phải phục tùng mọi quyết định của chính quyền trung ương. Trong phạm vi quyền hạn được pháp luật quy định, các cơ quan nhà nước ở địa phương có quyền chủ động phát huy sáng kiến, đề ra các biện pháp để thi hành pháp luật, quyết định, chỉ thị của cấp trên nhưng tuyệt đối không được đặt ra những quy định trái với văn bản pháp luật và các văn bản khác của chính quyền cấp trên. Sự phân công chặt chẽ, rõ ràng đó chỉ có thể đạt được trên thực tế nếu có sự giám sát nhau. Giám sát là rất cần thiết, nhưng giám sát không phải là đối trọng, đối lập nhau. Sự giám sát thể hiện ở chỗ, Chính phủ chịu trách nhiệm và báo cáo trước Quốc hội về những hoạt động của mình; Quốc hội chất vấn và ra những nghị quyết về công tác của Chính phủ; Quốc hội có thể tín nhiệm hay không tín nhiệm Chính phủ hoặc cá nhân bộ trưởng.

Tóm lại, việc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo quan điểm chỉ đạo “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn lịch sử phát triển của đất nước, có căn cứ khoa học, đồng thời, cũng xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của toàn dân Việt Nam. Mọi “quan điểm” đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đòi thực hiện “Tam quyền phân lập” trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam là hoàn toàn sai trái, nó xa lạ với thực tiễn ở Việt Nam, không phù hợp với ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam.

   * Dương Ngọc Hưởng

Tài liệu tham khảo:

1. L.S.Môngtetxkiơ, Tinh thần pháp luật (người dịch Hoàng Thanh Đạm), Nxb Giáo dục, Khoa Luật, Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội, 1996.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb. CTQGST, Hà Nội, 2021.

Đọc tiếp »

Phát triển văn hóa Đảng trong không gian số

Chuyển đổi số và sự phát triển mạnh mẽ của không gian mạng đang tạo ra những biến đổi sâu sắc trong đời sống chính trị, văn hóa và xã hội. T...