Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về “Đức” và “Tài” vào bồi dưỡng phẩm chất, năng lực cho đội ngũ sĩ quan trẻ ở đồn Biên phòng hiện nay

 


Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại của Đảng Cộng sản Việt Nam và dân tộc Việt Nam, người Cha thân yêu của lực lượng vũ trang nhân dân. Sinh thời, Người luôn quan tâm đến sự nghiệp xây dựng, giáo dục, huấn luyện và rèn luyện Quân đội nhân dân Việt Nam. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cán bộ, chiến sĩ Quân đội phải được giáo dục, rèn luyện toàn diện, vừa “hồng”, vừa “chuyên”, có đủ “Đức” và “Tài”; trong đó, “Đức” là gốc, còn “Tài” là năng lực để thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. “Đức” và “Tài” có mối quan hệ thống nhất, biện chứng, gắn bó chặt chẽ, bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau, cùng tạo nên phẩm chất và năng lực của người quân nhân cách mạng.

Đối với đội ngũ cán bộ Quân đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, nhằm xây dựng những cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, năng lực công tác tốt, phương pháp, tác phong khoa học, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, quản lý, chỉ huy bộ đội. Tư tưởng, hành động đó của Người không chỉ có giá trị định hướng sâu sắc đối với quá trình xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam mà còn là cơ sở lý luận, thực tiễn quan trọng để xây dựng lực lượng Bộ đội Biên phòng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới.


Đội ngũ sĩ quan trẻ công tác tại các đồn, trạm Biên phòng là lực lượng có vai trò quan trọng. Bên cạnh những phẩm chất, năng lực chung của sĩ quan trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam, họ còn mang những đặc điểm riêng của sĩ quan trẻ Biên phòng, là người trực tiếp tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và đối ngoại ở khu vực biên giới; trực tiếp quản lý, giáo dục, huấn luyện bộ đội; tham gia xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện; đồng thời thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và xây dựng địa bàn biên giới vững mạnh. Quá trình công tác tại cơ sở, thường xuyên hoạt động trong điều kiện địa hình phức tạp, thời tiết khắc nghiệt, xa gia đình và trung tâm, đã tôi luyện cho đội ngũ sĩ quan trẻ Biên phòng bản lĩnh, ý chí, tinh thần chịu đựng khó khăn, gian khổ; khả năng thích ứng, độc lập xử lý công việc và chủ động khắc phục, vượt qua mọi khó khăn, thử thách để hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, “Đức” và “Tài” là hai mặt thống nhất, không thể tách rời, trong đó “Đức” là nền tảng, là gốc rễ của người cán bộ. Người viết: “có tài phải có đức, có tài không có đức, tham ô hủ hóa có hại cho nước, có đức không có tài như ông bụt ngồi trong chùa, không giúp gì được ai” (1). Theo đó, “Đức” của đội ngũ sĩ quan trẻ ở đồn Biên phòng chính là đạo đức cách mạng, đạo đức của người cộng sản, đạo đức của con người mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đó là “nền tảng” là “linh hồn” là cái “gốc” của người cách mạng; là một trong những điều kiện cơ bản nhất trực tiếp quyết định đến uy tín của người cán bộ, là yếu tố bảo đảm cho sự cảm hóa, thu phục và lãnh đạo được bộ đội, vận động được nhân dân góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh, xây dựng địa bàn an toàn.

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, “Tài” là làm bất cứ công việc gì cũng cần phải có năng lực về lĩnh vực đó, không có năng lực thì làm việc gì cũng khó. Do đó, phẩm chất đặc trưng về “Tài” của đội ngũ sĩ quan trẻ đồn Biên phòng, trước hết phải là người có sự phát triển cao về trí tuệ, có tri thức sâu rộng, hiểu biết trên nhiều lĩnh vực, sáng suốt trong tư duy, linh hoạt sáng tạo, quyết đoán và ý chí quyết tâm cao, có khả năng nhận định, phân tích đánh giá tình hình và xử trí tình huống mau lẹ chính xác đem lại hiệu quá cao, luôn đưa ra được những quyết định đúng đắn, kịp thời để chớp thời cơ giành thắng lợi trong chiến đấu cũng như trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; có khả năng phát hiện, cảm hóa thuyết phục, quản lý, sử dụng con người phù hợp với sở trường và yêu cầu giúp nhiệm vụ thực tế. Cùng với đó, đội ngũ sĩ quan trẻ đồn Biên phòng phải có lòng nhân ái, luôn thương yêu, giúp đỡ, đồng cam cộng khổ, thấu hiểu tâm tư tình cảm nguyện vọng cũng như năng lực sở trường của cán bộ, chiến sĩ do mình quản lý, biết sử dụng đúng người đúng việc, biết thu phục lòng người, biết động viên, thống nhất và đoàn kết mọi quân nhân tạo thành sức mạnh to lớn để hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ rõ, là cán bộ không phải cái gì cũng tốt, cái gì cũng hay, mỗi người đều có mặt mạnh, điểm yếu, sở trường, sở đoàn. Vì thế, để cho công việc thành công phải khéo dùng người, phải biết tùy tài mà dùng người, “người đời ai cũng có chỗ hay chỗ dở. Ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người chữa chỗ dở. Dùng người cũng như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong, đều tuỳ chỗ mà dùng được” (2). Theo đó, để đáp yêu cầu nhiệm vụ, đội ngũ sĩ quan ở đồn Biên phòng cần có sự phát triển toàn diện cả về trình độ tri thức, tình cảm, ý chí, niềm tin và năng lực tổ chức thực tiễn, có khả năng cảm hóa con người, có tính kế hoạch, có sức khỏe tốt để bám sát mọi hoạt động của đơn vị. Muốn vậy, đòi hỏi đội ngũ sĩ quan trẻ đồn Biên phòng phải thường xuyên rèn luyện, phấn đấu nâng cao phẩm chất, năng lực, đặc biệt là xây dựng kế và phát huy vai trò của cả hai yếu tố là “Đức” và “Tài” trong thực hiện ứng các nhiệm vụ được giao.

Hiện nay, trước yêu cầu phát triển của sự nghiệp cách mạng, vấn đề xây dựng Quân đội, lực lượng Bộ đội Biên phòng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, việc xây dựng đội ngũ sĩ quan trẻ ở đồn Biên phòng có đủ “Đức” và “Tài”, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Để thực hiện mục tiêu đó, cần tiến hành đồng bộ các nội dung, biện pháp chủ yếu sau:

Một là, nâng cao bản lĩnh chính trị, giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng cho đội ngũ sĩ quan trẻ ở đồn Biên phòng.

Trước những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường của tình hình và sự chống phá của các thế lực thù địch, sĩ quan trẻ phải tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng của Đảng; có bản lĩnh chính trị vững vàng, nhạy bén, chủ động, linh hoạt trong nhận định, xử trí tình huống, không để bị động, bất ngờ. Đồng thời, thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, giữ vững kỷ luật, nêu cao tinh thần trách nhiệm, tính tiền phong, gương mẫu, gần gũi, gắn bó với Nhân dân; kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Hai là, đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, gắn lý luận với thực tiễn, nhà trường với đơn vị và biên giới.

Xây dựng chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng thống nhất, khoa học, phù hợp với từng đối tượng, chức danh, cấp học và yêu cầu sử dụng cán bộ; chú trọng trang bị hệ thống kiến thức về đường lối quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, khoa học xã hội và nhân văn quân sự, khoa học nghệ thuật quân sự, nghiệp vụ Biên phòng và kiến thức cần thiết về quản lý nhà nước, pháp luật, kinh tế - xã hội. Quá trình đào tạo phải coi trọng rèn luyện phương pháp tư duy, năng lực tham mưu, lãnh đạo, chỉ huy, quản lý và xử trí tình huống; tăng cường thực hành, thực tế tại đơn vị, nhất là ở các địa bàn biên giới, qua đó gắn “học với hành”, “lý luận với thực tiễn”, “nhà trường với đơn vị, biên giới”.

Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục, đào tạo với rèn luyện phẩm chất, năng lực trong thực tiễn công tác.

Đội ngũ sĩ quan trẻ phải được đặt trong môi trường thực tiễn phong phú, khó khăn, thử thách để rèn luyện bản lĩnh, phương pháp, tác phong công tác và năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ chủ trì cần quan tâm giao nhiệm vụ, tạo điều kiện để sĩ quan trẻ được rèn luyện qua thực tiễn, đồng thời thường xuyên kiểm tra, đánh giá, hướng dẫn, giúp đỡ, kịp thời phát hiện, uốn nắn những hạn chế, khuyết điểm. Việc rèn luyện phải gắn với việc thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị ngày 15/5/2016 về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Chỉ thị số 676-CT/QUTW ngày 20/6/2026 của Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo phát huy giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới và Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”.

Bốn là, phát huy tính chủ động, tự giác tự học, tự rèn của đội ngũ sĩ quan trẻ, coi đây là yếu tố trực tiếp quyết định quá trình hoàn thiện “Đức” và “Tài”.

Cùng với sự giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng của tổ chức, mỗi sĩ quan trẻ phải thường xuyên tự học tập, nghiên cứu, cập nhật kiến thức, nâng cao năng lực tư duy, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, khả năng tổ chức thực tiễn; đồng thời, kiên trì tu dưỡng đạo đức cách mạng, xây dựng lối sống trong sạch, lành mạnh, tác phong công tác khoa học, sâu sát cơ sở, gần gũi và gắn bó với Nhân dân. Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, phải nhận thức đúng mối quan hệ thống nhất giữa “Đức” và “Tài”: Có đức mà thiếu năng lực thì khó hoàn thành tốt nhiệm vụ; có tài mà thiếu đức thì dễ dẫn đến sai lệch trong sử dụng năng lực. Vì vậy, xây dựng đội ngũ sĩ quan trẻ ở đồn Biên phòng phải đồng thời chăm lo cả “Đức” và “Tài”, lấy phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng làm nền tảng, lấy năng lực thực tiễn làm điều kiện để hoàn thành chức trách, góp phần xây dựng lực lượng Bộ đội Biên phòng vững mạnh, đáp ứng yêu cầu quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong tình hình mới./.

Thượng tá Trần Quốc Hoàn, Khoa Lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Biên phòng

 Tài liệu tham khảo

1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 10, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 345 - 346.

2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 88.

 

Đọc tiếp »

Xây dựng hệ sinh thái số trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch tại Học viện Biên phòng hiện nay

 


Trong bối cảnh bùng nổ thông tin và sự chuyển dịch phương thức chống phá của các thế lực thù địch sang không gian mạng, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng tại các nhà trường quân đội trở thành yêu cầu cấp bách. Bài viết phân tích tính tất yếu, nhận diện các thủ đoạn tinh vi nhắm vào đặc thù lực lượng Bộ đội Biên phòng và đề xuất hệ giải pháp xây dựng "Hệ sinh thái số", một mô hình quản trị tư tưởng hiện đại, đa tầng, lấy sự kết hợp giữa công nghệ và bản lĩnh chính trị làm cốt lõi.

Trong kỷ nguyên chuyển đổi số toàn cầu, thế giới đang chứng kiến sự chuyển dịch mạnh mẽ của các hình thái xung đột từ thực địa sang không gian mạng (KGM), nơi được coi là "miền tác chiến thứ năm" bên cạnh đất liền, vùng trời, vùng biển và không gian vũ trụ. Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và công nghệ Deepfake đã biến KGM thành công cụ cho các chiến dịch "chiến tranh tâm lý" với quy mô xuyên biên giới và khó kiểm soát. Việt Nam, với tốc độ phổ cập internet cao, đang là mục tiêu trọng điểm của các thế lực thù địch nhằm thực hiện âm mưu "phi chính trị hóa", "dân sự hóa quân đội", chia rẽ mối quan hệ giữa quân và dân. Đây là loại hình xâm lăng văn hóa, tư tưởng nguy hiểm, đe dọa trực tiếp đến sự ổn định chính trị và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ tổ quốc

Trước thách thức đó, Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị và văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: "Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng... là nhiệm vụ trọng yếu, quyết định sự sống còn của chế độ", bám sát phương châm chủ động phòng ngừa, lấy "xây" để "chống", giữ vững thế chủ động tác chiến trên KGM, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Đối với Học viện Biên phòng, trung tâm đào tạo sĩ quan chỉ huy, quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia, yêu cầu này càng trở nên cấp bách. Đặc biệt trong bối cảnh các thế lực thù địch đang ra sức xuyên tạc về chủ quyền lãnh thổ, kích động ly khai vùng biên trên không gian ảo. Vì vậy, việc xây dựng một "Hệ sinh thái số" vững mạnh tại Học viện chính là lời giải cho bài toán bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trong kỷ nguyên số. "Hệ sinh thái số" không đơn thuần là giải pháp về hạ tầng kỹ thuật, mà phải được xác lập như một 'thiết chế vận hành tư tưởng' trên không gian mạng, là môi trường mạng lưới toàn diện, nơi các chủ thể, con người và công nghệ kết nối đồng bộ để định hướng, củng cố các giá trị của Đảng, tạo ra sự chuyển dịch quyết định từ thế phản ứng bị động sang chủ động làm chủ không gian tư tưởng trong điều kiện chuyển đổi số.

Nhận diện âm mưu và thủ đoạn của các thế lực thù địch trên không gian mạng.

Hoạt động chống phá trên KGM hiện nay không còn mang tính tự phát mà đã phát triển thành các chiến dịch có tổ chức nhằm “thao túng nhận thức xã hội”, gieo rắc hoài nghi và làm xói mòn niềm tin chính trị qua ba phương thức chủ yếu:

Thứ nhất, thao túng thông tin bằng công nghệ số và thuật toán nền tảng. Các đối tượng phản động tận dụng mạng lưới tài khoản ảo (bot) tạo hiệu ứng “đám đông giả”, kết hợp thuật toán đề xuất của các mạng xã hội để khuếch đại thông tin tiêu cực, hình thành các “bong bóng thông tin” một chiều. Đặc biệt, việc ứng dụng Deepfake và AI tạo sinh để cắt ghép, giả mạo hình ảnh, phát ngôn của lãnh đạo đã gia tăng mức độ tinh vi, gây tác động mạnh đến nhận thức xã hội vào các thời điểm nhạy cảm.

Thứ hai, khai thác có chủ đích các “điểm nhạy cảm” về chính trị - xã hội. Các hoạt động tập trung bóp méo, suy diễn các vấn đề có thật như công tác cán bộ, phòng chống tham nhũng, dân tộc, tôn giáo. Riêng địa bàn biên giới, chúng tập trung phủ nhận thành quả quản lý, bảo vệ biên cương, kích động tư tưởng cực đoan trong đồng bào dân tộc thiểu số nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân.

Thứ ba, chuyển hóa phương thức chống phá từ đối đầu trực diện sang “xâm nhập mềm”. Nếu như trước đây, các hoạt động chống phá thường mang tính đối đầu rõ rệt, thì hiện nay xu hướng chủ đạo là “xâm nhập mềm”, thông qua các hình thức như: lan truyền câu chuyện đời tư, giật gân hóa các sự kiện, lợi dụng những người có ảnh hưởng lớn, người nổi tiếng để lồng ghép, xuyên tạc những sự kiện lịch sử hoặc khai thác tâm lý tò mò, hiếu kỳ của người dùng. Các nội dung này thường không mang màu sắc chính trị rõ ràng ngay từ đầu, nhưng thông qua quá trình dẫn dắt, liên kết thông tin, người tiếp nhận dần bị cuốn vào các hệ thống quan điểm sai lệch mà không nhận ra. Đây chính là biểu hiện điển hình của “diễn biến hòa bình” trong môi trường số, nơi ranh giới giữa thông tin đúng và sai ngày càng trở nên mờ nhạt. Đáng lo ngại hơn, các hoạt động chống phá đang từng bước thâm nhập vào môi trường giáo dục, đào tạo trong quân đội, trong đó có các học viện, nhà trường. Nếu không được nhận diện và xử lý kịp thời, đây có thể trở thành nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong.

Cơ sở lý luận và cấu trúc vận hành của hệ sinh thái số trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng tại Học viện Biên phòng

Trên cơ sở nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá ngày càng tinh vi của các thế lực thù địch trên không gian mạng, việc xác lập cơ sở lý luận cho xây dựng và vận hành hệ sinh thái số trở thành vấn đề có ý nghĩa nền tảng, quyết định chất lượng và hiệu lực của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng tại Học viện Biên phòng hiện nay.

Trước hết, cần khẳng định sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam là nguyên tắc mang tính quy luật, được kiểm chứng bằng toàn bộ thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam. Mọi luận điệu đòi “phi chính trị hóa” quân đội là nhằm tách lực lượng vũ trang khỏi mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, từ đó làm suy yếu vai trò nòng cốt của quân đội trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Đối với lực lượng Bộ đội Biên phòng - lực lượng trực tiếp quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia - nguyên tắc này càng có ý nghĩa sống còn, bởi đây chính là nền tảng bảo đảm sự thống nhất giữa bản lĩnh chính trị, ý chí chiến đấu và trách nhiệm thực thi nhiệm vụ của lực lượng.

Hai là, cần làm rõ tính minh bạch của hệ thống chính sách, pháp luật và quy trình tổ chức thực hiện của Nhà nước, nhất là trong các lĩnh vực nhạy cảm như quản lý biên giới, công tác cán bộ, thực thi pháp luật tại địa bàn. Đây là chìa khóa để vô hiệu hóa các luận điệu xuyên tạc, bóp méo nhằm hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước. Do đó, hoạt động đấu tranh phản bác đòi hỏi phải dựa trên dẫn chứng xác thực, lập luận khoa học và khách quan, tránh rơi vào cảm tính hoặc cực đoan.

Ba là, kiên quyết bảo vệ quan điểm nhất quán rằng chủ quyền quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm phạm; đồng thời phải vạch rõ bản chất nguy hiểm của các hành vi lợi dụng lòng yêu nước để kích động tư tưởng cực đoan, gây phương hại đến môi trường hòa bình, ổn định. Đây là yêu cầu đặc biệt quan trọng trong điều kiện thông tin trên không gian mạng rất dễ bị thao túng, cắt ghép và dẫn dắt theo những dụng ý chính trị sai lệch.

Như vậy, đấu tranh trên không gian mạng không chỉ là phản bác các quan điểm sai trái, thù địch mà còn là quá trình củng cố niềm tin, lan tỏa nhận thức đúng đắn và xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng cho cán bộ, giảng viên, học viên. Từ yêu cầu đó, việc hình thành hệ sinh thái số cần được xem như một phương thức tổ chức mới nhằm hiện thực hóa hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong môi trường số.

Học viện Biên phòng là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học hàng đầu của lực lượng Bộ đội Biên phòng, giữ vai trò then chốt trong việc cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia. Với cơ cấu tổ chức chặt chẽ từ Đảng ủy, Ban Giám đốc đến các khoa giảng dạy và đơn vị quản lý học viên, Học viện không chỉ là môi trường giáo dục tri thức quân sự mà còn là nơi rèn luyện bản lĩnh chính trị, tư tưởng cho người sĩ quan biên phòng tương lai. Hệ sinh thái số tại Học viện Biên phòng là một thiết chế vận hành mạng lưới, kết nối đồng bộ giữa con người và công nghệ hiện đại (AI, Big Data) nhằm làm chủ không gian mạng. Đây là môi trường quản trị thông tin đa tầng, giúp nhận diện sớm các thủ đoạn thù địch và lan tỏa các giá trị chính thống một cách hệ thống. Với đặc thù đào tạo sĩ quan biên phòng, hệ sinh thái này đóng vai trò là "lá chắn thép" bảo vệ chủ quyền tư tưởng và hình ảnh "Bộ đội Cụ Hồ" mang quân hàm xanh. Thông qua cơ chế "Xây" để "Chống", Học viện chuyển từ thế phản ứng bị động sang chủ động kiến tạo dư luận tích cực trong kỷ nguyên số.

Để hệ sinh thái số vận hành hiệu quả, trước hết cần xác lập rõ vai trò của các chủ thể tham gia. Trong hệ sinh thái đó, Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện giữ vai trò lãnh đạo, hoạch định tầm nhìn và định hướng chiến lược. Cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện, kiểm tra và kiểm soát quá trình vận hành. Đội ngũ cán bộ, giảng viên là lực lượng kiến tạo nội dung, bổ sung cơ sở lý luận khoa học, trực tiếp tham gia giáo dục, định hướng nhận thức. Học viên, hạ sĩ quan và binh sĩ vừa là đối tượng thụ hưởng vừa là lực lượng thực thi, những “chiến sĩ số” trực tiếp lan tỏa thông tin tích cực và tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái. Chính sự liên kết chặt chẽ giữa các chủ thể này sẽ tạo nên một “thế trận lòng dân” vững chắc trên không gian mạng.

Bên cạnh yếu tố con người, hệ sinh thái số còn đòi hỏi sự tích hợp đồng bộ của các nhóm công cụ nền tảng: Nhóm công cụ thể chế, bao gồm hệ thống quy chế ứng xử trên mạng xã hội, các quy định về bảo mật thông tin, kỷ luật phát ngôn và trách nhiệm sử dụng môi trường số; Nhóm công cụ truyền thông, bao gồm các nền tảng báo chí điện tử, mạng xã hội nội bộ, diễn đàn trao đổi học thuật và các kênh lan tỏa thông tin chính thống; nhóm công cụ công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và các phần mềm phân tích thông tin.

Quá trình vận hành hệ sinh thái số phải tuân thủ chặt chẽ nguyên tắc kết hợp giữa “xây” và “chống”, trong đó lấy “xây” làm nền tảng. Nghĩa là, cùng với việc phát hiện, ngăn chặn và phản bác các thông tin sai trái, cần chủ động xây dựng dòng chảy thông tin tích cực đủ mạnh để dẫn dắt dư luận, lan tỏa giá trị đúng đắn và củng cố niềm tin chính trị. Chỉ khi tạo lập được ưu thế về nội dung, về tốc độ lan truyền và về sức thuyết phục, hệ sinh thái số mới thực sự phát huy vai trò như một lá chắn tư tưởng bền vững.

Với cách tiếp cận đó, hệ sinh thái số tại Học viện Biên phòng không chỉ là mô hình ứng dụng công nghệ trong quản lý thông tin mà còn là một thiết chế phòng thủ tư tưởng có tính chủ động, thích ứng và bền vững. Đây chính là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong điều kiện chuyển đổi số và trước những thách thức ngày càng phức tạp trên không gian mạng hiện nay.


Xây dựng hệ sinh thái số tại Học viện Biên phòng trên cơ sở tiếp cận đồng bộ, lấy con người làm trung tâm.

Trong cuộc đấu tranh tư tưởng trên không gian mạng hiện nay, việc xây dựng hệ sinh thái số tại Học viện Biên phòng không chỉ là yêu cầu mang tính kỹ thuật đơn thuần như ứng dụng các thành tựu công nghệ thông tin vào công tác mà còn là nhiệm vụ chính trị chiến lược. Để hệ sinh thái này thực sự trở thành một chỉnh thể thống nhất, cần tập trung vào các nhóm giải pháp trọng tâm sau:

Một là, tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện, bảo đảm định hướng chính trị xuyên suốt.

Mọi thành công trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của cấp ủy. Do đó, việc xây dựng hệ sinh thái số tại Học viện Biên phòng phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng ủy, Ban Giám đốc, và được cụ thể hóa thành các nghị quyết, kế hoạch hành động sát hợp. Cốt lõi là chuyển từ “ứng phó bị động” sang “chủ động kiến tạo không gian thông tin tích cực”. Cấp ủy, chỉ huy các cấp phải trực tiếp định hướng, kiểm tra, giám sát; đồng thời coi kết quả tham gia xây dựng hệ sinh thái số là tiêu chí đánh giá chất lượng tổ chức đảng, đảng viên. Bên cạnh đó, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn thể cán bộ, giảng viên, học viên. Trong môi trường số, mỗi cá nhân là một “nút mạng” lan tỏa thông tin tích cực, cùng nhau tạo nên “mạng lưới phòng thủ tư tưởng” rộng khắp, phản ứng nhanh và linh hoạt trước mọi tình huống trên không gian mạng.

Hai là, xây dựng trụ cột hạ tầng công nghệ và dữ liệu số làm nền tảng của năng lực số

Nếu lãnh đạo là yếu tố định hướng thì hạ tầng công nghệ chính là “xương sống” bảo đảm cho hệ sinh thái số vận hành hiệu quả. Trong điều kiện hiện nay, Học viện cần từng bước đầu tư, hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật theo hướng đồng bộ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu quản lý và xử lý thông tin trong môi trường số. Phát triển và làm chủ các công cụ hỗ trợ lắng nghe, phân tích thông tin chuyên sâu trên không gian mạng. Chủ động phối hợp chặt chẽ với các đơn vị chuyên trách về tác chiến không gian mạng, đặc biệt là Bộ tư lệnh 86 và Ban Công nghệ thông tin (Bộ tham mưu/BĐBP) tiếp cận và ứng dụng các phần mềm chuyên dụng, thuật toán phân tích dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI) để theo dõi sát sao các xu hướng dư luận liên quan đến lĩnh vực biên giới, chủ quyền lãnh thổ và các hoạt động của lực lượng Bộ đội Biên phòng. Thông qua mạng lưới chia sẻ thông tin và kỹ thuật từ các đơn vị chuyên trách, Học viện có thể kịp thời bóc tách các "ma trận" tin giả, nhận diện các dấu hiệu bất thường hoặc các chiến dịch truyền thông đen có chủ đích từ sớm. điều này mang ý nghĩa chiến lược, giúp chuyển hóa toàn diện trạng thái tác chiến từ “đối phó, ứng phó bị động” sang “chủ động phòng ngừa, ngăn chặn”. Đây không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà còn là sự kết hợp giữa sức mạnh công nghệ của đơn vị chuyên trách với nền tảng lý luận sắc bén của Học viện, tạo thành một hệ thống cảnh báo sớm, ngăn chặn hiệu quả mọi âm mưu xuyên tạc ngay từ khi chúng mới chỉ là mầm mống trên không gian ảo. Song song với đó, cần xây dựng “kho tri thức số” tích hợp văn kiện, tài liệu lý luận, cơ sở pháp lý biên giới để làm vũ khí lý luận sắc bén cho lực lượng tham gia đấu tranh.

Ba là, xây dựng lực lượng “chiến sĩ số” thành trung tâm của hệ sinh thái số.

Đối với Học viện Biên phòng, việc xây dựng lực lượng “chiến sĩ số” không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là nhiệm vụ mang tính chiến lược lâu dài, gắn với mục tiêu đào tạo đội ngũ sĩ quan có năng lực toàn diện trong thời đại số.

Trước hết, cần đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy các môn học liên quan đến công nghệ thông tin, chuyển đổi số theo hướng gắn lý luận với thực tiễn, tăng cường tính ứng dụng, trang bị cho học viên khả năng khai thác, sử dụng hiệu quả các công cụ số phục vụ nhiệm vụ chuyên môn và đấu tranh tư tưởng.

Bên cạnh đó , cần lồng ghép nội dung giáo dục về an ninh mạng, kỹ năng nhận diện thông tin sai lệch, phương pháp phản biện và đấu tranh trên không gian mạng vào chương trình đào tạo một cách có hệ thống, giúp nâng cao “sức đề kháng” trước các tác động tiêu cực và hình thành tư duy chủ động, bản lĩnh trong xử lý thông tin.

Học viện cần chú trọng kiến tạo môi trường thực hành thực chiến thông qua các diễn đàn, cuộc thi sáng tạo và hệ thống truyền thông nội bộ đa tầng. Trọng tâm của giải pháp này là khuyến khích học viên trực tiếp tham gia xây dựng và lan tỏa nội dung tích cực, hình ảnh "Bộ đội Cụ Hồ" thời đại mới thông qua các sản phẩm đa phương tiện hiện đại như: video ngắn (Shorts/TikTok), infographics, podcast và các bài viết nghị luận sắc bén trên báo, tạp chí chuyên ngành. Học viên không chỉ dừng lại ở việc tiếp nhận thông tin mà phải được rèn luyện kỹ năng biên tập, thiết kế và quản trị các trang mạng xã hội để chủ động chia sẻ, kết nối các nguồn tin chính thống từ các cơ quan báo chí Quân đội và Đảng. Việc thiết lập các "Câu lạc bộ chiến sĩ số" hay "Nhóm tác chiến không gian mạng" tại cấp tiểu đoàn sẽ tạo ra không gian để học viên rèn luyện bản lĩnh phát ngôn, kỹ năng nhận diện và trực tiếp phản bác các luận điệu sai trái ngay trên thực địa ảo. Họ chính là những “hạt nhân nòng cốt” trong hệ sinh thái số của Học viện, sở hữu năng lực "kép": vừa phòng thủ vững chắc trước sự tấn công tư tưởng, vừa chủ động tấn công, "phủ xanh" không gian mạng bằng dòng chảy thông tin tích cực, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ trên cả thực địa và không gian ảo.

 Bốn là, hoàn thiện cơ chế khuyến khích và chế tài, bảo đảm tính bền vững

Trước hết, cần xây dựng các tiêu chí đánh giá cụ thể đối với hoạt động tham gia đấu tranh trên không gian mạng của cán bộ, giảng viên, học viên, qua đó đưa nội dung này trở thành một phần trong hệ thống thi đua, khen thưởng. Việc khen thưởng cần được thực hiện kịp thời, đúng đối tượng, tạo động lực thúc đẩy các cá nhân, tập thể tích cực tham gia xây dựng môi trường thông tin lành mạnh. Đồng thời, chú trọng phát hiện, nhân rộng các mô hình hay, cách làm sáng tạo, góp phần lan tỏa hiệu ứng tích cực trong toàn Học viện. Song song với đó, phải thực hiện nghiêm các quy định về kỷ luật phát ngôn, quy tắc ứng xử trên mạng xã hội. Các hành vi vi phạm, đặc biệt là những biểu hiện lệch chuẩn về nhận thức, tiếp tay cho thông tin sai trái, cần được xử lý kịp thời, nghiêm minh. Đây không chỉ là biện pháp răn đe mà còn là yếu tố bảo đảm tính thống nhất, kỷ cương trong toàn hệ thống.

Trong kỷ nguyên số, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không còn là một mặt trận biệt lập mà đã dịch chuyển mạnh mẽ, hòa quyện vào không gian mạng. Đối với Học viện Biên phòng, việc xây dựng và vận hành "Hệ sinh thái số" không chỉ đơn thuần là một giải pháp kỹ thuật nhằm ứng phó với các thách thức công nghệ, mà là một lựa chọn mang tính chiến lược, một thiết chế phòng thủ tư tưởng chủ động nhằm thiết lập và giữ vững thế trận lòng dân trên không gian ảo. Để hệ sinh thái số thực sự trở thành "lá chắn thép", cần có sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, từ vai trò "cầm lái" của Đảng ủy đến sự dẫn dắt chuyên sâu của đội ngũ trí thức và tinh thần xung kích của lực lượng học viên - những "chiến sĩ số" trên tuyến đầu. Những sỹ quan Biên phòng tương lai không chỉ vững vàng nơi đầu sóng ngọn gió trên thực địa, mà phải thực sự trở thành những "pháo đài tư tưởng" kiên trung trên không gian mạng. Đó chính là chìa khóa then chốt để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần bảo vệ Tổ quốc "từ sớm, từ xa" trong một thế giới đầy biến động của kỷ nguyên số hóa

                          Thượng tá Hoàng Thị Mỹ - PTBM Khoa KHCB

 

Đọc tiếp »

Triết lý Hồ Chí Minh trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng ta, dân tộc ta hệ thống triết lý có giá trị và sức sống bền vững, trong đó có ba triết lý mang tính trụ cột: Vì dân, hành động, sáng tạo. Đại hội XIV của Đảng đã kiên định, vận dụng sáng tạo những triết lý của Người: Vì dân mà hành động, hành động phải sáng tạo, sáng tạo để đưa đất nước Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Triết lý vì Dân

Triết lý vì Dân không chỉ là điểm khởi đầu mà còn là đích đến xuyên suốt của toàn bộ tư duy và hành động cách mạng Hồ Chí Minh. Người khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân” 1. Nhân dân vừa là chủ thể của quyền lực, vừa là mục tiêu tối thượng của sự nghiệp cách mạng.

Triết lý vì dân theo Hồ Chí Minh là “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”2. Ở đây, Người đã đặt ra một chuẩn mực giá trị vượt thời đại: độc lập dân tộc phải gắn liền với đời sống thực chất của Nhân dân. Nhân dân là lực lượng tiến hành cách mạng, đồng thời được thụ hưởng thành quả cách mạng. Vì thế phải luôn trọng dân, tin dân, dựa vào dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Triết lý vì Dân không chỉ là yêu cầu phẩm chất chính trị mà còn trở thành chân lý “việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh” của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Có thể nói, đây là triết lý cốt lõi, bền vững, mang giá trị nền tảng, làm nên bản chất cách mạng, nhân văn và sức sống bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định và làm sâu sắc hơn triết lý vì dân của Hồ Chí Minh, thể hiện trong tư duy phát triển và mục tiêu chiến lược. Tư tưởng chỉ đạo có tính nhất quán coi con người là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu và là động lực của sự phát triển. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, gắn tăng trưởng kinh tế với nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân, tăng trưởng gắn liền với phúc lợi xã hội và bảo vệ môi trường.

Văn kiện Đại hội đặt yêu cầu rất cao trong việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với trách nhiệm trước Nhân dân. Tiếp tục nhấn mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xây dựng đội ngũ cán bộ có Đức - Sức - Tài, chính là sự vận dụng trực tiếp triết lý vì Dân vào công tác xây dựng Đảng trong điều kiện mới. Tổng Bí thư Tô Lâm nhiều lần khẳng định, mục tiêu cao nhất của công cuộc chỉnh đốn Đảng là để Đảng trong sạch, vững mạnh hơn, xứng đáng với niềm tin, kỳ vọng của Nhân dân.

Triết lý hành động

Một trong những giá trị đặc sắc làm nên sức sống thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh chính là triết lý hành động, coi hành động cách mạng là thước đo chân lý của tư tưởng, là nơi thể hiện rõ nhất bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và trách nhiệm trước Nhân dân. Với Hồ Chí Minh, tư tưởng thống nhất hành động, lý luận gắn liền thực tiễn, lời nói đi đôi với việc làm. Theo Người “một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”3. Triết lý ấy thể hiện quan niệm rất hiện đại: sức thuyết phục của Đảng không nằm ở lời nói, mà ở kết quả hành động cụ thể trong thực tiễn. Đặc biệt, đề cao tính quyết đoán, kịp thời trong hành động cách mạng, phải “có gan phụ trách, có gan làm việc”4, tuyệt đối tránh “xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh”5.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng thể hiện rõ sự kế thừa và phát triển triết lý hành động Hồ Chí Minh, đặc biệt trong yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo và tổ chức thực hiện. Đảng đã nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ chủ trương đúng sang hành động hiệu quả; từ nói, ban hành nghị quyết sang làm và làm đến cùng; coi kết quả thực tiễn với những sản phẩm cụ thể là tiêu chí đánh giá năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng. Theo đó, yêu cầu cao hơn đối với kỷ luật, kỷ cương, trách nhiệm, nêu gương. Khi rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm thì sẽ tránh được tình trạng né tránh, đùn đẩy, hình thức.

Trong các phát biểu chỉ đạo gần đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu hành động quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, “biến ý chí thành hành động, biến quyết sách thành kết quả cụ thể; nói là làm, làm ngay, làm đúng, làm quyết liệt, làm đến cùng và làm hiệu quả”6. Quan điểm này thể hiện rõ sự kế thừa triết lý hành động của Hồ Chí Minh trong điều kiện mới, đồng thời đáp ứng đòi hỏi cấp bách của sự nghiệp phát triển đất nước. Có thể thấy, triết lý hành động Hồ Chí Minh là “chìa khóa” bảo đảm cho các quyết sách của Đại hội XIV không dừng lại ở tầm định hướng, mà trở thành sức mạnh vật chất trong đời sống xã hội, nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống, tạo niềm tin và sự đồng thuận xã hội.

Triết lý sáng tạo

Triết lý sáng tạo Hồ Chí Minh giữ vị trí đặc biệt quan trọng, thể hiện tầm nhìn, bản lĩnh, tự chủ của một nhà cách mạng lớn. Sáng tạo trên nền tảng kiên định mục tiêu chiến lược, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Người chỉ rõ: “xem xét kỹ lưỡng hoàn cảnh thiết thực của nước ta” kết hợp nhuần nhuyễn giữa chiến lược và sách lược cách mạng với phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”; kiên định mục tiêu chiến lược nhưng linh hoạt về sách lược, phương pháp. Chính sự sáng tạo ấy đã làm nên những quyết sách mang tính đột phá trong lịch sử cách mạng Việt Nam.

Đại hội XIV của Đảng đã thể hiện rõ triết lý sáng tạo Hồ Chí Minh, đặc biệt trong cách tiếp cận các vấn đề phát triển đất nước trong bối cảnh mới. Nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, hoàn thiện thể chế, phát huy tối đa nguồn lực, coi khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực phát triển mạnh mẽ đất nước. Con đường và mô hình phát triển trên mảnh đất thực tiễn Việt Nam, phù hợp xu thế thời đại.

Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy, cách làm, coi sáng tạo là điều kiện tiên quyết để đất nước bứt phá trong giai đoạn mới. Tinh thần xuyên suốt là “Phải tiếp tục đổi mới tư duy, đổi mới mô hình phát triển, mô hình tăng trưởng, đổi mới biện pháp tổ chức thực hiện, để đường lối đúng trở thành kết quả cụ thể trong cuộc sống”7. Văn kiện Đại hội XIV không chỉ thể hiện bản lĩnh trí tuệ của Đảng, mà còn mở ra những không gian phát triển mới, tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên mới./.


1Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2011, tr.232.

2Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2011, tr.64.

3Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2011, tr.284.

4Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tr.320.

5Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tr.547.

6,7Tuoitre.vn (19h08, ngày 23/01/2026). Toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại bế mạc Đại hội Đảng XIV.

Thiếu tá Nguyễn Thị Thanh Thuận - Khoa CTĐ, CTCT, Học viện biên phòng

 

Đọc tiếp »

Học tập, thực hành phong cách làm việc khoa học của Hồ Chí Minh, xây dựng đội ngũ sĩ quan trẻ ở đơn vị cơ sở Bộ đội Biên phòng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới

 

Phong cách Hồ Chí Minh là sự kết tinh những giá trị tư tưởng, đạo đức và văn hóa của dân tộc Việt Nam với tinh hoa văn hóa nhân loại, được thể hiện sinh động trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Trong đó, phong cách làm việc khoa học là một nội dung đặc biệt quan trọng, phản ánh tư duy biện chứng, phương pháp lãnh đạo sâu sát thực tiễn, làm việc có kế hoạch, có mục tiêu, nói đi đôi với làm, thường xuyên kiểm tra, tổng kết thực tiễn và không ngừng đổi mới, sáng tạo. Đây là những giá trị có ý nghĩa bền vững, là chuẩn mực để đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là sĩ quan trẻ Bộ đội Biên phòng học tập, vận dụng trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ.


Trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới” đòi hỏi việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh phải chuyển mạnh sang thực hành thường xuyên, tự giác, thiết thực; gắn với chất lượng, hiệu quả thực thi nhiệm vụ và kết quả phục vụ Nhân dân. Đối với đội ngũ sĩ quan trẻ ở đơn vị cơ sở Bộ đội Biên phòng - lực lượng trực tiếp công tác ở khu vực biên giới, giữ vai trò nòng cốt trong quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia - việc học tập và thực hành phong cách làm việc khoa học của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng có ý nghĩa thiết thực, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, tổ chức thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện mới.

Phong cách làm việc khoa học của Hồ Chí Minh trước hết thể hiện ở tư duy làm việc có mục tiêu, có kế hoạch và xác định đúng trọng tâm, trọng điểm. Người luôn căn dặn cán bộ, trong công việc phải biết sắp xếp thời gian hợp lý, xây dựng kế hoạch thực hiện phải xác định mục đích rõ ràng, tránh chung chung không có trọng tâm, trọng điểm. Người cho rằng tính khoa học trong công việc trước hết, thể hiện ở việc quý trọng thời gian, giờ nào việc ấy; làm việc phải có mục tiêu rõ ràng, tập trung; chương trình, kế hoạch đặt ra phải phù hợp. Hồ Chí Minh luận giải: “Đích nghĩa là nhằm vào đó mà bắn. Nhiều đích quá thì loạn mắt, không bắn trúng đích nào”1. Người phê phán những cán bộ, đảng viên vạch ra “Chương trình công tác thì quá rộng rãi mà kém thiết thực”2. Theo quan điểm của Người, để vạch kế hoạch một cách thực sự khoa học, người cán bộ phải “xét kỹ hoàn cảnh mà sắp đặt công việc cho đúng. Việc chính, việc gấp thì làm trước. Không nên luộm thuộm, không có kế hoạch, gặp việc nào, làm việc ấy, thành thử việc nào cũng là việc chính, lộn xộn, không có ngăn nắp”3. Hồ Chí Minh đặc biệt lưu ý tới đặc điểm, tình hình cụ thể và nhiệm vụ trọng tâm của cách mạng trong từng giai đoạn để sắp xếp kế hoạch công việc một cách hợp lý theo hướng việc quan trọng, cấp bách thì làm trước, việc chưa gấp thì làm sau nhưng không coi nhẹ bất cứ việc nào và luôn hướng tất cả các công việc tới một mục tiêu là góp phần thực hiện có hiệu quả mục tiêu, nhiệm vụ chung của cách mạng.

Phong cách làm việc khoa học của Người còn thể hiện ở tinh thần nói đi đôi với làm, đề cao trách nhiệm cá nhân, quyết tâm thực hiện nhiệm vụ đến cùng. Hồ Chí Minh luôn phê phán bệnh hình thức, làm việc qua loa, báo cáo không đúng thực chất hoặc thiếu kiểm tra kết quả thực hiện. Người yêu cầu cán bộ, đảng viên phải xác định rõ quyết tâm đối với từng công việc cụ thể, từ đó đề ra các biện pháp phù hợp để thực hiện. Người vạch rõ: Chủ trương một, biện pháp mười, quyết tâm phải hai, ba mươi. Nghĩa là, việc xác định chủ trương, xây dựng kế hoạch mới chỉ là bước đầu, sau khi đã có kế hoạch công tác thì người cán bộ, đảng viên phải có quyết tâm thực hiện và phải thực hiện đến nơi, đến chốn, không được đánh trống bỏ dùi. Người đã nhiều lần phê bình bệnh hữu danh vô thực ở không ít cán bộ: “Làm cho có chuyện, làm lấy rồi. Làm được ít suýt ra nhiều, để làm một bản báo cáo cho oai, nhưng xét kỹ lại thì rỗng tuếch… Thế là dối trá với Đảng, có tội với Đảng. Làm việc không thiết thực, báo cáo không thật thà, cũng là một bệnh rất nguy hiểm”4. Theo Hồ Chí Minh, để có được quyết tâm đối với công việc, người cán bộ, đảng viên phải thấy được vinh dự, tự hào và trách nhiệm của bản thân, ý thức được từng công việc cụ thể mà mình thực hiện đều có ảnh hưởng ở mặt này hay mặt khác tới lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, niềm tin của Nhân dân. Từ đó, tích cực khắc phục những biểu hiện hình thức, chạy theo thành tích; coi trọng phát huy vai trò của tập thể, tính năng động, sáng tạo của từng cá nhân nhằm tìm ra nhiều biện pháp hữu hiệu trong thực hiện các kế hoạch công việc đã đề ra.

Một nội dung quan trọng khác trong phong cách làm việc khoa học của Hồ Chí Minh là luôn bám sát thực tiễn, gần gũi quần chúng, tôn trọng tập thể và phát huy trí tuệ của mọi người. Theo Hồ Chí Minh, phong cách làm việc khoa học của người cán bộ, đảng viên còn thể hiện ở sự am hiểu của họ đối với cấp dưới, biết bố trí, sắp xếp đúng người, đúng việc. Hồ Chí Minh cho rằng một cán bộ làm việc khoa học, hiệu quả phải là người hiểu rõ năng lực của cấp dưới, am hiểu sở trường, sở đoạn, tâm lý, tính cách của cấp dưới, từ đó mà bố trí, sử dụng người cho đúng, chớ “dùng thợ mộc làm nghề thợ rèn”5. Hồ Chí Minh chỉ rõ: Khi giao công việc cho cấp dưới phải rõ ràng đầy đủ, phải dự báo được những tình huống có thể xảy ra cho cấp dưới và phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện của cấp dưới. Việc kiểm tra, đôn đốc công việc thường xuyên một mặt thể hiện tác phong sâu sát, khắc phục được sự quan liêu xa rời thực tiễn của cán bộ, mặt khác sẽ bảo đảm cho công việc được tiến hành đúng hướng, đúng kế hoạch, phát hiện kịp thời những vướng mắc để giải quyết. Nhấn mạnh tới vấn đề này, Hồ Chí Minh đã thẳng thắn phê bình tình trạng “cán bộ lãnh đạo chỉ lo khai hội và thảo nghị quyết, đánh điện và gửi chỉ thị, sau đó, thì họ không biết gì đến những nghị quyết đó đã thực hành đến đâu, có những sự khó khăn trở ngại gì, dân chúng có ra sức tham gia hay không. Họ quên mất kiểm tra. Đó là một sai lầm rất to. Vì thế mà “đầy túi quần thông cáo, đầy túi áo chỉ thị” mà công việc vẫn không chạy”6.

Phong cách làm việc khoa học của Hồ Chí Minh còn thể hiện ở việc coi trọng sơ kết, tổng kết và rút kinh nghiệm. Hồ Chí Minh cho rằng, phong cách làm việc khoa học còn đòi hỏi người cán bộ, đảng viên phải biết rút kinh nghiệm, sử dụng kinh nghiệm đó để thực hiện công việc trôi chảy hơn, hiệu quả hơn, tránh lặp lại các sai lầm đã mắc phải. Theo quan điểm của Người, mỗi cán bộ, đảng viên sau mỗi một việc cụ thể cần phải rút kinh nghiệm tận gốc để tìm ra những điểm tốt mà phát huy, những điểm còn tồn tại mà khắc phục. Mặt khác, phải phổ biến những kinh nghiệm của mình cho tất cả cán bộ và cho dân chúng hiểu. Mỗi cán bộ, đảng viên phải học hỏi những kinh nghiệm hay, tránh những kinh nghiệm dở, áp dụng những kinh nghiệm cũ vào những công việc mới. Hồ Chí Minh phê phán lối làm việc “không biết nghiên cứu đến nơi, đến chốn…, để mà học kinh nghiệm, để mà đặt ra khuôn phép cho công việc khác. Thành thử những cái tốt, cái hay đều không phát triển được. Và công việc xong rồi là thôi, cán bộ không học được kinh nghiệm gì, mà cũng không tiến bộ được mấy”7. Người nhắc nhở: “công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái chìa khoá phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới8.

Thời gian qua, đa số sĩ quan trẻ Bộ đội Biên phòng đã có nhận thức đúng đắn về ý nghĩa của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tích cực rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, tinh thần trách nhiệm và tác phong công tác; chủ động nghiên cứu, học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; phát huy tinh thần xung kích, sáng tạo, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Nhiều đồng chí đã thể hiện phong cách làm việc khoa học, sâu sát cơ sở, chủ động ứng dụng công nghệ số trong quản lý, điều hành công việc, góp phần nâng cao chất lượng tham mưu, chỉ huy và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia.

Tuy nhiên, trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng Quân đội, xây dựng Bộ đội Biên phòng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, việc học tập và thực hành phong cách làm việc khoa học của một bộ phận sĩ quan trẻ vẫn còn những mặt cần tiếp tục hoàn thiện. Một số đồng chí kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều nên phương pháp tổ chức công việc có lúc còn thiếu tính khoa học; việc xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đôn đốc và tổng kết, rút kinh nghiệm chưa thật chặt chẽ; khả năng dự báo, xử lý những tình huống mới, nhất là trong môi trường chuyển đổi số còn có hạn chế nhất định. Những biểu hiện đó tuy không phổ biến nhưng nếu không được khắc phục sẽ ảnh hưởng đến chất lượng tham mưu, chỉ huy và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ.

Để đẩy mạnh học tập, thực hành phong cách làm việc khoa học của Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới, đội ngũ sĩ quan trẻ Bộ đội Biên phòng cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung chủ yếu sau:

Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức về giá trị tư tưởng, đạo đức, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh; quán triệt sâu sắc Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị, coi việc học tập và thực hành phong cách làm việc khoa học là yêu cầu thường xuyên trong rèn luyện phẩm chất, năng lực và phương pháp công tác của người sĩ quan trẻ.

Hai là, xây dựng phong cách làm việc khoa học thông qua thực tiễn công tác và thực hiện nhiệm vụ. Mỗi sĩ quan trẻ phải rèn luyện tư duy khoa học, làm việc theo kế hoạch, đúng quy trình, đúng nguyên tắc; chủ động đổi mới phương pháp làm việc, nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ số, phát huy tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, lấy hiệu quả công việc làm thước đo kết quả học tập và làm theo Bác.

Ba là, tăng cường bám đơn vị, bám địa bàn, gần gũi cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết và rút kinh nghiệm; kịp thời phát hiện, nhân rộng những mô hình, cách làm hay; đồng thời, khắc phục những hạn chế trong phương pháp, tác phong công tác, từng bước hình thành phong cách làm việc chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng yêu cầu xây dựng Bộ đội Biên phòng trong thời kỳ mới.

Học tập và thực hành phong cách làm việc khoa học của Hồ Chí Minh không chỉ là yêu cầu chính trị mà còn là con đường trực tiếp nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ huy, quản lý và tổ chức thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ sĩ quan trẻ Bộ đội Biên phòng. Mỗi sĩ quan trẻ cần biến những lời dạy của Bác thành hành động cụ thể trong từng công việc hằng ngày; không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, phương pháp và phong cách công tác khoa học, góp phần xây dựng Bộ đội Biên phòng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia trong giai đoạn phát triển mới./.

Tài liệu tham khảo

1,2,3,4,5,6,7,8. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 463, 463, 332, 297, 636, 637, 282, 283.

Thượng tá Dương Ngọc Thưởng, giảng viên Khoa Công tác đảng, công tác chính trị, Học viện Biên phòng.

Đọc tiếp »

Phát huy vai trò thanh niên Quân đội trong đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới

 


Những năm qua, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành việc làm thường xuyên, liên tục, là tình cảm, trách nhiệm của cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Là lực lượng đông đảo của Quân đội, đồng thời là một bộ phận ưu tú của thanh niên Việt Nam, thanh niên Quân đội luôn là lực lượng xung kích trong bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, sẵn sàng nhận nhiệm vụ nơi biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa; đi đầu trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ, sẵn sàng có mặt ở những nơi xung yếu, hiểm nguy để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, góp phần tô thắm và lan tỏa phẩm chất, hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Phát huy tinh thần nhiệt huyết và khát vọng cống hiến của tuổi trẻ, thanh niên Quân đội luôn sẵn sàng, tự tin vững bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã thấm sâu vào trong nhận thức, tư tưởng, hành động, trở thành việc làm thường xuyên, tự giác của mỗi cán bộ, chiến sĩ thanh niên Quân đội. Thanh niên Quân đội đã không ngại khó khăn, gian khổ, tất cả vì nhân dân, kịp thời có mặt ở những nơi gian khó, là lực lượng xung kích, nòng cốt, hoàn thành tốt nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn...Thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, triển khai có hiệu quả các phong trào thi đua….Những việc làm thiết thực nêu trên đã góp phần tăng cường mối quan hệ mật thiết quân - dân, củng cố sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc và niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, Quân đội. Tiếp tục khẳng định vai trò của Quân đội là “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất”, xây dựng “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc và làm ngời sáng phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

Hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc đang đặt ra những yêu cầu và nhiệm vụ mới, bên cạnh thuận lợi, còn có không ít khó khăn, thách thức: các thế lực thù địch tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước bằng âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” Quân đội; mặt trái kinh tế thị trường, các hiện tượng tiêu cực của đời sống xã hội đang hàng ngày, hàng giờ tác động đến tư tưởng nhận thức của cán bộ, chiến sĩ quân đội nói chung, thanh niên Quân đội nói riêng. Đphát huy tốt hơn nữa vai trò thanh niên Quân đội trong đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, cần tập trung tiến hành tốt một số biện pháp cơ bản sau:

Một là, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, thanh niên Quân đội về giá trị, ý nghĩa to lớn của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. 

Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong Đảng bộ Quân đội tiếp tục quán triệt sâu sắc các chỉ thị, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong tình hình mới gắn với nghiên cứu, quán triệt, học tập và thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII và nghị quyết của cấp ủy đảng các cấp cho thanh niên Quân đội. Tiếp tục thực hiện tốt Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; hưởng ứng tích cực phong trào Thi đua yêu nước, các cuộc vận động của các cấp, ngành của Trung ương và địa phương; đẩy mạnh Phong trào Thi đua Quyết thắng, các cuộc vận động trong Quân đội, nhất là Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, tạo phong trào hành động cách mạng sâu, rộng, thu hút cán bộ, đảng viên, thanh niên Quân đội tu dưỡng, rèn luyện, học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Qua đó, làm cho thanh niên Quân đội nhận thức sâu sắc về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, làm động lực to lớn để thanh niên Quân đội tu dưỡng, rèn luyện trở thành con người mới vừa “hồng”, vừa “chuyên”, sẵn sàng vượt qua khó khăn, thử thách trong thực hiện nhiệm vụ cũng như đủ sức đề kháng với “tư tưởng thuật toán” mà các thế lực thù địch thường lợi dụng để tuyên truyền trong giới trẻ hòng hạ thấp uy tín, vai trò của cá nhân lãnh tụ. Góp phần xây dựng thanh niên Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, xứng đáng là lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành của Tổ quốc, của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

Hai là, đổi mới nội dung, hình thức học tập, tuyên truyền về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cho thanh niên Quân đội

Các cơ quan, đơn vị chủ động nghiên cứu, biên soạn các chuyên đề học tập hằng năm có nội dung phù hợp, sát thực tiễn, nhiệm vụ của Quân đội, cơ quan, đơn vị. Tích cực đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tuyên truyền; chú trọng tuyên truyền gương “người tốt, việc tốt”, những kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo, có hiệu quả trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ; nhân rộng gương điển hình tiêu biểu xuất sắc ở từng cơ quan, đơn vị và toàn quân trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Qua đó, làm cho việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thực sự đi vào đời sống, gần gũi với thanh niên Quân đội. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục; tăng cường bồi đắp lý tưởng cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, khát vọng cống hiến, ý thức trách nhiệm, phẩm chất đạo đức, lối sống cho thanh niên Quân đội. Tổ chức tốt sinh hoạt chính trị, phát huy giá trị văn hóa "Bộ đội Cụ Hồ" thời kỳ mới gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng ý thức chấp hành pháp luật, kỷ luật Quân đội cho thanh niên Quân đội. Kết hợp linh hoạt, sáng tạo các hình thức giáo dục; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông số, tương tác trực tiếp và trực tuyến. Chú trọng nắm bắt, dự báo tình hình tư tưởng, định hướng dư luận xã hội trong thanh niên; chủ động, tích cực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, âm mưu “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” Quân đội. Quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho thanh niên Quân đội, nhất là ở đơn vị huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

Cụ thể hóa nội dung tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các chuẩn mực “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới sát với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị và chức trách, nhiệm vụ của thanh niên. Đây là biện pháp quan trọng để thúc đẩy thanh niên Quân đội chuyển từ “học tập” sang “làm theo” Bác bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, hướng vào thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Các cấp ủy, tổ chức đảng căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và thực tiễn để xây dựng kế hoạch học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cho thanh niên sao cho phù hợp, có hiệu quả. Tổ chức đăng ký, cam kết tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu theo chuẩn mực “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới bảo đảm nghiêm túc, chặt chẽ ở mỗi cấp và từng cán bộ, đảng viên, thanh niên. Đồng thời, lấy kết quả học tập và làm theo Bác là một tiêu chí để đánh giá, xếp loại chất lượng đảng viên cho thanh niên Quân đội.

Ba là, đẩy mạnh các phong trào hành động cách mạng của tuổi trẻ Quân đội, gắn với các cuộc vận động của Đảng, Nhà nước, Quân đội, Trung ương Đoàn. 

Trong phong trào hoạt động của tuổi trẻ cả nước nói chung, tuổi trẻ Quân đội nói riêng, thông qua thực tiễn để rèn luyện, tạo điều kiện cho đoàn viên, thanh niên Quân đội học tập, công tác, cống hiến là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết. Do đó, chỉ huy các cấp cần lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh phong trào “Thanh niên Quân đội rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới” bằng những nội dung, chỉ tiêu, hành động cụ thể, hiệu quả; trong đó, tập trung xây dựng hình mẫu thanh niên Quân đội: “Khát vọng đẹp - Trách nhiệm cao; Học tập tốt - Hành động giỏi; Đoàn kết tốt - Kỷ luật nghiêm”. Phát huy tinh thần xung kích, sáng tạo của tuổi trẻ, tích cực học tập, rèn luyện, nghiên cứu khoa học và áp dụng thành tựu khoa học, công nghệ vào hoạt động quân sự; nắm vững tri thức, làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật; xung kích, sáng tạo để đột phá trong nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và lao động sản xuất với tinh thần: “Đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”, sẵn sàng là lực lượng nòng cốt, xung kích, đi đầu trong bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng và thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của Quân đội, nhất là ở những nơi khó khăn, gian khổ, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

Bốn là, nâng cao ý thức, trách nhiệm “tự soi, tự sửa” trong quá trình tu dưỡng và rèn luyện đạo đức, lối sống của thanh niên Quân đội.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Theo đó, thanh niên Quân đội cần nêu cao tinh thần tự giác, trung thực và thẳng thắn, “tự soi” mình để nhận rõ những hạn chế, khuyết điểm, đặc biệt là trong tư tưởng, lối sống của bản thân. Từ đó, chủ động “tự sửa”, ngăn chặn, đẩy lùi và loại bỏ những hành vi và suy nghĩ không phù hợp với chuẩn mực đạo đức cách mạng, giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ”. Hiện nay, trước tác động cả tích cực và tiêu cực của nền kinh tế thị trường, sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt trên không gian mạng,… mỗi thanh niên Quân đội cần nêu cao tính tự giác, tu dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, tạo cơ sở cho bản lĩnh, trí tuệ, khát vọng của thanh niên Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh không ngừng vươn cao. Tiếp tục đẩy mạnh phong trào "Thanh niên Quân đội thi đua rèn đức, luyện tài, xung kích, sáng tạo, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ". Phong trào thanh niên là một bộ phận của phong trào thi đua quyết thắng của đơn vị, do đó, Đoàn Thanh niên phải thường xuyên tổ chức phong trào thi đua để giáo dục, động viên thanh niên xung kích, sáng tạo trong mọi hoạt động của đơn vị, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả huấn luyện, học tập, công tác, lao động sản xuất, góp phần tích cực vào việc hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của quân đội trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Tài liệu tham khảo

1. Quân ủy Trung ương, Chỉ thị số 87-CT/QUTW ngày 08/7/2016 về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong Đảng bộ Quân đội và toàn quân”.

2. Quân ủy Trung ương, Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28/12/2021 về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới.

3. Bộ Chính trị (khóa XIII), Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, H. 2011.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIItập I, tập II, Nxb CTQGST, H. 2021.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, tập II, Nxb CTQGST, H. 2026.

Thượng tá Lê Thị An, Khoa Lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Biên phòng

 

Đọc tiếp »

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về “Đức” và “Tài” vào bồi dưỡng phẩm chất, năng lực cho đội ngũ sĩ quan trẻ ở đồn Biên phòng hiện nay

  Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại của Đảng Cộng sản Việt Nam và dân tộc Việt Nam, người Cha thân yêu của lực lượng vũ trang nhân dân. ...