Các thế
lực thù địch vẫn ráo riết tìm mọi cách phá hoại nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, trong đó luận điệu “chủ nghĩa xã hội dân chủ” được chúng ra
sức truyền bá, tung hô, ca ngợi và ra sức rêu rao rằng, chỉ có “chủ nghĩa xã
hội dân chủ” của đảng dân chủ xã hội mới thật sự "dân chủ”, còn nền dân
chủ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng và các đảng cộng sản
nói chung tiến hành xây dựng không thể có dân chủ - đó là thuật “nguỵ biện” của
các thế lực thù địch.
Lịch sử ra đời của “chủ nghĩa xã hội dân chủ” bắt nguồn từ chủ nghĩa
Cantơ mới mà nội dung của chủ nghĩa này là truyền bá chủ nghĩa xã hội đạo đức.
Theo quan niệm này, chủ nghĩa xã hội là một lý tưởng đạo đức. Vì vậy, vấn đề
cải tạo xã hội theo chủ nghĩa xã hội chủ yếu là vấn đề đạo đức. Về mặt lý luận,
đại diện của nó là “chủ nghĩa Becstanh” và “chủ nghĩa Causky” - một thứ chủ
nghĩa cải lương.
Nhìn lại thời kỳ cách mạng dân chủ tư sản ở châu Âu, thấy rằng, năm 1848, Ở
Đức xuất hiện nhóm “Thợ thuyền anh em”, tự xưng là những người chủ nghĩa xã hội
dân chủ. Họ nêu ra một số cải cách
xã hội, nhưng vẫn chưa vượt ra khỏi yêu cầu cải lương của giai cấp tư sản và
tiểu tư sản lúc bấy giờ. Năm 1849, xuất hiện Đảng Dân chủ xã hội Pháp. Chủ
trương, đường lối của Đảng này là xây dựng nhà nước cộng hoà của giai cấp tư
sản, thực hiện một số thay đổi nào đó trong khuôn khổ chủ nghĩa tư bản. Vào
thời điểm này, tuy thế giới chưa xuất hiện đảng cộng sản, nhưng C.Mác và
Ph.Ăngghen đã sáng lập ra chủ nghĩa cộng sản khoa học. Những lý luận đầy sức
thuyết phục của C.Mác và Ph.Ăngghen nêu trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đã
làm cho những người theo chủ nghĩa xã hội dân chủ phải suy nghĩ. Trong giai
đoạn đầu, C.Mác và Ph.Ăngghen chủ trương tiến hành triệt để cuộc cách mạng dân
chủ tư sản, tiến tới quá độ lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Từ đó, khái niệm
“chủ nghĩa xã hội dân chủ” vừa xuất hiện đã có sự nhận thức khác nhau và sự
phân biệt về nguyên tắc giữa cách mạng và cải lương. Sự khác nhau cơ bản của
hai xu hướng này ở chỗ: Có phải chỉ
cần hoàn thành cách mạng dân chủ tư sản, xây dựng nhà nước cộng hoà tư sản mà
không cần phải tiếp tục tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa không? Có phải chỉ cần dựa vào nhà nước tư sản thông qua
biện pháp “dân chủ” là có thể thoát khỏi sự nô dịch và bóc lột của tư bản,
giành quyền bình đẳng không? Câu trả lời: Không. Bởi vì, trong thực tế các cuộc
cách mạng tư sản ở châu Âu (1848 - 1849)
đã chứng minh một khi giai cấp tư sản nắm được chính quyền, củng cố được sự
thống trị của mình, lập tức dùng vũ lực phủ quyết các đòi hỏi của giai cấp công
nhân. C.Mác và Ph.Ăngghen thấy lập trường chính trị và khuynh hướng của những
người tham gia đảng xã hội dân chủ rất khác nhau. Nhiều người nhận thức về “chủ
nghĩa xã hội dân chủ” hoàn toàn khác với chủ nghĩa cộng sản. Vì vậy, hai ông đã
uốn nắn những nhận thức sai lệch của những người theo “chủ nghĩa xã hội dân chủ”
trước việc cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới.
Từ cuối những năm 80 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa Mác được truyền bá ngày
càng rộng rãi trên trường chính trị quốc tế và trong phong trào công nhân các
nước, thực tế đã giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa cải
lương và chủ nghĩa cơ hội, dần dần trở thành hình thái ý thức tư tưởng, chiếm
vị trí chủ đạo và lôi kéo được nhiều người có xu hướng xã hội dân chủ ngả theo
chủ nghĩa cộng sản. Đến những năm 90 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa Mác hoàn toàn
chiến thắng các hệ tư tưởng khác trong phong trào công nhân. Nhiều đảng dân chủ
xã hội lấy lý luận C.Mác - Ph.Ăngghen làm cơ sở để thảo cương lĩnh chính trị
của đảng mình. Từ năm 1889 đến năm 1895, hoạt động của Quốc tế 2 do Ph.Ăngghen
chỉ đạo, về thực chất là một tổ chức công nhân phát triển trên cơ sở chủ nghĩa
Mác, mặc dù lấy tên gọi là “Liên minh quốc tế của các đảng xã hội”. Song,
Ph.Ăngghen đã giải thích rằng, tên gọi không quan trọng. Cái quan trọng chính
là nó có theo những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản hay không? Trong thời gian
ấy, nhiều đảng dân chủ xã hội ở châu Âu trở
thành lực lượng chính trị quan trọng. Sau khi Ph.Ăngghen qua đời (1895), Cơ quan lãnh đạo trong Quốc tế 2 rơi vào tay những
người cải lương, cơ hội chủ nghĩa, đòi xét lại chủ nghĩa Mác.
Với V.I.Lênin, lúc đầu xem “chủ nghĩa xã hội dân
chủ” có cái gì gần gũi với chủ nghĩa Mác.Vì vậy, năm 1898, V.I.Lênin đặt tên
cho chính đảng của giai cấp công nhân đầu tiên ở Nga là “Đảng Công nhân dân chủ xã hội Nga”. Về
sau, V.I.Lênin đã nhận rõ tính chất xa rời chủ nghĩa Mác về tư tưởng của các
đảng dân chủ xã hội, nên Ông đã vạch trần những diễn biến phức tạp của nó và
đổi tên Đảng thành “Đảng Cộng sản (Bônsơvích) Nga” vào năm 1918. Từ đấy, dưới
sự lãnh đạo của V.I.Lênin, ngọn cờ chủ nghĩa xã hội khoa học đã được phất lên
trong cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội khoa học.
Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ
Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã kiên trì con đường chủ nghĩa xã hội khoa
học, thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ
nghĩa. Nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa
xã hội là ngọn cờ đã, đang và sẽ được phất lên trong quá trình xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc. Đó là một sự lựa chọn lịch sử đúng đắn nhất. Dân
chủ của Việt Nam là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải dân chủ tư
sản. Bản chất của dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa là khác nhau. Dân
chủ tư sản là một trong những hình thức chính trị của nhà nước tư sản. Dân chủ
xã hội chủ nghĩa là một trong những hình thức chính trị của nhà nước xã hội chủ
nghĩa. Nó bắt nguồn từ chính bản
chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Cơ
sở kinh tế của dân chủ tư sản là những điều kiện tiên quyết của phương thức sản
xuất tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, các trào lưu xã hội dân chủ vẫn rêu rao là
đại diện cho phong trào công nhân quốc tế ngày nay, thực chất là thứ chủ nghĩa
xã hội dân chủ cải lương. Nét thể hiện của kiểu dân chủ này là xu hướng thay
thế đấu tranh giai cấp bằng hợp tác giai cấp, quan niệm về tính chất “siêu giai
cấp”, “đa giai cấp” của nhà nước và của dân chủ, quan niệm về chủ nghĩa xã hội
như là một phạm trù đạo đức. Lý thuyết này, những người xã hội dân chủ đã áp
dụng vào việc quản lý xã hội tại nhiều nước ở phương Tây. Có được khả năng
nắm tay lái điều khiển bộ máy nhà nước, các vị thủ lĩnh xã hội dân chủ tự cho
mình là “thầy thuốc bên giường bệnh” của chủ nghĩa tư bản. Nhiều đảng xã hội -
dân chủ chuyển sang hệ tư tưởng chiết trung, “đa nguyên” và tuyên bố “chủ nghĩa
xã hội dân chủ” là cương lĩnh tư tưởng của họ. Một số đảng xã hội dân chủ thực
hiện chính sách hai mặt. Một mặt, họ gắn với nhà nước tư bản, mặt khác, họ lại
liên hệ với phong trào công nhân, với công đoàn và các tổ chức quần chúng khác.
Hiện nay, phái xã hội - dân chủ vẫn là một lực lượng chính trị - xã hội quan
trọng ở những nước tư bản chủ nghĩa
phát triển. Tuy nhiên, trước sự phản ứng của một bộ phận trong công nhân và
nông dân, nhiều đảng xã hội - dân chủ đã tính đến sự hoà dịu, ủng hộ chính sách
cùng tồn tại hoà bình. Một số người trong phái xã hội - dân chủ thừa nhận tính
ưu việt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và có những quan hệ về đảng với đảng
cộng sản.
Sự hình thành và
phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là một quá trình khách quan do những
yếu tố muôn màu muôn vẻ xác định. Sự bình đẳng, công bằng xã hội, tự do cá nhân
và quyền lực nhân dân là mục đích có tính chất lịch sử của nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa. Cái cốt lõi của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đã được xác định, đó là
quyền lực của nhân dân. Tất cả các công dân đều có quyền tham gia vào công việc
của nhà nước. Dân chủ xã hội chủ nghĩa đồng nghĩa với tính chủ động sáng tạo
của quần chúng nhân dân hết sức rộng rãi. Hệ thống dân chủ của chủ nghĩa xã hội
xây dựng trên những điều kiện mới của sự phát triển lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất. Hình thức cơ quan lãnh đạo dân cử, quyền công dân, những thể chế
và những yếu tố dân chủ được những lực lượng tiến bộ của xã hội xây dựng và bảo
vệ. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, những hình thức dân chủ trực tiếp khác nhau
cũng được phát triển rộng rãi, biểu hiện trong những hoạt động của các tổ chức
xã hội. Nhà nước xã hội chủ nghĩa tạo cho công dân những khả năng rộng rãi để
tự do bày tỏ nguyện vọng và trình bày những ý kiến của mình về những vấn đề
thuộc về đời sống xã hội. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa tuyên bố bảo đảm những
quyền xã hội của công dân, quyền đi lại, lao động, nghỉ ngơi, học hành, quyền
tham gia vào những vấn đề chính trị, xã hội. Lực lượng chủ đạo của toàn bộ quá trình phát triển nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa là Đảng Cộng sản. Nghị quyết, đường lối, chính sách của Đảng phản ánh
những lợi ích của nhân dân.
Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam được thể hiện và thực hiện
theo Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đó là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giai
cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Mọi công dân đều bình
đẳng trước pháp luật, quyền bình đẳng nam nữ, quyền tự do kinh doanh theo quy
định của pháp luật, quyền nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, phát minh, sáng chế,
sáng tác, học tập... Để bảo đảm quyền làm chủ thật sự của nhân dân, Hiến pháp
ghi rõ Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.
Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang được
phát huy và đã gặt hái được những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực kinh tế,
chính trị, văn hoá, xã hội. Vai trò xã hội của nhân dân không ngừng được nâng
cao. Quy chế dân chủ đang được xác lập ở từng cấp và đang được thực hiện ở cơ sở. Không khí dân chủ trong xã hội đang được
phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng. Việt Nam đang từng bước khắc
phục những hiện tượng vi phạm dân chủ ở cơ sở; làm rõ cơ sở lý luận dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện một
đảng cầm quyền và nhiều đoàn thể nhân dân. Đẩy lùi được những hiện tượng quan
liêu, tham nhũng, cơ hội chính trị, mất dân chủ sẽ dần dần làm cho bộ mặt dân
chủ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam sáng lên trong lòng bầu bạn trên thế giới.
Thực hiện dân chủ phải đi đôi với việc chấp hành
nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước. Luật pháp của Nhà nước bảo đảm cho việc
thực hiện quyền dân chủ của nhân dân. Sống và làm việc theo pháp luật chính là
cơ sở pháp lý bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân.
Năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài “Dân vận”, Người khẳng định: “Nước
ta là nước dân chủ”. Nội dung của một nước dân chủ là:
“Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.
Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.
Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra.
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [1, tr. 698].
Trong quá trình hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa,
Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang đẩy mạnh thực hiện lời giáo huấn của Chủ
tịch Hồ Chí Minh. Điều đó, được thể hiện ở sự nhất quán và xuyên suốt qua các
kỳ đại hội của Đảng. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “Trong
mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ
của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết,
dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc” [2, tr. 27 - 28].
Vì vậy, mọi luận điệu xuyên tạc, công kích nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đều đi ngược lại quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam; tất yếu tự các luận điệu đó sẽ bị đào thải.
* Trần Trí Dũng Khoa Quân sự chung
Tài liệu tham khảo:
1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 698.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIII, Tập I, Nxb Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội, 2021,
tr. 27-28).

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét