Thời gian gần đây, nhiều hãng tin và một số tờ báo lớn đã đưa những tít bài rất kêu trong phân tích tình hình chính trị thế giới: “Khi Chủ nghĩa Dân tuý lên ngôi”, “Chủ nghĩa Dân tuý và những cơn địa chấn”… Nhiều nhà phân tích chính trị lo lắng và cho rằng trước làn sóng dân túy có thể dẫn đến những kết quả khó đoán, bất ngờ và tác động bất ổn đến nền chính trị các nước, các khu vực và thế giới.
Chủ nghĩa dân
tuý (Populism) bắt đầu xuất hiện trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế
những năm giữa thế kỷ XIX ở Pháp. Nguồn
gốc xã hội của chủ nghĩa dân
tuý là cuộc đấu tranh của quần chúng nhân dân, chủ yếu là nông dân,
đòi ruộng đất và thủ tiêu các hình thức bóc lột của chế độ nông nô. Thuật
ngữ chủ nghĩa dân tuý được sử dụng rộng rãi từ năm 1890 ở Mỹ trong phong trào
thúc đẩy người dân nông thôn và Đảng Dân chủ chống lại những người Đảng Cộng
hòa thường sống tập trung ở đô thị. Thuật ngữ này cũng được đề cập rộng rãi đến
phong trào dân túy ở Nga vào những
năm nửa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Cuộc đấu tranh chính trị ở Nga trên cơ
sở cuộc cải cách nông dân năm 1861 đã cho thấy tính chất phản dân chủ của
chủ nghĩa tự do, sự cần thiết phải có phong trào độc lập của quần chúng để đạt
được mục đích, cũng như ở các nước phương Tây. Nhưng, những điều kiện khách
quan của nước Nga vào thời kỳ này đã đặt ra cho phong trào cách mạng là những
nhiệm vụ dân chủ tư sản, chứ không phải xã hội chủ nghĩa và làm cho giai cấp nông dân trở thành lực lượng
cách mạng chủ yếu… Từ đó, hình thành nên một cương lĩnh hành động của phái dân
chủ nông dân. Tư tưởng chủ đạo của phái này là mộng ước xây dựng những “công xã nông thôn” cho giai cấp nông dân dựa
trên nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng. Vào những năm 50 của thế kỷ XX, thuật ngữ chủ nghĩa dân
tuý được sử dụng nhiều hơn để mô tả tất cả các phong trào chính trị khác
nhau, từ chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa cộng sản châu Âu tới chủ nghĩa chống
cộng McCarthy của Mỹ và chủ nghĩa Peron (Peronistas) của Áchentina.
Bản chất của chủ nghĩa dân tuý là sự pha
trộn những tư tưởng dân chủ nông dân với những ước mơ xã hội chủ nghĩa, với hy
vọng bỏ qua chủ nghĩa tư bản - một biến dạng của chủ nghĩa xã hội không tưởng
tiểu tư sản, đó là hệ tư tưởng của phái dân chủ nông dân. Chủ nghĩa dân tuý đại diện cho những người sản xuất nhỏ,
tiểu tư sản. Những người
theo tư tưởng này cho rằng: Lịch sử của sự phát triển xã hội không phải do đấu
tranh giai cấp, mà chỉ do những nhân vật lỗi lạc cá biệt, còn quần chúng nhân
dân, giai cấp đều mù quáng theo những cá nhân anh hùng đó. Thực chất, chủ nghĩa dân tuý là sự biến
dạng của chủ nghĩa cơ hội - trào lưu tư tưởng chính trị hình thành, phát triển
trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, thể hiện sự thích nghi với lợi
ích của tầng lớp tiểu tư sản và bộ phận giai cấp công nhân đã bị tư sản hóa;
giả danh những người mác xít để xuyên tạc, phủ nhận những nguyên lý cơ bản của
chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng. Về
vấn đề này, V.I.Lênin đã chỉ rõ, chủ nghĩa dân tuý đại diện quyền lợi của những
người sản xuất về phương diện họ là người tiểu sản xuất, người tiểu tư sản[1]. Họ đặt “lòng tin vào khả năng có thể có
một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa của nông dân”[2]; những “người dân túy” “hoàn toàn đứng
hẳn trên mảnh đất của xã hội hiện tại (nghĩa là trên mảnh đất của chế độ tư bản
chủ nghĩa và đó là điều mà họ không thấy) và họ muốn thoát khỏi chế độ đó bằng
cách vá víu và sửa chữa qua loa chế độ ấy…” [3]
Đặc điểm của chủ nghĩa dân tuý
thường được biểu hiện trên 3 xu hướng cơ bản sau: 1. Một trào lưu tư tưởng theo đuổi những chính sách được dân chúng ủng hộ
trong một giai đoạn ngắn hạn, nhưng không bền vững về lâu dài. Đó thường là
những chính sách xã hội như: Trợ giá hàng hóa, trả tiền lương hưu hậu hĩnh hoặc
miễn phí chăm sóc y tế… 2. Một xu hướng chính trị lấy danh nghĩa “nhân dân” làm căn bản cho tính
chính danh của chế độ, tuy nhiên nhiều quan điểm dân túy không coi “nhân
dân” là toàn bộ dân số, mà chỉ đứng trên quyền lợi và thể hiện tiếng nói của
một bộ phận dân chúng. 3. Một xu hướng chính trị sùng bái phong thái của nhà lãnh đạo không chỉ
là những phát ngôn mị dân, mà còn là thể hiện bằng hành động có tính chất biểu
trưng. Các nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa
dân tuý cổ vũ hiện tượng sùng bái cá nhân; tuyên bố họ được giao sứ mệnh
nắm giữ quyền lực, không phụ thuộc vào các thiết chế như đảng phái chính trị. Như vậy, dù theo trào lưu, xu hướng nào, tất cả các phái “dân túy”, về lý luận thì phủ nhận
đấu tranh giai cấp, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, cách mạng vô sản và
chuyên chính vô sản; về chính trị thì hạ thấp đấu tranh chính trị mà đề cao đấu
tranh kinh tế, chỉ thấy lợi ích trước mắt không thấy lợi ích lâu dài, phủ nhận
cách mạng bạo lực, tuyệt đối hoá vai trò của đấu tranh “hợp pháp”, “hòa bình”;
về tổ chức thì sùng bái tính tự phát, tính tản mạn tự do tiểu tư sản, phủ nhận
nguyên tắc tập trung dân chủ…
Đối với thế giới, những năm gần đây, chủ nghĩa dân tuý có xu hướng phục hồi và phát triển là do một số
nguyên nhân chủ yếu sau: 1. Do sự
bất ổn của nền kinh tế thế giới, vấn đề “siêu toàn cầu hóa” đã đưa đến nghịch lý: Công
nghệ sản xuất phần lớn được đưa từ các quốc gia phát triển sang các quốc gia
chậm hay đang phát triển và hàng hóa được chuyển theo chiều ngược lại. Do đó,
lợi ích chủ yếu mang lại cho các công ty lớn hoặc đa quốc gia, trong khi đó
những người lao động có tay nghề thấp bị mất việc làm, gây bất bình trong người
lao động. 2. Sự già hóa dân số, sự
xung đột về văn hóa, đời sống bấp bênh của người lao động, nhất là của những
người yếu thế làm gia tăng sự bất mãn của người dân dẫn đến các phản ứng
văn hóa. Việc ủng hộ chủ nghĩa dân tuý là phản ứng của các bộ phận người dân từng chiếm
ưu thế trước những thay đổi về các giá trị vốn đe dọa vị thế của họ; sự chia rẽ
theo bản sắc, xoay quanh nguồn gốc quốc gia, dân tộc hoặc tôn giáo… (nhóm văn
hóa); và sự chia rẽ theo kinh tế, giai cấp xã hội (nhóm kinh tế - chính trị).
Điều hấp dẫn của các nhà dân túy là họ giúp những người bị gạt ra bên lề nói
lên tiếng nói của mình. 3. Sự phát triển cách mạng khoa
học và công nghệ hiện đại, nhất là sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông
tin, tự động hóa, số hóa (CM 4.0) đã thay đổi mọi mặt của đời sống, từ kinh
tế đến quan hệ giữa con người; quá trình cá nhân hóa thông tin tăng cao, tin giả, tin sai lệch tràn lan, làm
cho người dân hiểu không đủ rõ vấn đề, hoang mang, dễ bị các luồng thông tin
chi phối, dẫn dắt. 4. Chính sách xã hội phải
đối mặt với nhiều thách thức, chi phí cho chính sách an sinh xã hội đối với
người già, tàn tật, thất nghiệp hay hưu trí càng làm gia tăng đáng kể số nợ của
chính phủ. Mặt khác, toàn cầu hóa đã tạo ra các dòng di cư vào các nước phát
triển, đặt ra thách thức đối với các chính phủ, khoét sâu sự ngăn cách về tâm
lý giữa người di cư với người bản địa. 5. Sự quan liêu, xa rời dân của giới quan chức cầm quyền đã tạo ra
một khoảng cách lớn giữa lợi ích và tiếng nói của người dân hoặc của một số
tầng lớp dân cư với giới chức cầm quyền hoặc những người có quyền lực trong xã
hội.
Đối với Việt Nam, hiện nay các biểu hiện dân tuý chưa thể gọi là chủ nghĩa dân tuý như ở nước Nga cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX,
hoặc một số nước châu Âu, Mỹ Latinh, vì ở Việt Nam không có cơ sở kinh tế, chính trị - xã hội để dân
tuý tồn tại dưới dạng một “chủ nghĩa”. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác
nhau, dân túy vẫn có điều kiện để xuất hiện và tồn tại thông qua những biểu
hiện như: 1. Tư tưởng dân tộc hẹp
hòi, đòi ly khai, tự trị, một bộ phận người dân dưới sự kích động, hậu
thuẫn của các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước luôn tìm cách đòi
ly khai thành lập nhà nước, vương quốc của mình, không chỉ gây mất an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội mà còn ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam trên
trường quốc tế. 2. Tình
trạng “dân chủ tự do” kiểu phương Tây của một phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, dưới sự tác
động của hoạt động “diễn biến hòa bình” và tác động của mặt trái của cơ chế thị
trường, nhất là những người đã từng giữ các vị trí trong bộ máy nhà nước sau
khi nghỉ hưu quay lại phê phán đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, luật
pháp của nhà nước ta, có những phát biểu vô nguyên tắc nhằm đánh bóng hình ảnh,
lấy lòng đám đông, tạo sự nghi ngờ, chia rẽ trong nội bộ, tạo cớ cho các thế
lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá cách mạng nước ta. 3. Sự xa rời, vô cảm với quần chúng, sẵn sàng
“trục lợi" từ quần chúng, khiến một bộ phận quần chúng suy giảm niềm tin
với Đảng, đặc biệt trước sự tuyên truyền của các
thế lực thù địch nhằm xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, gieo
mầm quan điểm “dân chủ tư sản”, “chủ nghĩa dân túy” đã tác động đến tư tưởng,
tinh thần của một bộ phận cán bộ, nhân dân; dẫn đến tình trạng tha hóa biến
chất về đạo đức lối sống, suy giảm lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào các
cơ quan bảo vệ pháp luật, trong khi đề cao quá mức tự do cá nhân, dẫn đến
"nhờn luật”, thậm chí “phản kháng ý thức hệ” khi bị kích động hoặc bức xúc
về lợi ích… Các hoạt động này còn được sự cổ vũ của một số phóng viên báo chí
thân phương Tây càng làm cho công tác dân vận của Đảng bị bóp méo. Nguy hiểm
hơn, các hành vi này đã được các thế lực thù địch khai thác để kích động, gây
chia rẽ nội bộ Đảng, chia rẽ vùng miền, sắc tộc, tôn giáo làm suy giảm lòng tin
của nhân dân đối với Đảng. 4. Tình
trạng “tự diễn biến", “tự chuyển hóa", “lợi ích nhóm" trong
nội bộ, trong đó tình trạng “tự diễn
biến", “tự chuyển
hóa" đã được Nghị quyết Trung ương 04-NQ/TW ngày 30/12/2016 của Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn
chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu
hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong
nội bộ chỉ rõ là một trong 03 nhóm suy thoái với 09 biểu hiện cụ thể. Ngoài ra,
tình trạng “lợi ích nhóm” vẫn còn tồn tại trên nhiều lĩnh
vực, như: Kinh tế, chính trị, truyền thông, báo chí... 5. Tình
trạng bè phái, cục bộ địa phương, tư tưởng vùng, miền, những nhóm
người này vì lợi ích cục bộ mà xung đột, mâu thuẫn với lợi ích chung của nhân
dân, của xã hội và thậm chí là lợi ích của quốc gia, dân tộc. Khi đã cố kết với nhau, chúng sẽ lợi dụng chính sách, pháp luật, nhân
danh lợi ích xã hội, thậm chí sẵn sàng nhân danh “bảo vệ lợi ích của người dân”
để trục lợi. 6. Những phát ngôn và
hành động của số phần tử cơ hội, chống đối chính trị mang tính “mị dân trên các
phương tiện truyền thông đại chúng, các diễn đàn, các trang mạng xã hội, chúng tập trung xuyên tạc
khái niệm tự do báo chí, viện dẫn, “tuyệt đối hóa” các quy định của luật pháp
quốc tế, Việt Nam nhưng lờ đi những quy định, điều khoản chế tài, nghĩa vụ kèm
theo để khẳng định “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận” là quyền tuyệt đối, không
có bất cứ một hạn chế nào. Một số đối tượng cơ hội, chống đối chính trị, còn
thiết lập ra hàng loạt các hội, nhóm, câu lạc bộ, tổ chức “xã hội dân sự” trên
lĩnh vực truyền thông, báo chí như: “Hội nhà báo độc lập Việt Nam”, “Câu lạc bộ
phóng viên tự do”, “Mạng lưới blogger Việt Nam”... dưới chiêu bài “tự do ngôn
luận, tự do báo chí” để thu hút, tập hợp lực lượng.
Những biểu hiện của chủ
nghĩa dân tuý ở Việt Nam tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả các lĩnh vực
đời sống xã hội, có nguy cơ tác động đến sự lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong
của chế độ. Cụ thể như: Về chính trị:
Ảnh hưởng trực tiếp đến đường lối, chủ trương, chính sách, của Đảng và Nhà
nước; số nhân sỹ, trí thức có tư tưởng “cấp tiến” lợi dụng việc viết “thư ngỏ”,
“kiến nghị”, tọa đàm, thảo luận để hướng lái đường lối, quan điểm theo hướng
“đa nguyên đa đảng”. Về lĩnh vực kinh tế,
đầu tư: Tác động đến các chủ trương, chính sách kinh tế đầu tư; tác động
tiêu cực đến các hoạt động sản xuất, kinh doanh, đầu tư, du lịch. Về đối ngoại: Ảnh hưởng đến vị thế và uy tín của Việt
Nam trong khu
vực và trên trường quốc tế; ảnh hưởng đến chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế;
ảnh hưởng tiêu cực đến các cơ chế, hiệp định thương mại Việt Nam với các nước,
khu vực; ảnh hưởng đến việc triển khai chủ trương, chính sách và hoạt động đối
ngoại của Đảng và Nhà nước; tạo cớ để các tổ chức quốc tế, các nước can thiệp
vào công việc nội bộ của Việt Nam. Về Lập pháp: Ảnh hưởng đến công tác lập
pháp của Quốc hội, vai trò của Quốc hội bị suy
giảm; luật pháp bị lạm dụng; tác động đến uy tín công tác điều hành, quản lý xã
hội của chính quyền nhà nước từ Trung ương đến địa phương. Thúc đẩy xu hướng
chất vấn mới theo kiểu “dân chủ”, “đấu tranh trực diện” như nghị trường các
nước phương Tây và mang màu sắc dân túy. Về Xã hội: Làm xáo trộn đời sống tâm lý
xã hội; làm giảm lòng tin của người dân đối với Đảng; làm phân hóa các giai
tầng xã hội, tạo ra thói quen tâm lý phản kháng, chống đối, “bất tuân dân sự”. Về quốc phòng, an ninh: Làm suy yếu, dẫn
đến chia rẽ lực lượng vũ trang, dẫn đến tạo bất ổn, xáo trộn về quốc phòng, an
ninh, trực tiếp đe dọa đến vấn đề chủ quyền, lãnh thổ, biển đảo; gia tăng nguy
cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và sự tồn vong của chế độ. Về
truyền thông: Tích tụ phản ứng, mâu thuẫn trong lòng xã hội, tiền đề
khởi phát hoạt động “bất tuân dân sự” chống đối chính quyền; tạo dư luận tác
động, “hướng lái” chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, chống
phá quân đội; kêu gọi sửa đổi Hiến pháp, luật pháp để thúc đẩy quá trình “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” tại Việt Nam…
Là một lực lượng chính trị tin cậy của
Đảng, Nhà nước và nhân dân, Quân đội ta có vai trò quan trọng trong tham gia
phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn những biểu hiện của chủ nghĩa dân tuý ở nước ta. Đây là một nhiệm vụ
chính trị quan trọng, đòi hỏi phải phát huy cao độ vai trò, trách nhiệm của Quân
đội nói chung và mỗi cán bộ, đảng viên trong Quân đội nói riêng. Theo đó, cần
thực hiện tốt những biện pháp chủ yếu sau:
Một là, chủ
động, tích cực làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho
cán bộ, chiến sĩ giúp họ nhận diện đúng những biểu hiện dân túy ở nước ta.
Đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội phải quán triệt, nhận thức sâu sắc
những biểu hiện dạng thức khác nhau của chủ nghĩa dân tuý, nắm vững, kiên định chủ nghĩa Mác -
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước. Từ đó, làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, xây
dựng đời sống chính trị tinh thần lành mạnh trong toàn quân.
Hai là, chủ động, tích cực phối hợp với cấp
ủy, chính quyền địa phương các cấp tham gia công tác tuyên truyền, vận động
quần chúng nhân dân nhận rõ
bản chất, tác hại của chủ nghĩa dân tuý, cảnh
giác với những thủ đoạn, chiêu trò dân túy, vạch trần những phần tử dân túy mị
dân, lừa bịp nhân dân để thực hiện mưu đồ chính trị. Trên cơ sở đó, giữ vững
niềm tin với Đảng, với sự nghiệp cách mạng, quyết tâm xây dựng, củng cố khối
đại đoàn kết toàn dân tộc.
Ba là, tích cực tham gia giúp đỡ nhân dân
phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng cơ sở chính trị - xã hội vững
chắc. Trong đó, cần chú trọng tham gia giúp đỡ nhân dân xóa
đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, xây dựng hệ thống chính trị cơ sở,
nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào có đạo, vùng sâu, vùng
xa, biên giới, hải đảo. Từ đó, tạo dựng lòng tin của nhân dân đối với cấp ủy
đảng, chính quyền, Quân đội, không bị dụ dỗ hay mắc mưu những tư tưởng, hành
vi dân túy dù biến tướng dạng thức này hay dạng thức khác.
Bốn là, chủ động, tích cực phòng ngừa, tham
gia đấu tranh nhăn chặn với các biểu hiện dân túy cả về mặt nhận thức đến hành
vi, hành động. Đặc biệt,
đối với cấp ủy đảng, chỉ huy, cán bộ chính trị các cấp phải nêu cao vai trò,
trách nhiệm chính trị đối với nhiệm vụ này, phát huy tốt vai trò, trách nhiệm
của cơ quan tuyên huấn, báo chí, các học viện, nhà trường trong toàn quân. Kịp thời vô
hiệu hóa những quan điểm sai trái, những luận điệu thù địch cũng như những hành
vi, hành động mang dấu hiệu, màu sắc dân túy./.
*
Dương Ngọc Hưởng, Khoa Lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét