Hiện nay các thế lực thù địch đang ráo riết chống phá cách mạng Việt Nam từ mọi phía, không từ bỏ bất cứ thủ đoạn nào. Chúng tiến hành phá hoại trên mọi lĩnh vực, một trong những thủ đoạn chống phá của chúng là vẽ ra các hình mẫu về xã hội dân chủ, với các tư tưởng và khẩu hiệu hành động gây chú ý, cốt lõi là lấy luận thuyết của chủ nghĩa “đa nguyên chính trị” làm nền tảng, từ đó đòi hỏi “đa đảng đối lập” để chống phá các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới trong đó có Việt Nam.
Để thực hiện ý đồ trên, chúng rêu rao rằng, Việt
Nam thực hiện chế độ nhất nguyên chính trị, độc đảng nên không có dân chủ hoặc dân chủ hình thức vì vừa đá bóng, vừa thổi
còi. Cùng với đó, chúng tìm cách cổ xúy cho các “hình mẫu dân chủ” kiểu phương
Tây vào nước ta, xuyên tạc bịa đặt trắng trợn rằng Việt Nam vi phạm dân chủ,
nhân quyền, chế độ một đảng là chế độ độc tài, đảng trị nên cần phải thực hiện
“đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” mới có dân chủ thực sự và đất nước mới
phát triển được.
Các thế lực thù địch đã cố tình đánh tráo khái niệm giữa vấn
đề đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập với dân chủ và phát triển của đất nước.
Mưu đồ thực chất của chúng là muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam thông qua việc đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập từ
đó tiến tới xóa bỏ chế độ chính trị định hướng XHCN của nước ta.
Thực chất “đa
nguyên chính trị, đa đảng đối lập” là gì? Nó có phải là sự bảo đảm cho
nền dân chủ thực sự trong xã hội hay không? Có nhất thiết phải thực hiện đa
nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở nước ta hay không?
Trong khoa
học chính trị và đời sống chính trị thế giới, đa nguyên chính trị là thuật ngữ
đã xuất hiện từ lâu nó bắt nguồn từ “chủ nghĩa đa nguyên” ở các nước phương
Tây. Về bản chất, đa nguyên
chính trị là sự phản ánh đặc trưng hệ thống chính trị của một quốc
gia có nhiều cực, nhiều mục tiêu, nhiều con đường, nhiều đảng phái được tự do
hoạt động và đại biểu cho những lợi ích khác nhau. Đa nguyên chính trị gắn liền
với thể chế chính trị đa đảng. Bằng luận thuyết về đa nguyên
chính trị, các thế lực phản động ca ngợi nền dân chủ tư sản và đòi “cải tiến”, “cải tổ” nền dân chủ xã hội chủ nghĩa nhằm tạo ra cái gọi là
“sự tự quản” của người lao động và “quyền tự quyết” của nhân dân dưới chế độ xã
hội xã hội chủ nghĩa.
Cần thấy
rằng, thể chế đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không phải là dấu hiệu của
dân chủ, cũng không phải là cội nguồn bảo đảm cho dân chủ thực sự. Ngược lại,
chế độ nhất nguyên chính trị, một đảng duy nhất cầm quyền cũng không phải là
nguyên nhân của mất dân chủ. Cái gốc để bảo đảm cho nền dân chủ, chế độ dân chủ
thực sự trong xã hội là tư liệu sản xuất nằm trong tay ai, phục vụ cho ai?
Tuy nhiên, trong xã hội tư bản chủ nghĩa, tư liệu sản xuất nằm trong tay thiểu số nhà
tư bản của giai cấp tư sản, vì lẽ ấy nền dân chủ trong xã hội tư bản mang bản
chất của giai cấp tư sản. Trong khi ấy, đại đa số quần chúng nhân dân lao động
không có tư liệu sản xuất, chỉ là những người làm thuê, bán sức lao động cho nhà tư bản để
kiếm sống. Hiện nay, chủ nghĩa tư bản đã có
những điều chỉnh, thích nghi nên vị trí của giai cấp công nhân ở các nước tư bản đã có thay đổi
nhất định, đời sống vật chất, tinh thần của họ có phần được cải thiện. Một bộ phận công
nhân có cổ phần trong các nhà máy, công ty, tập đoàn tư bản, và do đó, trên
thực tế họ không hoàn toàn là “vô sản” (không có tài sản) như thời kỳ trước. Vị
trí của giai cấp công nhân đã có thay đổi nhất định, song địa vị chính trị của
họ trong xã hội tư bản vẫn không hề thay đổi. Giai cấp công nhân hiện đại vẫn
bị bóc lột giá trị thặng dư, không có quyền sở hữu các tư liệu sản xuất chủ
yếu, nên xét về kinh tế họ vẫn là những người bị bóc lột, xét về chính trị họ
vẫn là giai cấp bị thống trị. Ngược lại, giai cấp tư sản, chế độ tư bản dù vẫn
còn tiềm năng phát triển do có lịch sử tồn tại lâu đời, có tiềm lực về tài
chính, quân sự, khoa học kỹ thuật, có sự điều chỉnh, thích nghi nhất định, song
bản chất vẫn là những kẻ bóc lột; xét về chính trị họ vẫn là giai cấp thống
trị. Lẽ dĩ nhiên, về cơ sở xã hội, nền dân chủ tư sản được xây dựng trên nền
tảng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa nên trong xã hội tư bản cũng chỉ là
nền dân chủ phục vụ cho thiểu số giai cấp tư sản còn giai cấp công nhân, quần chúng lao động những người chiếm đại đa số
trong xã hội vẫn là những người bị thống trị, áp bức, bóc lột, bất công.
Bàn về chế độ dân chủ tư sản, V.I. Lênin đã từng khẳng định: “Chế độ dân chủ tư sản, tuy là một tiến
bộ lịch sử vĩ đại so với thời trung cổ, song trước sau nó vẫn là - và dưới chế
độ tư bản nó không thể không là - một chế độ dân chủ chật hẹp, bị
cắt xén, giả hiệu, giả dối, một thiên đường cho bọn giàu có, một cái cạm bẫy và
một cái mồi giả dối đối với những người bị bóc lột, đối với những người nghèo”.(2)
Cần nói thêm rằng, chế độ đa đảng trong hệ thống chính trị tư sản được các thế lực thù địch,
các phần tử cơ hội chính trị, các học giả tư sản tung hô cũng chỉ là những luận điệu
tuyên truyền xuyên tạc, mị dân. Đó thực chất chỉ là sự thỏa
thuận có nguyên tắc để phân chia quyền lực và lợi ích giữa các phe phái của một
đảng lớn duy nhất trong xã hội - đảng của những nhà tư bản độc quyền. Thực tế,
chế độ đa đảng ở phương Tây cũng chỉ dựa trên cơ sở nhất nguyên chính trị.
Nghĩa là, chính trị là chính trị của một giai cấp, một đảng hay nhiều đảng thì
vẫn là phục vụ một giai cấp nhất định - giai cấp tư sản. Do vậy, chế độ
đa đảng ở nhiều nước phương Tây về bản chất vẫn chỉ nhằm phục vụ giai cấp tư
sản, cụ thể hơn là chính đảng cầm quyền. Các đảng phái cánh tả, cánh hữu, đảng
phái được coi là đối lập với đảng cầm quyền, xét đến cùng, vẫn phục vụ lợi ích
giai cấp tư sản, hoạt động trong khuôn khổ, trật tự cho phép của chính đảng tư
sản cầm quyền. Và như vậy, đa đảng nhưng thực chất không phải là đa đảng đối
lập về mục tiêu và lợi ích căn bản mà vẫn
phục vụ, bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản.
Các thế lực
thù địch đẩy mạnh thực hiện mục tiêu chống phá cách mạng Việt Nam hiện
nay thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình”, kết hợp bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ
trang, thúc đẩy “xâm lăng về văn hóa”, phá hoại về tư tưởng, đạo đức, lối sống nhằm thay đổi nhận thức, niềm tin của các tầng lớp nhân dân đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, vào tính tất yếu lãnh đạo nhà nước và xã hội của Đảng ta; đòi xóa bỏ
Điều 4, Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, đòi xây dựng Nhà
nước ta theo mô hình “tam quyền phân lập”, từng bước hình thành tư tưởng, quan điểm
đối lập, phần tử chống đối, thành lập nên các tổ chức, lực lượng chính trị đối
lập tại Việt Nam, tiến tới thiết lập các đảng phái chính trị đối lập thông qua các kịch bản “Cách mạng nhung”, “Cách mạng màu”, “Cách mạng da
cam”, “Cách mạng đường phố”, …để hiện thực hóa mục tiêu “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt
Nam.
Phản bác các luận điệu sai trái, phản động, vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế
lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, trong đó có tính chất phản cách mạng
của chủ nghĩa đa nguyên chính trị là nhiệm vụ cấp bách, là trách nhiệm của cấp ủy, tổ
chức đảng, của cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân và toàn bộ hệ thống chính
trị ở nước ta hiện nay, trong đó có cán bộ, chiến
sĩ quân đội nói chung, Bộ đội Biên phòng nói riêng trên mặt trận tư tưởng lý
luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta.
Ở Việt Nam hiện nay không cần thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”
“Độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc” là mục tiêu cao
nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn thể nhân dân Việt Nam. Vào những năm
cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, mục tiêu ấy ở nước ta được khảo
nghiệm, kiểm chứng và trao cơ hội cho tất cả các giai tầng trong xã hội, các
đảng phái chính trị, các cá nhân,... Trong thời kỳ này, các phong trào yêu
nước, các cuộc cách mạng theo các quan điểm, lập trường phi vô sản được tiến
hành ở Việt Nam dưới nhiều hình thức song đều thất bại. Trong thế kỷ XX, ở nước
ta đã từng xuất hiện và tồn tại nhiều đảng phái khác nhau, như: Việt Nam Quốc
dân Đảng (Việt Quốc), Việt Nam Cách mệnh đồng minh hội (Việt Cách),… Tuy nhiên,
các đảng phái chính trị này không khẳng định được sứ mệnh lịch sử và vai trò
lãnh đạo dân tộc Việt Nam.
Lịch sử vốn khách quan, nhân dân Việt
Nam luôn chính xác khi xem xét, đánh giá và lựa chọn cho mình con đường duy
nhất đúng đắn, một sự nghiệp vẻ vang, một chính đảng cách mạng chân chính -
Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự ra đời, tồn tại, lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản
Việt Nam là lựa chọn tất yếu của lịch sử, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của giai
cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn thể dân tộc Việt Nam.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm tất yếu
của lịch sử, đáp ứng yêu cầu thực tiễn cách mạng, phù hợp với nguyện vọng của
nhân dân Việt Nam. Từ khi thành lập đến nay Đảng Cộng
sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên
phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi
ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Do vậy, ở Việt
Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, đảng duy nhất lãnh đạo hệ thống
chính trị và toàn xã hội, không chia sẻ quyền lực cho bất kỳ đảng phái chính
trị nào. Đồng thời, Đảng là bộ phận của hệ thống chính trị và hoạt động trong
khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, đó là một tất yếu khách quan. Nhân dân Việt
Nam không muốn và không cần có thêm bất kỳ một đảng phái chính trị nào khác
trên đất nước này, vì vậy, cũng không cần thực hiện “đa nguyên chính trị, đa
đảng đối lập” ở Việt Nam.
Ở Việt Nam không có cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc thực hiện “đa nguyên chính
trị, đa đảng đối lập”
Dân chủ, phát triển, ổn định và tiến bộ là những
mục tiêu thuộc về lý tưởng của loài người, có giá trị phổ quát chung của toàn
nhân loại. Tuy nhiên, những mục tiêu này có được không đồng nghĩa với vấn đề
phải nhất quyết thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Đảng là tổ chức
chính trị của giai cấp, mang bản chất giai cấp mà đảng ấy đại diện, trình độ dân chủ và sự phát triển của một đất nước không tỷ lệ thuận với số lượng đảng phái chính trị có trong đất nước đó. Sự đa đảng cũng có nhiều sắc thái khác nhau. Có hiện
tượng đa đảng nhưng vẫn nhất nguyên chính trị, có hiện tượng đa đảng đồng thời
đa nguyên chính trị. Luận điệu cho rằng một đảng thì mất dân chủ, cản trở phát triển, còn đa đảng thì dân chủ, phát triển là sai trái, chưa có cơ sở khoa học chứng minh. Tính chất dân chủ và sự phát triển của một nước không phụ thuộc vào chế độ một đảng hay đa đảng mà phụ
thuộc việc đảng cầm quyền ở nước đó có mang bản chất cách mạng hay không, có bảo vệ quyền và lợi ích cho đa số quần chúng nhân dân lao động hay không, hay chỉ bảo vệ cho thiểu số người thống trị trong xã hội
đó. Trên thực tế, nhiều quốc gia thực hiện đa đảng nhưng vẫn mất dân chủ, là nước nghèo, kém
phát triển. Ngược lại, nhiều quốc gia chỉ có
một đảng lãnh đạo nhưng dân chủ được bảo đảm trên thực tế cuộc sống, kinh tế-xã hội phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, bảo đảm. Điều này phụ thuộc vào bản chất của các đảng cầm quyền và lợi ích xã hội mà nó đại diện, bảo vệ.
Các thế lực thù địch cố tình che đậy tính chất đối kháng về lợi ích giai cấp trong xã hội, bảo
vệ lợi ích giai cấp tư sản, phủ nhận sự phân chia, đối kháng giai cấp, phủ nhận
đấu tranh giai cấp, phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, phủ nhận
vai trò lãnh đạo và hạ uy tín của các Đảng Cộng sản, trong đó có
Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hiện nay, nhiều quốc gia, dân tộc đang thực hiện
theo thể chế được gọi là “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”. Tuy một vài
nước có thu nhập bình quân đầu người và GDP hàng năm tương đối cao, song phần
lớn tài sản và sự thụ hưởng giá trị vật chất và tinh thần lại không thuộc về đa
số người dân lao động (giai cấp công nhân, giai cấp nông dân) mà lại nằm chủ
yếu trong tay của một bộ phận người trong xã hội - đó là các ông chủ tư bản,
các nhà tài phiệt - là giai cấp tư sản. “Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức cũng như các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và chi phối toàn xã hội…Sự rêu rao bình đẳng về quyền, nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều
kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống
rỗng mà không thực chất” 3. Ở các nước tư bản đang tồn tại
nhiều đảng phái chính trị với tên gọi khác nhau, song thực chất các đảng chính
trị cầm quyền vẫn chỉ thuộc đảng của giai cấp tư sản. Các chính đảng này không
bảo vệ cho quyền lợi, không phản ánh nguyện vọng của đại đa số quần chúng
nhân dân lao động. “Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” chỉ là khẩu hiệu, là luận điệu tuyên truyền có dụng ý chính trị mị dân của họ.
Cổ xúy luận điệu “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” thực chất là âm mưu của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng Việt Nam
Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố
quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Hiện nay, sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nước ta dưới sự lãnh đạo của
Đảng tiếp tục thu được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử; đời sống vật chất và
tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; uy tín và vị thế của nước ta trên
trường quốc tế ngày càng được khẳng định vững chắc. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn
Phú Trọng đã từng có đánh giá: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm
lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” 4. Chính vì lẽ đó, để chống phá cách mạng Việt Nam,
các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị, phản động, thực dụng đã và đang tìm mọi
cách tấn công, chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi
thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam.
Mục tiêu và bản chất của chúng là nhằm làm mất vai
trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là vai trò lãnh đạo tuyệt đối trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang
nhân dân, gây chia
rẽ nội bộ từ trong Đảng, chia rẽ và phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
gây bất ổn về chính trị - xã hội, tạo điều kiện, tiền đề cho việc ra đời và
“công khai hóa”, “hợp pháp hóa” các tư tưởng đối lập, hình thành và phát triển
các lực lượng, tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, giành giật
quần chúng và từ đó cạnh tranh vai trò lãnh đạo của Đảng, tiến tới thủ tiêu vai
trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong đời sống chính trị.
Đảng Cộng sản Việt Nam hơn bao giờ hết, luôn nghiêm
khắc và có trách nhiệm với sứ mệnh lãnh đạo cao cả của mình, gắn vận mệnh của mình
với vận mệnh của quốc gia dân tộc. Đảng không bảo thủ, độc
đoán, chuyên quyền, xa rời những nguyên lý và nguyên tắc cơ bản trong xây dựng
tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của mình. Kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê
bình, tập thể lãnh đạo gắn với cá nhân phụ trách, quan hệ gắn bó máu thịt với
quần chúng nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, hoạt động trong khuôn
khổ Hiến pháp và pháp luật; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao
năng lực lãnh đạo và năng lực cầm quyền để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ
được giao.
Cả lý luận và
thực tiễn đều cho thấy, Đảng ta là đảng cầm quyền, là hạt nhân
chính trị, lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội ở Việt Nam, đó là tất
yếu khách quan. Các luận điệu chống phá, xuyên tạc đòi “đa nguyên
chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam là sai trái, phản động và không có cơ sở
hiện thực. Dân tộc Việt Nam hiện nay và mai sau không muốn và
không cần thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”; đồng thời, kiên
quyết, kiên trì đấu tranh phản bác các quan điểm phủ nhận vai trò lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở
nước ta.
Để đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa
bình” nói chung, luận điệu đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt
Nam nói riêng của các thế lực thù địch, cán bộ, chiến
sĩ quân đội nói chung, Bộ đội Biên phòng nói riêng cần tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt những quan
điểm, chủ trương của Đảng, nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của
Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của
Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”.
Đồng thời, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị, xây dựng quân đội, Bộ đội Biên phòng nói riêng vững mạnh về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Theo đó, cần thực
hiện tốt một số nội dung sau:
Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối,
trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân trong đó có Bộ đội Biên phòng theo tinh thần
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt
đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của nhà
nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an
ninh” 5, trên cơ sở đó xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh
nhuệ, hiện đại, vững mạnh về mọi mặt trước
hết là vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.
Hai là, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục định hướng tư tưởng, nâng cao nhận thức chính trị và tinh thần
cảnh giác cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ trước âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa
bình” chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch đặc biệt trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa; phát huy vai trò, sức mạnh tổng
hợp của các lực lượng làm công tác tư tưởng, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng
viên, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, những
biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ, tăng sức đề kháng, miễn
dịch trước các thông tin xấu độc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Ba là, phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng
đầu các cơ quan, đơn vị; vai trò đội ngũ cán bộ chính trị các cấp; vai trò của
Ban chỉ đạo 35, Lực lượng 47 của các đơn vị trong Quân đội, Bộ đội Biên phòng;
quan tâm, chăm lo, bồi dưỡng các lực lượng này làm xung kích, nòng cốt trong đấu tranh phòng,
chống “diễn biến hòa bình”, bảo vệ nền
tảng tư tưởng của Đảng và trong xây dựng đơn vị vững mạnh về mọi mặt trước
hết là vững mạnh chính trị.
Bốn là, làm tốt công tác sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm nâng cao chất lượng, hiệu quả đấu
tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư
tưởng, văn hóa và trên không gian mạng; phản bác các quan điểm sai trái, lệch
lạc, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội nói chung và Bộ
đội Biên phòng nói riêng.
Tóm lại: Một thể chế chính trị hay một đảng phái chính trị ra đời phải xuất phát từ nhu cầu của thực tế xã hội, từ nguyện vọng chính đáng của quần chúng nhân dân ở quốc gia dân tộc đó. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh Đảng Cộng sản Việt Nam là đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc Việt Nam, ngoài lợi ích ấy, Đảng ta không có lợi ích nào khác. Việt Nam không thực hiện “Đa nguyên đa đảng” không phải vì chúng ta mất dân chủ, bảo thủ như sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, mà đó là yêu cầu khách quan, vì sự ổn định và phát triển của đất nước. Để củng cố quyết tâm chính trị này, đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ quân đội nói chung, Bộ đội Biên phòng nói riêng phải không ngừng rèn luyện đạo đức cách mạng, nâng cao ý thức cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, phản động của các thế lực thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta, giữ vững ổn định và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa - con đường mà Bác Hồ, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn và mãi mãi đi theo.
Hoàng Trọng Thiết
Tài liệu tham khảo:
1,2. V.I.Lênin (1918), “Cách
mạng vô sản và tên phản bội Cau‐xky”, Toàn tập, Nxb
Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2005, tập 37, tr. 311, 305
3. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn về Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr. 21.
4,5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà
Nội, tập I, tr. 25, 160-161, 157-158.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét