Quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc là vấn đề trọng đại của Quốc gia, dân tộc, là bộ phận đặc biệt quan trọng trong hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng, “kim chỉ nam” định hướng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Nhìn lại gần 40 năm đổi mới, chúng ta thấy rõ tư duy bảo vệ Tổ quốc của Đảng qua các kỳ đại hội đã không ngừng đổi mới, phát triển ngày càng hoàn thiện, sâu sắc hơn. Báo cáo chính trị Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Tư duy về quốc phòng, an ninh, đối tác, đối tượng, bảo vệ Tổ quốc có bước phát triển mới và ngày càng hoàn thiện”[1]. Đó là một trong những nguyên nhân sâu xa góp phần quan trọng vào những “thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử” của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, tạo thế và lực mới để Việt Nam hội nhập, phát triển nhanh, bền vững. Vì vậy, bàn về sự phát triển tư duy bảo vệ Tổ quốc trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng có ý nghĩa quan trọng đối với cán bộ, giảng viên, học viên Học viện Biên phòng hiện nay, góp phần đưa Nghị quyết Đại hội đi vào cuộc sống.
1. Cơ sở của sự phát triển tư duy bảo vệ Tổ quốc trong
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng
Tư duy bảo vệ Tổ quốc trong Nghị
quyết Đại hội XIII của Đảng là kết quả của sự kế thừa, bổ sung, phát triển tư
duy bảo vệ Tổ quốc qua các kỳ đại hội Đảng; đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 8
(khóa IX, XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và Nghị quyết Đại hội XII của Đảng. Tư
duy đó được thể hiện thống nhất từ tiêu đề Đại hội; đánh giá kết quả thực hiện
nghị quyết Đại hội XII của Đảng, 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011), 10 năm thực hiện chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, 35 năm thực hiện công cuộc đổi
mới đến tầm nhìn, định hướng phát triển đất nước và thể hiện tập trung ở mục
“X- Tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam XHCN” trong Báo cáo chính trị.
2. Nội dung phát triển tư duy bảo vệ Tổ
quốc trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng
Nội dung phát
triển tư duy bảo vệ Tổ quốc trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khá toàn
diện, thể hiện trên nhiều vấn đề, trong thể hiện tập trung ở những vấn đề chủ
yếu sau đây.
Một là, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN sâu
sắc, đầy đủ, toàn diện và cụ thể hơn phù hợp với tình hình mới
Đại
hội XIII của Đảng xác định mục tiêu bảo vệ Tổ quốc, đó là: “bảo vệ vững
chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ XHCN, nền
văn hoá và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định
chính trị, an ninh quốc gia, an ninh
con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng XHCN”[2]. Như
vậy, Đại hội XIII tiếp tục khẳng định mục tiêu bảo vệ Tổ quốc mà Đại hội XII đã
đề cập, đồng thời nhấn mạnh nội dung cốt lõi là: bảo vệ độc lập, chủ quyền,
thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và
chế độ XHCN; bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Các nội dung đó có quan hệ chặt
chẽ, biện chứng với nhau trong một chỉnh thể thống nhất.
Từ
những vấn đề
toàn cầu như bảo vệ hoà bình, phòng
chống thiên tai, dịch
bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền
thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, ô
nhiễm môi trường,... tiếp tục diễn biến phức tạp;
bốn nguy cơ mà
Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn; những khó khăn, thách thức thời gian tới và tình hình trật
tự, kỷ cương của đất nước mà Đại hội Đảng lần thứ XIII đã yêu cầu phải coi an
ninh, an toàn là một trong những yếu tố hàng đầu trong cuộc sống của người dân
và bổ sung nội dung mục tiêu: “an ninh con người; xây dựng xã
hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát
triển đất nước theo định hướng XHCN”[3].
Hai là, phương thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN được bổ sung, phát triển, hoàn thiện thêm
Trên cơ sở nhận thức ngày càng rõ
hơn, biện chứng và linh hoạt hơn về đối tượng, đối tác, Đại hội XIII tiếp tục
khẳng định sâu sắc thêm phương thức bảo vệ Tổ quốc đã được Đại hội XII chỉ ra: ngăn ngừa xung
đột, chiến tranh từ sớm, từ xa; kiên quyết, kiên
trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển,
đảo, vùng trời của Tổ quốc. Đại hội XIII
còn nhấn mạnh: kết hợp bảo vệ với xây dựng, lấy xây dựng để bảo vệ, bảo vệ tốt
để có điều kiện xây dựng tốt. Đấu tranh phi vũ trang được Đảng nhận thức có vai
trò ngày càng quan trọng trong phòng, chống “diễn biến hòa bình”, nhằm đối phó
có hiệu quả các phương thức, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Đảng
ta còn nhấn mạnh: “Xác định “chủ động phòng ngừa” là chính. Ứng phó kịp thời, hiệu quả với các đe doạ an ninh phi truyền thống… Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình phù hợp với luật pháp
quốc tế”[4].
Ba là, nguồn lực
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN được quan niệm rộng rãi, phù hợp điều kiện thực tế
và khả thi hơn
Kế
thừa tư duy của các kỳ đại hội trước, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định
sâu sắc thêm sức mạnh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là sức mạnh tổng hợp của
toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng; sức mạnh
tổng hợp của các yếu tố chính trị, quân sự, kinh tế, khoa học và công nghệ, văn
hóa, đối ngoại...; sức mạnh dân tộc và sức mạnh của thời đại. Tất cả các nguồn
lực đó được kết tinh lại, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước,
sự đồng lòng, thống nhất về quyết tâm và ý chí của toàn dân; trong đó, lấy sức
mạnh chính trị, tinh thần làm cốt lõi; đại đoàn kết dân tộc làm động lực chủ
yếu, “thế trận lòng dân” làm nền tảng.
Xác định sức
mạnh bảo vệ Tổ quốc, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh thêm: “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp…”[5], điều này gắn liền
với nội dung trong chủ đề Đại hội: “…khơi dậy khát vọng phát triển đất nước,
phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc…”[6]. Đây
là sự bổ sung, phát triển tư duy trong việc xác định sức mạnh bảo vệ Tổ quốc
khi tình hình khu vực và quốc tế dự báo sẽ có nhiều diễn biến phức tạp, khó
lường. Qua đó thể hiện việc kế thừa và phát huy truyền thống quý báu của dân
tộc Việt Nam: Trong khó khăn, thử thách thì ý chí, khát vọng, lòng tự hào, tự
tôn dân tộc được phát huy cao độ, tạo nên sức mạnh vô địch thực hiện mục tiêu
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Để phát huy vai trò nòng cốt của lực
lượng vũ trang, kế thừa quan điểm Đại hội XII, Đại hội XIII nhấn mạnh và bổ
sung thêm: “… xây dựng Quân đội
nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại,
một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025,
cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn
đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy,
tinh nhuệ, hiện đại”[7]. Đây
là sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời gian
trước mắt và lâu dài. Tuy nhiên, Đảng ta còn xác định: “Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng
hậu và dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng, miền, trên biển. Quan
tâm xây dựng lực lượng bảo đảm trật tự an toàn xã hội ở cơ
sở, đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự ở cơ sở”[8]. Như vậy, quan điểm sức mạnh tổng hợp
và lực lượng toàn diện bảo vệ Tổ quốc, phản ánh sâu sắc tính chất toàn dân,
toàn diện của nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ
Tổ quốc thời kỳ mới được Đảng ta tiếp tục khẳng định với nội hàm sâu, rộng
thêm. Trong bối cảnh tình hình khu vực và Biển Đông diễn biến phức tạp, khó
lường, việc cụ thể hóa trong xây dựng lực lượng dự bị động viên và lực lượng
dân quân tự vệ trên biển là sáng tạo, đột phá trong tư duy của Đảng đáp ứng đòi
hỏi khách quan về tăng cường sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trong mọi mọi tình huống.
Đại hội XIII còn đề cập: “có cơ chế huy động nguồn lực từ địa phương và nguồn lực xã
hội cho xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh tại các khu vực phòng thủ”[9].
Thực tế chỉ ra, xây dựng tiềm lực quốc phòng, an ninh phải gắn với huy động,
hiện thực hóa tiềm lực đó thành sức mạnh để bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống
bằng cơ chế đúng đắn. Nội dung này thể hiện sự phát triển, hoàn thiện tư duy
của Đảng về cơ chế huy động nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Bốn
là, nhận thức về mối quan hệ biện
chứng giữa bảo vệ Tổ quốc với xây dựng đất nước ngày càng sâu sắc hơn
Trên cả phương diện lý luận và thực tiễn, bảo vệ Tổ quốc
không tách rời mà luôn gắn bó chặt chẽ với xây dựng, phát triển đất nước. Đối
với dân tộc Việt Nam, dựng nước đi đôi với giữ nước đã trở thành quy luật từ
hàng nghìn năm lịch sử. Thấu suốt quy luật khách quan đó cùng với đánh giá đúng
tình hình thế giới, khu vực và trong nước hiện nay, Đại hội XIII đã nhận thức về mối quan hệ biện chứng giữa hai
nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam ngày càng sâu sắc hơn. Ngay
trong chủ đề Đại hội, Đảng ta đã bổ sung, gắn chặt “xây dựng” với “bảo vệ” Tổ
quốc để hướng tới mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam vào giữa thế kỷ XXI:
“… tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ
vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế
kỷ XXI nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN”[10].
Năm là, bổ sung,
hoàn thiện hệ thống giải pháp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa
theo hướng tăng tính chủ động và khả thi
Quan điểm “bảo vệ Tổ quốc từ sớm,
từ xa” của Đảng ta là sự kế thừa tư tưởng giữ nước truyền thống của dân tộc
“lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy” và kế thừa, phát triển tư duy bảo vệ Tổ
quốc từ sớm, từ xa đã được đề cập trong các nghị quyết của Đảng. Xét về nội hàm
của quan điểm thì không mới, nhưng điều kiện thực hiện thì rõ ràng là khác so
với trước đây. Theo đó nhận thức của Đảng về yêu cầu, phương thức bảo vệ Tổ
quốc có sự phát triển ngày càng đầy đủ, sâu sắc và toàn diện hơn. Đại hội XIII
đã thể hiện rõ sự phát triển tư duy của Đảng về giải pháp nâng cao tính chủ
động và khả năng tổ chức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa vừa là quan điểm, vừa là phương châm chỉ đạo đúng đắn
của Đảng, cần được quán triệt nghiêm túc, thực hiện linh hoạt, sáng tạo, hiệu
quả bằng tổng thể các giải pháp đồng bộ trên các lĩnh vực, trong đó, giải pháp
về quốc phòng, an ninh là trọng yếu và đối ngoại giữ vai trò ngày càng quan
trọng. Riêng về lĩnh vực quốc phòng, an ninh, các giải pháp cơ bản đã được Đại
hội XII đề cập là: nắm và dự báo chính xác tình hình; tuyên truyền, giáo dục
quốc phòng và an ninh, bảo vệ Tổ quốc, nâng cao nhận thức về đối tác, đối
tượng; tăng cường xây dựng lực lượng, thế trận quốc phòng, an ninh; đẩy mạnh
hoạt động đối đối ngoại đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc.
Để tăng tính chủ động và khả năng
bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, Đại hội XIII bổ sung các giải pháp mới mang tính
hệ thống, toàn diện hơn: “Tiếp tục nghiên cứu, phát triển lý luận về quốc phòng,
quân sự, an ninh, nghệ thuật quân sự, nghệ thuật bảo vệ an ninh quốc gia, an
ninh xã hội trong tình hình mới. Nâng cao năng lực dự báo chiến lược, giữ vững thế chủ động chiến lược…”[11]. Về
vấn đề nhân tài, nhân lực bảo đảm cho bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện khoa học
và công nghệ phát triển cao, Đại hội XIII xác định: “Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách,
nâng cao chất lượng thu hút, đào tạo nhân tài, nguồn nhân lực chất lượng cao
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”[12].
Điều rất mới trong Báo cáo chính trị
Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định: “Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân
sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia,
Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, Chiến lược an ninh mạng quốc
gia và các chiến lược quốc phòng, an ninh chuyên ngành khác…”[13].
Sự phát triển tư duy bảo vệ Tổ quốc
trong Nghị quyết Đại hội XIII phản ánh
quy luật đổi mới mang tính cách mạng và sự phát triển mạnh mẽ của đất nước ta.
Nội dung tư duy và quan điểm bảo vệ Tổ quốc của Đảng hiện nay rất phong phú,
sâu sắc và thường xuyên được bổ sung, phát triển, hoàn thiện. Điều đó thể hiện
rõ năng lực lãnh đạo toàn diện, năng lực cầm quyền của Đảng ngày càng được nâng
cao đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Tư duy, quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc là ánh sáng chỉ đường cho thực
hiện thắng lợi nhiệm vụ Bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới hiện nay. Do vậy, việc
quán triệt tư duy, quan điểm, đường lối của Đảng về bảo vệ Tổ quốc trong đào
tạo, bồi dưỡng cán bộ là vấn đề rất quan trọng, cơ bản, thường xuyên và cấp
thiết.
Nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết
XIII của Đảng, mỗi đảng viên được nâng tầm nhận thức, tư duy, đồng thời củng cố
niềm tin khoa học vững chắc vào sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp xây dựng Quân đội,
củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đối với đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên
Học viện Biên phòng, cần nhận thức sâu sắc,
thấy rõ sự phát triển mới về tư duy bảo vệ Tổ quốc; thấu suốt các quan điểm,
chủ trương mà Đại hội XIII đã xác định; đề cao trách nhiệm, chủ động đưa những
nội dung quan trọng, cốt lõi về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc vào nội
dung bài giảng. Đồng thời, biết vận dụng các quan điểm cơ bản của Đại hội XIII
của Đảng nói chung, quan điểm, tư duy về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc
nói riêng vào hoạt động nghiên cứu khoa học, vào việc biên soạn tài liệu, giáo
trình phục vụ công tác đào tạo. Đồng thời, tích cực đấu tranh không khoan
nhượng với những biểu hiện nhận thức tiêu cực, lệch lạc, không đúng về nhiệm vụ
quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc nhất là trong giai đoạn hiện nay chúng ta đang
chuẩn bị cho Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Giáo dục quân nhân nâng
cao tinh thần cảnh giác cách mạng, đấu tranh vạch trần những âm mưu, thủ đoạn chống
phá cách mạng của các thế lực thù địch, các hoạt động của ngoại bang xâm phạm
chủ quyền lãnh thổ, vùng đất vùng trời,… của Tổ quốc. Đấu tranh với các hành vi
sai trái vi phạm trật tự, an ninh xã hội, ảnh hưởng đến cuộc sống an bình của
nhân dân.
Nguyễn
Hưng Giang – Khoa Khoa học Cơ bản


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét