Chủ nghĩa Mác do C.Mác và người bạn đồng hành
của mình là Ph.Ăngghen sáng lập vào những năm 40, 50 của thế kỷ XIX. Từ khi chủ
nghĩa Mác ra đời cho đến nay, thế giới đã trải qua biết bao biến cố, thăng trầm
song đời sống xã hội vẫn không nằm ngoài những quy luật phổ biến đã được C.Mác
chỉ ra. Khẳng định giá trị và sức sống trường tồn của chủ nghĩa Mác là cách để
chúng ta kiên định, kiên trì với việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong
giai đoạn hiện nay.
Giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác
Chủ nghĩa Mác là sự hợp thành
của ba bộ phận: triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học.
Nếu triết học nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư
duy con người thì kinh tế chính trị học nghiên cứu những quy luật kinh tế cơ
bản của xã hội, đặc biệt là xã hội tư bản chủ nghĩa; còn chủ nghĩa xã hội khoa
học nghiên cứu con đường, cách thức, động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội. Giá
trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác được thể hiện trên cả ba bộ phận cấu thành của
nó.
Thứ nhất, chủ nghĩa Mác là thế giới quan khoa học
và phương pháp luận biện chứng trong nhận thức và cải tạo thế giới.
Đúng như V.I.Lênin khẳng
định: “Toàn bộ thiên tài của Mác chính là ở chỗ ông đã giải đáp được những vấn
đề mà tư tưởng tiên tiến của nhân loại nêu ra... Chủ nghĩa Mác là học thuyết
vạn năng vì nó là một học thuyết chính xác. Nó là một học thuyết hoàn bị và
chặt chẽ; nó cung cấp cho người ta một thế giới quan hoàn chỉnh, không thỏa
hiệp với bất cứ một sự mê tín nào, một thế lực phản động nào, một hành vi nào
bảo vệ sự áp bức của tư sản”[1]
Nhờ có thế giới quan khoa học, C.Mác đã gắn
triết học, gắn lý luận cách mạng với đời sống thực tiễn, khắc phục sự đối lập
giữa lý luận với thực tiễn của các nhà triết học trước đó. C.Mác chỉ rõ: “Các
nhà triết học đã giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là
cải tạo thế giới”[2].
Chức năng “cải tạo thế giới” đã được các nhà sáng lập thực hiện rất triệt để và
có hiệu quả trong quá trình xây dựng và phát triển học thuyết của mình.
Bên cạnh việc cung cấp cho
chúng ta thế giới quan khoa học, chủ nghĩa Mác còn trang bị phương pháp luật
biện chứng trong việc nhận thức và cải tạo thế giới. Phép biện chứng duy vật
của chủ nghĩa Mác không chỉ là sự kết tinh những tinh hoa trong tư tưởng biện
chứng ngây thơ, chất phác thời cổ đại và phép biện chứng của triết học cổ điển
Đức mà còn khắc phục những hạn chế của tư tưởng biện chứng trước đó để trở
thành phép biện chứng duy vật. Theo đó, triết học duy vật biện chứng của C.Mác
luôn hướng về thực tiễn để hướng dẫn, giải quyết những vấn đề cơ bản và bức
thiết do thực tiễn đặt ra. Chính vì thế mà triết học duy vật biện chứng của
C.Mác có khả năng tự đổi mới và phát triển, trở thành vũ khí lý luận sắc bén
cho con người trong nhận thức và cải tạo thế giới. Thông qua phương pháp luận
của phép biện chứng duy vật, lần đầu tiên các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã gắn
triết học với đời sống hiện thực.
Thứ hai, chủ nghĩa Mác là học thuyết đúng đắn
về quá trình vận động và phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa.
Cùng với chủ nghĩa duy vật
lịch sử, học thuyết giá trị thặng dư là một trong hai phát kiến gắn liền với
tên tuổi của C.Mác. Theo đánh giá của V.I.Lênin, đây là “hòn đá tảng của học
thuyết kinh tế của Mác”, là “nội dung căn bản của chủ nghĩa Mác’’.
Khi nghiên cứu về xã hội tư
bản, C,Mác đã nhận ra rằng quy luật giá trị thặng dư là quy luật chung, chi
phối mọi hoạt động kinh tế của xã hội tư bản ở cả giai đoạn mới ra đời cho đến
lúc phát triển ở giai đoạn cao. Theo đó, sản xuất và chiếm hữu giá trị thặng dư
là hình thức đặc biệt trong chủ nghĩa tư bản về sản xuất và chiếm hữu sản phẩm
thặng dư, nghĩa là hình thức cao nhất của sự tha hóa con người đối với hoạt
động của mình, đối với sản phẩm từ hoạt động đó, đối với chính mình, đối với
người khác.
Có thể nói, với học
thuyết giá trị thặng dư, C.Mác đã tìm ra bí mật của phương thức bóc lột chủ
nghĩa tư bản, chỉ ra cơ chế, động lực tồn tại và phát triển của xã hội tư bản
là bóc lột giá trị thặng dư. C.Mác chỉ rõ mâu thuẫn cơ bản của xã hội tư bản là
mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất ngày càng xã hội hóa cao với chế độ chiếm hữu
tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất, mâu thuẫn giữa giai cấp công
nhân và những người lao động làm thuê với giai cấp tư sản. Trên cơ sở nhận thức
đúng đắn về quá trình phát triển của các quan hệ xã hội, C.Mác đã chỉ ra vai
trò lịch sử vĩ đại của giai cấp vô sản toàn thế giới với tư cách lực lượng có
khả năng cải tạo tận gốc các quan hệ xã hội, thủ tiêu tình trạng người bóc lột
người và xây dựng chế độ xã hội mới, tự giải phóng mình và qua đó, giải phóng
nhân loại.
Thứ ba, chủ nghĩa Mác là học thuyết nhân văn
vì hướng con người đến một xã hội tốt đẹp.
Khi mới 17 tuổi - khi vừa mới tốt nghiệp
trung học, C.Mác đã nêu rõ quan điểm khi chọn nghề: “Nếu chúng ta lựa chọn một
nghề mà trong đó chúng ta có thể lao động nhiều nhất cho loài người thì chúng
ta sẽ không cúi đầu vằn lưng dưới gánh nặng của nó, bởi gánh nặng ấy là sự hy
sinh vì mọi người, khi ấy điều chúng ta cảm nhận được không phải là một niềm
vui thảm hại, hạn hẹp, vị kỷ, mà niềm hạnh phúc của chúng ta sẽ thuộc về hàng
triệu người, lúc đó sự nghiệp của chúng ta sẽ có một cuộc sống thầm lặng nhưng
có hiệu lực vĩnh hằng, và những con người cao thượng sẽ rơi những giọt lệ cháy
bỏng trước thi hài của chúng ta” [3]Những
tư tưởng đó đã ươm mầm cho tính nhân văn của chủ nghĩa Mác sau này. Do vậy,
ngay từ khi mới ra đời, chủ nghĩa Mác đã mang tinh thần nhân văn bởi các nhà
sáng lập chủ nghĩa Mác không chỉ bàn đến những vấn đề của xã hội hiện tại - xã
hội tư bản chủ nghĩa mà còn nói đến cả xã hội tương lai. Đó là xã hội cộng sản
chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là xã hội xã hội chủ nghĩa.
Khát vọng của C.Mác khi xây dựng chủ nghĩa
cộng sản là “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển
tự do của tất cả mọi người”. Chính điều này đã làm nên tính nhân văn của chủ
nghĩa Mác mà không học thuyết nào có được. Do đó, những người lên tiếng phê
phán chủ nghĩa Mác vì họ cho rằng đó chỉ là quyết định luận kinh tế, ít quan
tâm đến vai trò của con người, là “chủ nghĩa lý luận không có con người”, hay
đối với C.Mác, chỉ có con người giai cấp, không có con người cá nhân… là những quan
điểm sai lầm, phiến diện nhằm phủ nhận tính nhân văn của chủ nghĩa Mác.
Sức sống trường tồn của chủ nghĩa Mác trong
thời đại ngày nay
Dù đã ra đời cách đây gần 200
năm nhưng những quan điểm của chủ nghĩa Mác vẫn có sức sống bền vững và giá trị
trường tồn. Sức sống của chủ nghĩa Mác được thể hiện ở chỗ nó đã giải đáp những
vấn đề mà tư tưởng tiến tiến của loài người đặt ra, soi sáng các nhiệm vụ lịch
sử đã chín muồi của nhân loại. Đó là nhiệm vụ giải phóng con người khói mọi
hình thức áp bức, bóc lột, khỏi mọi sự tha hóa. Mặc dù ngay từ khi mới ra
đời và trong giai đoạn hiện nay, vẫn luôn có nhiều quan điểm phê phán, xuyên
tạc nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác nhưng cho đến ngày nay, đó vẫn là một học
thuyết khoa học và cách mạng duy nhất đáp ứng mọi nhiệm vụ của lịch sử mà không
một học thuyết nào có thể thay thế được.
Ngày nay, sức sống của chủ
nghĩa Mác còn tiếp tục được thể hiện ở chỗ dù đời sống thực tiễn của xã hội
hiện đại đã vận động, phát triển qua rất nhiều giai đoạn khác nhau với những
khúc quanh co, thăng trầm song cũng không vượt ra ngoài những quy luật phổ biến
được được trình bày trong học thuyết Mác dù người ta có thừa nhận hay không
thừa nhận điều đó.
Trong tình hình hiện nay, chính từ các quốc
gia tư bản phương Tây, người ta lại thấy có những tiếng nói về những giá trị
của chủ nghĩa Mác, của học thuyết kinh tế Mác, về phong trào “trở về với Mác”,
tìm đọc Mác. Đặc biệt, ở những thời điểm diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính và
suy thoái kinh tế toàn cầu 2008 - 2009, trong khủng khoảng nợ công và suy thoái
kinh tế ở nhiều quốc gia tư bản phát triển, phong trào “trở về với C.Mác”, tìm
đọc C.Mác lại trở nên sôi nổi hơn bao giờ hết. Những tác phẩm kinh điển của
C.Mác vẫn được tìm đọc nhiều nhất, đặc biệt là bộ “Tư bản” của C.Mác vẫn xếp số
1 trên thế giới và được dịch ra 134 ngôn ngữ ở 63 nước.
Không thể cố nói bừa rằng, chủ nghĩa Mác là
học thuyết “ảo tưởng”, đã “lạc hậu, lỗi thời” khi chính học thuyết này đã tạo
nên những hiện thực làm biến đổi thế giới, thúc đẩy sự phát triển, tiến bộ của
lịch sử loài người và có sức lôi cuốn cũng như tầm ảnh hưởng sâu rộng toàn nhân
loại.
Để bảo vệ chủ nghĩa Mác, một mặt chúng ta
phải luôn kiên định, vững vàng với những nguyên lý cho tính chất nền tảng của
chủ nghĩa Mác, mặt khác cũng phải không ngừng bổ sung, phát triển những quan
điểm của học thuyết này cho phù hợp với thực tiễn. Việc bổ sung, phát triển đó
không phải là “xét lại” chủ nghĩa Mác; cũng không phải là làm lu mờ chân giá
trị của chủ nghĩa Mác mà là làm cho những nội dung, quan điểm của học thuyết
Mác được có thêm sức sống mới, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của giai đoạn hiện
nay. Đó là một việc làm hết sức khó khăn đòi hỏi những người mácxít phải kiên
trì, có bản lĩnh và có trách nhiệm với hệ thống lý luận khoa học và cách mạng
được coi là nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay.
Thiếu tá, ThS Nguyễn Thị Thanh Thuận – Khoa CTĐ, CTCT
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, t.23, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, tr. 49-50.
2. C.Mác và Ph.Ăngghen (1994), Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.12.
3. Mác- Ăngghen (1994), Toàn tập, t.40, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.18.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét