Kiên quyết đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc về vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân việt nam

 


Vai trò của công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là nhân tố bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Tuy nhiên, với âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, làm suy giảm vai trò lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang, tiến tới gây mất ổn định chính trị - xã hội và phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, các thế lực thù địch và phần tử chống đối luôn tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận vai trò của công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Thông qua nhiều phương thức và thủ đoạn khác nhau, chúng không ngừng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, hạ thấp vị trí, vai trò của công tác chính trị, nhằm làm suy yếu bản chất cách mạng, truyền thống và sức mạnh chiến đấu của quân đội.

Hiện nay, các thế lực chống đối và thù địch đang tăng cường sử dụng các phương tiện truyền thông, internet, blog, mạng xã hội, các đài phát thanh chương trình Việt ngữ, báo, tạp chí, nhà xuất bản tiếng Việt, các website; lập nên những “diễn đàn” hòng tập hợp những phần tử bất mãn, chống đối và cả những kẻ đã bị kỷ luật giờ quay lại chống phá… nhằm “tập hợp ý kiến”, nhân danh “đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực”, “phản biện xã hội”, “hiến kế cho Đảng”… Từ đó, trích dẫn, bình luận và  phát tán những thông tin xấu, độc nhằm chống phá, xuyên tạc về vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam. Có thể nhận diện luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch qua các nhóm vấn đề sau:

Thứ nhất, các thế lực thù địch cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam sử dụng công tác chính trị là nhằm mục đích biến quân đội thành “công cụ bạo lực tiêu diệt tất cả những ai chống lại Đảng” (!?). Chúng sử dụng các kỹ thuật cắt xén, lắp ghép hình ảnh của các cuộc hành quân, tập trận, hình ảnh hỗ trợ lực lượng an ninh trong công tác phòng, chống bạo loạn, trấn áp tội phạm… để rồi dựng lên câu chuyện quân đội “được Đảng điều đi để dập tắt một cuộc biểu tình của nhân dân”(!?) và “sẵn sàng dùng lực lượng đó để đàn áp những tiếng nói bất đồng chính kiến”.

Lịch sử hơn 80 năm với những chiến công mang tầm vóc thời đại của Quân đội nhân dân Việt Nam đã cho thấy: Một trong những yếu tố vô cùng quan trọng góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của Quân đội ta đó chính là nhờ có công tác lý luận chính trị trong quân đội. Việc Đảng ta ban hành Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (1944) để từ đó hình thành nên Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân gồm 34 chiến sĩ (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay) đã cho thấy công tác lý luận chính trị “không chỉ có giá trị định hướng dẫn dắt mọi hoạt động của Đội mà nó còn đánh dấu bước hoàn chỉnh lý luận xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền ở Việt Nam” (1). Đây cũng là cơ sở đầu tiên dẫn đến hai chiến thắng liên tiếp là Phai Khắt và Nà Ngần vào ngày 25 và 26/12/1944. Chiến thắng này một mặt gây tâm lí hoang mang, lo sợ trong hàng ngũ quân địch, đồng thời cổ vũ tinh thần cách mạng của quân chúng nhân dân, gấp rút chuẩn bị mọi mặt để chớp thời cơ vùng dậy đạp đổ xiềng xích của thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân.

Trải qua thời gian, từ Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (1944) cho đến các văn kiện ở các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc sau này đều đã khẳng định: Công tác chính trị với nền tảng là Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trang bị cho cán bộ, chiến sĩ thế giới quan khoa học, phương pháp luận đúng đắn, niềm tin cộng sản; ngày càng nêu cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”... Từ đó, nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Công tác này định hướng tư tưởng cho bộ đội trước những vấn đề nhạy cảm, phức tạp; xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”; đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động.

Là đội quân từ “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” (Hồ Chí Minh), nếu trong thời chiến, quân đội ta đã giành chiến thắng trước những kẻ thù xâm lược mạnh, có tiềm lực hơn ta gấp nhiều lần (thực dân Pháp, đế quốc Mỹ) thì trong thời bình, là sự dũng cảm, mưu lược đầy trí tuệ và khoa học trước những nhiệm vụ mới. Đó là dự báo và nắm chắc đúng tình hình liên quan đến quốc phòng - an ninh, trong quan hệ đối nội và đối ngoại; luôn chủ động để đất nước không bị động, bất ngờ về chiến lược, đồng thời không để cho các thế lực thù địch lợi dụng, chống phá; luôn giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và quan hệ tốt với các nước láng giềng; bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội nhanh và bền vững; luôn là lực lượng xung kích đi đầu và thể hiện trách nhiệm cao trong việc giúp dân, khắc phục thiên tai, bão lũ... Đặc biệt, trong thực hiện nghĩa vụ quốc tế với mục tiêu hòa bình, ổn định để cùng phát triển, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ cao cả như: giúp nhân dân Campuchia, nhân dân Lào trong sự nghiệp đấu tranh chống quân xâm lược, giải phóng dân tộc; cử các đội tình nguyện thực thi các nhiệm vụ gìn giữ hòa bình ở Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi (thông qua các Bệnh viện dã chiến các cấp), cử Đoàn cứu hộ, cứu nạn đến Thổ Nhĩ Kỳ làm nhiệm vụ hỗ trợ nước bạn khắc phục hậu quả thảm họa động đất... Những việc làm này đã góp phần khẳng định uy tín, vị thế, tinh thần trách nhiệm, năng lực tác chiến của Quân đội ta và khẳng định với thế giới: Quân đội Nhân dân Việt Nam là đội quân không chỉ bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ Nhân dân, bảo vệ Tổ quốc mà còn hoàn thành nghĩa vụ quốc tế cao cả. Do đó, cái gọi là “công cụ” để “tiêu diệt tất cả những ai chống lại Đảng” chỉ là những chiêu trò vu khống, xuyên tạc mà các thế lực thù địch đã và đang tiến hành.

Thứ hai, hoàn toàn ấu trĩ và sai lầm khi cho rằng: vì được trang bị công tác chính trị của Đảng nên quân đội Việt Nam đã mất đi vai trò “trung lập” cũng như mất đi sức mạnh, sức chiến đấu. Theo Từ điển Tiếng Việt, “trung lập” có nghĩa là một tổ chức, một tập thể hoặc cá nhân nào đó “đứng ở giữa hai bên đối lập, không theo hoặc không phụ thuộc vào bên nào”. Hiểu theo nghĩa này thì “quân đội trung lập” là khi “không theo hoặc không phụ thuộc” vào một trong “hai bên đối lập”, và quân đội của một quốc gia chỉ “trung lập” khi quốc gia đó đang có sự tồn tại của “các bên đối lập” tranh giành nhau về quyền lực, lợi ích, vị thế xã hội…Xét trong bối cảnh tổng thể hiện nay, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một khối thống nhất về mặt dân tộc, lịch sử, kinh tế... Hệ thống chính trị của Việt Nam gắn bó chặt chẽ với nhau, cùng chung mục đích xây dựng, phát triển đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội, do Đảng Cộng sản lãnh đạo: “Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ” (2)…

Như vậy, ở Việt Nam hiện nay hoàn toàn không có cái gọi là “hai bên đối lập”. Ở Việt Nam, trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng: “Cả lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng Quân đội bao giờ cũng mang bản chất giai cấp và chịu sự lãnh đạo của giai cấp đã tổ chức ra nó; đó là cơ sở để xác định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chức năng, nhiệm vụ, các mối quan hệ của Quân đội. Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện, luôn mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tỉnh nhân dân sâu sắc, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và tự do, hạnh phúc của nhân dân” (3) … Như vậy, quân đội xét ở bất kỳ góc độ nào cũng không thể có cái gọi là “quân đội trung lập”! Điều này, đã từng được Lênin chỉ rõ: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội vào chính trị, đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ, giả nhân, giả nghĩa của giai cấp tư sản…”(4) . Rõ ràng là “Quân đội không thể và không nên trung lập”.

Từ lịch sử và thực tiễn hoạt động của Quân đội Nhân dân Việt Nam, chúng ta thấy: Sức mạnh của quân đội cách mạng là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: con người, vũ khí, trang bị, nghệ thuật, cách đánh, truyền thống dân tộc… trong đó, con người và vũ khí là yếu tố cơ bản nhất. Đặc biệt, yếu tố giữ vai trò quyết định đến sức mạnh chiến đấu của quân đội là yếu tố chính trị tinh thần: “Quân đội muốn nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh, trình độ sẵn sàng chiến đấu; đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới thì phải lấy vững mạnh về chính trị và chuẩn mực “Bộ đội cụ Hồ” làm cơ sở” (5)

Thứ ba, chỉ là chiêu trò đánh tráo khái niệm khi cho rằng một số cán bộ, sĩ quan trong quân đội vi phạm kỷ luật là “sai phạm của cả hệ thống”, là “căn bệnh chung do quy trình đào tạo bổ nhiệm cán bộ tạo ra”. Thời gian qua, đã có một số sĩ quan cấp tướng và nhiều cán bộ khác của Quân đội được giao trọng trách nhưng đã mắc những vi phạm, khuyết điểm nghiêm trọng; làm thất thoát, lãng phí lớn ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng đến kỷ luật, kỷ cương Quân đội và gây bức xúc trong xã hội. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những sai phạm này, tuy nhiên, nguyên nhân cơ bản và sâu xa nhất đó là do ý định chủ quan của chính những người vi phạm. Cụ thể: Những người vi phạm này, hoặc là họ lợi dụng chức vụ, quyền hạn được Nhà nước, Quân đội giao; hoặc là mắc bệnh công thần, kiêu ngạo dẫn đến chủ nghĩa cá nhân, xa rời tổ chức, coi thường kỷ luật Đảng, kỷ cương phép nước. Họ không ý thức được trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của mình, đòi hỏi thái quá ở tổ chức, tự cao, tự đại nên đã nảy sinh tiêu cực. Những người này đã suy thoái về tư tưởng chính trị, lối sống; thiếu bản lĩnh chính trị, thiếu rèn luyện đạo đức... và hoàn toàn không phải là đại diện cho cho Quân đội, cho hệ thống chính trị Việt Nam!

Thực tế đã cho thấy: lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội và các cựu chiến binh, cựu quân nhân vẫn luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân; luôn giữ gìn và phát huy truyền thống cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Những trường hợp sai phạm như trên chỉ là cá biệt, là “con sâu làm rầu nồi canh” và đã phải nhận những hình thức kỷ luật đích đáng. Điều này đã cho thấy quan điểm nhất quán của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và rộng hơn là của Đảng và Nhà nước ta: Vừa kiên quyết xử lý sai phạm một cách công khai, nghiêm minh để giữ cho được lòng tin của nhân dân, giữ cho được bản chất trong sạch của chế độ, vừa giữ vững những giá trị, phẩm chất tốt đẹp của Quân đội. Như vậy, việc một số cán bộ, sĩ quan trong quân đội vi phạm kỷ luật  hoàn toàn không phải là sai phạm của “cả hệ thống” mà chỉ là sai phạm của cá nhân. Việc đổ thừa cho quy trình đào tạo bổ nhiệm cán bộ mà Đảng, Quân ủy trung ương, thực chất chỉ là chiêu trò lèo lái dư luận, đánh tráo khái niệm nhằm chia rẽ và phá hoại của các thế lực thù địch. Bên cạnh đó, việc các thế lực thù địch, phản động lấy nguyên cớ để quy chụp, phủ nhận còn cho thấy rằng, họ hoặc cố tình, hoặc rất kém hiểu biết về thực tiễn sinh động đang diễn ra. Bởi lẽ, trước hoặc cùng một sự vật sự việc nhưng lại mang một tư duy hẹp hòi, định kiến thì những người này sẽ không hoặc khó có thể nhìn thấy điểm tốt, điểm tích cực của sự vật, sự việc ấy.

Rõ ràng, các quan điểm sai trái, xuyên tạc về vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân Việt Nam mà các thế lực thù địch đang tiến hành, về bản chất đó là sự chia rẽ và phá hoại nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng ta đối với quân đội, vô hiệu hóa vai trò của quân đội trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, để đập tan âm mưu phản động này, chúng ta cần làm tốt hơn nữa công tác chính trị trong quân đội: Kịp thời định hướng tư tưởng cho bộ đội trước những vấn đề nhạy cảm, phức tạp; xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”; đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động; giữ vững được bản lĩnh chính trị, giữ vững kỷ cương, kỷ luật một cách nghiêm minh… và hơn hết: “Bất luận trong hoàn cảnh nào cũng luôn kiên định nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân; tách rời sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta sẽ mất phương hướng chiến đấu, phân rã về chính trị, tư tưởng, tổ chức, không còn sức mạnh để chiến thắng quân thù. Bài học đắt giá về sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây vẫn còn nguyên giá trị” (6). Đây cũng chính là một trong những cơ sở quan trọng để góp phần vào việc xây dựng một nước Việt Nam “Trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” như mong muốn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Đặt trong bối cảnh lịch sử hơn 80 năm xây dựng chiến đấu và trưởng thành của Quân đội Nhân dân Việt Nam, đặt trong mối quan hệ biện chứng “cá – nước” giữa Quân đội và Nhân dân Việt Nam, và xét trong mối quan hệ với thế giới, chúng ta hoàn toàn có cơ sở khẳng định rằng: Công tác lý luận chính trị trong Quân đội không phải là hoạt động giáo điều khiến cho người chiến sĩ u mê, chỉ biết có mỗi việc cầm vũ khí; cũng không phải là sự ràng buộc để làm cho quân nhân sợ sệt… như những luận điệu xuyên tạc và xảo trá của các thế lực thù địch, chống đối; mà ngược lại: “Bản chất công tác đảng, công tác chính trị là hoạt động lãnh đạo. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, ứng tác chính trị chính là giữ vững và phát huy sự lãnh đạo của Đảng đối với các mặt hoạt động, các nhiệm vụ của Quân đội, góp phần xây dựng tổ chức, con người vững mạnh, thiết thực xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị” (7)

Là bộ phận trọng yếu trong hoạt động của Quân đội nhân dân Việt Nam, công tác đảng, công tác chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng trong xây dựng bản lĩnh chính trị, nhân cách và phẩm chất của người quân nhân cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác chính trị luôn là nền tảng tinh thần vững chắc, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, nâng cao sức mạnh tổng hợp và bảo đảm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong từng giai đoạn lịch sử.

Thượng tá, Nguyễn Thị Minh Lý, Khoa Khoa học cơ bản, Học viện Biên phòng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(1) Nguyễn Văn Sự: Sự ra đời của Quân đội nhân dân Việt Nam - Cột mốc đánh dấu sự phát triển của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, Tạp chí Tuyên Giáo điện tử, ngày 21/12/2019.

(2) (3) (5) (6) (7) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2022, tr. 28, 430-431, 440, 430-431, 433.

(4)  V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Matxcơva 1979, tr. 136.

Đọc tiếp »

Đại đoàn kết toàn dân tộc - khơi dậy khát vọng phồn vinh, văn minh, hạnh phúc



Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031 diễn ra trong các ngày 11, 12 và 13/5/2026 tại Hà Nội là sự kiện chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị - xã hội của đất nước; là dấu mốc lịch sử, mở đầu cho nhiệm kỳ vận hành bộ máy với tầm vóc và chặng đường phát triển mới khi các tổ chức chính trị - xã hội và các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ về trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Đại hội diễn ra trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đang tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, quyết tâm đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh, văn minh và hạnh phúc.

Khơi dậy sức dân - tạo sự đồng thuận và huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc thành nguồn lực phát triển đất nước

Với chủ đề “Đoàn kết - Dân chủ - Đổi mới - Sáng tạo - Phát triển”, Đại hội lần thứ XI của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không chỉ là ngày hội lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà còn thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ trong việc tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ chuyển đổi số, hội nhập quốc tế sâu rộng và phát triển nhanh, bền vững.

Đại hội lần thứ XI của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam diễn ra ngay sau thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, vì vậy đã trực tiếp cụ thể hóa những quan điểm, chủ trương lớn của Đảng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với Nhân dân.

Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định con người vừa là trung tâm, vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu và động lực của sự phát triển. Đảng nhấn mạnh yêu cầu khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Trong bối cảnh đó, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam càng trở nên đặc biệt quan trọng với tư cách là liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện rộng lớn nhất của các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Mặt trận chính là nơi quy tụ sức mạnh lòng dân, kết nối niềm tin xã hội, tạo sự đồng thuận và huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tiêu đề Báo cáo chính trị của Đại hội XI Mặt trận Tổ quốc Việt Nam: “Nâng cao vai trò nòng cốt chính trị của Mặt trânh Tổ quốc Việt Nam trong phát huy dân chủ, truyền thống yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước phát triển giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc” đã phản ánh sâu sắc tinh thần xuyên suốt của Đại hội XIV của Đảng, là lời hiệu triệu hành động đối với toàn hệ thống Mặt trận trong giai đoạn phát triển mới.

“Mặt trận số” và cuộc cách mạng quản trị xã hội

Một trong những điểm nổi bật của Đại hội XI là tinh thần đổi mới mạnh mẽ, quyết liệt và thực chất trong tư duy tổ chức và hành động. Điều đó được thể hiện rõ qua việc triển khai ứng dụng “Đại hội XI - Mặt trận Tổ quốc Việt Nam” nhằm phục vụ công tác tổ chức theo hướng hiện đại, tiết kiệm và hiệu quả. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, giảm thiểu giấy tờ, xây dựng nền tảng tài liệu điện tử, sơ đồ chỗ ngồi thông minh, cập nhật thông tin trực tuyến cho đại biểu cho thấy Mặt trận đang chủ động thích ứng với yêu cầu của xã hội số và công dân số. Đây là biểu hiện sinh động của quá trình cụ thể hóa các chủ trương của Đảng về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, coi đây là động lực đột phá cho phát triển đất nước trong thời kỳ mới.

Đặc biệt, việc bổ sung Chương trình hành động về “Tham gia phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, xây dựng xã hội số; đẩy mạnh chuyển đổi số trong hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam” được xem là bước đột phá quan trọng của nhiệm kỳ 2026 - 2031. Điều đó khẳng định Mặt trận không đứng ngoài tiến trình phát triển khoa học công nghệ của đất nước mà trực tiếp tham gia thúc đẩy chuyển đổi số, nâng cao dân trí số, phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội trên môi trường số. Trong bối cảnh người dân ngày càng đòi hỏi tính minh bạch, công khai, khả năng tương tác nhanh chóng và hiệu quả giữa các tổ chức chính trị - xã hội với Nhân dân, việc xây dựng Mặt trận số là yêu cầu tất yếu. Đây cũng là bước đi quan trọng để nâng cao chất lượng hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tiếp nhận ý kiến Nhân dân và tăng cường sự tham gia của người dân vào đời sống chính trị - xã hội.

Tinh thần đổi mới của Đại hội còn được thể hiện rõ ở phương châm “hành động thay vì khẩu hiệu”. Dự thảo kế hoạch thực hiện Nghị quyết được xây dựng song song với văn kiện Đại hội cùng hơn 100 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể, phân công rõ trách nhiệm và lộ trình thực hiện. Điều đó phản ánh tư duy quản trị hiện đại, đề cao hiệu quả thực chất, khắc phục tình trạng hình thức, chung chung trong triển khai nghị quyết. Đây cũng là sự quán triệt sâu sắc tinh thần hành động quyết liệt mà Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh nhằm xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, thực sự phục vụ Nhân dân.

Phương châm “3 dễ, 3 rõ, 3 đo”  (Dễ hiểu - Dễ nhớ - Dễ làm; Rõ mục tiêu - Rõ trách nhiệm - Rõ thời gian; Đo đầu vào - Đo đầu ra - Đo tác động) là điểm mới nổi bật, thể hiện quyết tâm đổi mới tư duy hoạt động của Mặt trận theo hướng khoa học, định lượng và thực chất hơn. Đây không chỉ là phương pháp quản trị công việc mà còn là yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ Mặt trận chuyên nghiệp, gần dân, sát dân, hiểu dân và có trách nhiệm với dân. Trong điều kiện xã hội ngày càng phát triển, dân trí ngày càng cao, Nhân dân ngày càng đặt yêu cầu lớn đối với chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị, việc áp dụng các tiêu chí định lượng rõ ràng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, phản biện xã hội và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Công tác nhân sự của Đại hội XI cũng cho thấy nhiều đổi mới quan trọng phù hợp với yêu cầu của giai đoạn phát triển mới. Dù số lượng Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận khóa XI không tăng so với nhiệm kỳ trước, nhưng cơ cấu thành phần được điều chỉnh mạnh mẽ theo hướng mở rộng đại diện các chuyên gia, trí thức, doanh nhân và cá nhân tiêu biểu trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Việc tăng cường sự tham gia của đội ngũ trí thức, nhà khoa học, chuyên gia pháp lý và doanh nhân tư nhân không chỉ phản ánh xu hướng phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà còn phù hợp với tinh thần Đại hội XIV của Đảng về phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân, trí thức và lực lượng sáng tạo trong xây dựng đất nước. Đây là bước chuyển quan trọng nhằm tạo ra sự kết nối chặt chẽ hơn giữa trí tuệ xã hội, năng lực sáng tạo của Nhân dân với quá trình hoạch định và thực thi chính sách.

Nhân dân cả nước kỳ vọng Đại hội sẽ lựa chọn được đội ngũ cán bộ thực sự có bản lĩnh chính trị vững vàng, có uy tín, năng lực, tư duy đổi mới, gần dân, sát dân và có khả năng vận động quần chúng hiệu quả. Đó cũng chính là yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng: phải thực sự là công bộc của Nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Thành công của Đại hội sẽ tạo động lực mới để tiếp tục phát huy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Với tinh thần “Đoàn kết - Dân chủ - Đổi mới - Sáng tạo - Phát triển”, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sẽ tiếp tục khẳng định vai trò nòng cốt chính trị trong xây dựng đồng thuận xã hội, kết nối lòng dân, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước và huy động sức mạnh toàn dân tộc để cùng đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh, phồn vinh, văn minh và hạnh phúc./.

Thiếu tá Nguyễn Thị Thanh Thuận – Khoa CTĐ, CTCT

 

Tài liệu tham khảo:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Tập II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026.

Đọc tiếp »

Kiên quyết đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc về vai trò của công tác chính trị trong quân đội nhân dân việt nam

  Vai trò của công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là nhân tố bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, ...