Vai trò của
công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng,
là nhân tố bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với
quân đội, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức
và đạo đức. Tuy nhiên, với âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội, làm suy giảm
vai trò lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang, tiến tới gây mất ổn định
chính trị - xã hội và phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, các thế lực
thù địch và phần tử chống đối luôn tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận vai trò của
công tác chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Thông qua nhiều phương thức
và thủ đoạn khác nhau, chúng không ngừng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng,
hạ thấp vị trí, vai trò của công tác chính trị, nhằm làm suy yếu bản chất cách
mạng, truyền thống và sức mạnh chiến đấu của quân đội.
Hiện nay,
các thế lực chống đối và thù địch đang tăng cường sử dụng các phương tiện truyền
thông, internet, blog, mạng xã hội, các đài phát thanh chương trình Việt ngữ,
báo, tạp chí, nhà xuất bản tiếng Việt, các website; lập nên những “diễn đàn”
hòng tập hợp những phần tử bất mãn, chống đối và cả những kẻ đã bị kỷ luật giờ
quay lại chống phá… nhằm “tập hợp ý kiến”, nhân danh “đấu tranh chống tham
nhũng, tiêu cực”, “phản biện xã hội”, “hiến kế cho Đảng”… Từ đó, trích dẫn,
bình luận và phát tán những thông tin xấu,
độc nhằm chống phá, xuyên tạc về vai trò của công tác chính trị trong quân đội
nhân dân Việt Nam. Có thể nhận diện luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch
qua các nhóm vấn đề sau:
Thứ nhất,
các thế lực thù địch cho rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam sử dụng công tác chính trị
là nhằm mục đích biến quân đội thành “công cụ bạo lực tiêu diệt tất cả những ai
chống lại Đảng” (!?). Chúng sử dụng các kỹ thuật cắt xén, lắp ghép hình ảnh của
các cuộc hành quân, tập trận, hình ảnh hỗ trợ lực lượng an ninh trong công tác
phòng, chống bạo loạn, trấn áp tội phạm… để rồi dựng lên câu chuyện quân đội
“được Đảng điều đi để dập tắt một cuộc biểu tình của nhân dân”(!?) và “sẵn sàng
dùng lực lượng đó để đàn áp những tiếng nói bất đồng chính kiến”.
Lịch sử hơn
80 năm với những chiến công mang tầm vóc thời đại của Quân đội nhân dân Việt
Nam đã cho thấy: Một trong những yếu tố vô cùng quan trọng góp phần tạo nên sức
mạnh tổng hợp của Quân đội ta đó chính là nhờ có công tác lý luận chính trị
trong quân đội. Việc Đảng ta ban hành Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền
giải phóng quân (1944) để từ đó hình thành nên Đội Việt Nam Tuyên truyền giải
phóng quân gồm 34 chiến sĩ (tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay)
đã cho thấy công tác lý luận chính trị “không chỉ có giá trị định hướng dẫn dắt
mọi hoạt động của Đội mà nó còn đánh dấu bước hoàn chỉnh lý luận xây dựng lực
lượng vũ trang cách mạng trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền ở Việt Nam”
(1). Đây cũng là cơ sở đầu tiên dẫn đến hai chiến thắng liên tiếp là Phai
Khắt và Nà Ngần vào ngày 25 và 26/12/1944. Chiến thắng này một mặt gây tâm lí
hoang mang, lo sợ trong hàng ngũ quân địch, đồng thời cổ vũ tinh thần cách mạng
của quân chúng nhân dân, gấp rút chuẩn bị mọi mặt để chớp thời cơ vùng dậy đạp
đổ xiềng xích của thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân.
Trải qua
thời gian, từ Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân
(1944) cho đến các văn kiện ở các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc sau này đều đã khẳng
định: Công tác chính trị với nền tảng là Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh đã trang bị cho cán bộ, chiến sĩ thế giới quan khoa học, phương pháp luận
đúng đắn, niềm tin cộng sản; ngày càng nêu cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện theo
tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”...
Từ đó, nâng cao bản lĩnh chính trị, ý thức trách nhiệm trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ. Công tác này định hướng tư tưởng cho bộ đội trước những vấn đề nhạy cảm,
phức tạp; xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh
toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”; đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn “diễn
biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động.
Là đội
quân từ “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu” (Hồ Chí Minh), nếu trong
thời chiến, quân đội ta đã giành chiến thắng trước những kẻ thù xâm lược mạnh,
có tiềm lực hơn ta gấp nhiều lần (thực dân Pháp, đế quốc Mỹ) thì trong thời
bình, là sự dũng cảm, mưu lược đầy trí tuệ và khoa học trước những nhiệm vụ mới.
Đó là dự báo và nắm chắc đúng tình hình liên quan đến quốc phòng - an ninh,
trong quan hệ đối nội và đối ngoại; luôn chủ động để đất nước không bị động, bất
ngờ về chiến lược, đồng thời không để cho các thế lực thù địch lợi dụng, chống
phá; luôn giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và quan hệ
tốt với các nước láng giềng; bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường
thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội nhanh và bền vững; luôn là lực lượng
xung kích đi đầu và thể hiện trách nhiệm cao trong việc giúp dân, khắc phục
thiên tai, bão lũ... Đặc biệt, trong thực hiện nghĩa vụ quốc tế với mục tiêu
hòa bình, ổn định để cùng phát triển, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã hoàn thành
xuất sắc các nhiệm vụ cao cả như: giúp nhân dân Campuchia, nhân dân Lào trong sự
nghiệp đấu tranh chống quân xâm lược, giải phóng dân tộc; cử các đội tình nguyện
thực thi các nhiệm vụ gìn giữ hòa bình ở Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi (thông
qua các Bệnh viện dã chiến các cấp), cử Đoàn cứu hộ, cứu nạn đến Thổ Nhĩ Kỳ làm
nhiệm vụ hỗ trợ nước bạn khắc phục hậu quả thảm họa động đất... Những việc làm
này đã góp phần khẳng định uy tín, vị thế, tinh thần trách nhiệm, năng lực tác
chiến của Quân đội ta và khẳng định với thế giới: Quân đội Nhân dân Việt Nam là
đội quân không chỉ bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ Nhân dân, bảo vệ Tổ quốc mà
còn hoàn thành nghĩa vụ quốc tế cao cả. Do đó, cái gọi là “công cụ” để “tiêu diệt
tất cả những ai chống lại Đảng” chỉ là những chiêu trò vu khống, xuyên tạc mà
các thế lực thù địch đã và đang tiến hành.
Thứ hai,
hoàn toàn ấu trĩ và sai lầm khi cho rằng: vì được trang bị công tác chính trị của
Đảng nên quân đội Việt Nam đã mất đi vai trò “trung lập” cũng như mất đi sức mạnh,
sức chiến đấu. Theo Từ điển Tiếng Việt, “trung lập” có nghĩa là một tổ chức, một
tập thể hoặc cá nhân nào đó “đứng ở giữa hai bên đối lập, không theo hoặc không
phụ thuộc vào bên nào”. Hiểu theo nghĩa này thì “quân đội trung lập” là khi
“không theo hoặc không phụ thuộc” vào một trong “hai bên đối lập”, và quân đội
của một quốc gia chỉ “trung lập” khi quốc gia đó đang có sự tồn tại của “các
bên đối lập” tranh giành nhau về quyền lực, lợi ích, vị thế xã hội…Xét trong bối
cảnh tổng thể hiện nay, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một khối thống
nhất về mặt dân tộc, lịch sử, kinh tế... Hệ thống chính trị của Việt Nam gắn bó
chặt chẽ với nhau, cùng chung mục đích xây dựng, phát triển đất nước, tiến lên
chủ nghĩa xã hội, do Đảng Cộng sản lãnh đạo: “Trong chế độ chính trị xã hội chủ
nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ
thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp
luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của
nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát
là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ” (2)…
Như vậy, ở
Việt Nam hiện nay hoàn toàn không có cái gọi là “hai bên đối lập”. Ở Việt Nam,
trải qua thực tiễn đấu tranh cách mạng: “Cả lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng
Quân đội bao giờ cũng mang bản chất giai cấp và chịu sự lãnh đạo của giai cấp
đã tổ chức ra nó; đó là cơ sở để xác định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chức
năng, nhiệm vụ, các mối quan hệ của Quân đội. Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng
Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục,
rèn luyện, luôn mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tỉnh
nhân dân sâu sắc, chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc
và tự do, hạnh phúc của nhân dân” (3) … Như vậy, quân đội xét ở bất kỳ góc độ
nào cũng không thể có cái gọi là “quân đội trung lập”! Điều này, đã từng được
Lênin chỉ rõ: “Quân đội không thể và không nên trung lập. Không lôi kéo quân đội
vào chính trị, đó là khẩu hiệu của bọn tôi tớ, giả nhân, giả nghĩa của giai cấp
tư sản…”(4) . Rõ ràng là “Quân đội không thể và không nên trung lập”.
Từ lịch sử
và thực tiễn hoạt động của Quân đội Nhân dân Việt Nam, chúng ta thấy: Sức mạnh
của quân đội cách mạng là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: con người, vũ khí,
trang bị, nghệ thuật, cách đánh, truyền thống dân tộc… trong đó, con người và
vũ khí là yếu tố cơ bản nhất. Đặc biệt, yếu tố giữ vai trò quyết định đến sức mạnh
chiến đấu của quân đội là yếu tố chính trị tinh thần: “Quân đội muốn nâng cao
chất lượng tổng hợp, sức mạnh, trình độ sẵn sàng chiến đấu; đáp ứng ngày càng tốt
hơn yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới thì phải lấy vững mạnh
về chính trị và chuẩn mực “Bộ đội cụ Hồ” làm cơ sở” (5)
Thứ ba, chỉ
là chiêu trò đánh tráo khái niệm khi cho rằng một số cán bộ, sĩ quan trong quân
đội vi phạm kỷ luật là “sai phạm của cả hệ thống”, là “căn bệnh chung do quy
trình đào tạo bổ nhiệm cán bộ tạo ra”. Thời gian qua, đã có một số sĩ quan cấp
tướng và nhiều cán bộ khác của Quân đội được giao trọng trách nhưng đã mắc những
vi phạm, khuyết điểm nghiêm trọng; làm thất thoát, lãng phí lớn ngân sách Nhà
nước, ảnh hưởng đến kỷ luật, kỷ cương Quân đội và gây bức xúc trong xã hội. Có
nhiều nguyên nhân dẫn đến những sai phạm này, tuy nhiên, nguyên nhân cơ bản và
sâu xa nhất đó là do ý định chủ quan của chính những người vi phạm. Cụ thể: Những
người vi phạm này, hoặc là họ lợi dụng chức vụ, quyền hạn được Nhà nước, Quân đội
giao; hoặc là mắc bệnh công thần, kiêu ngạo dẫn đến chủ nghĩa cá nhân, xa rời tổ
chức, coi thường kỷ luật Đảng, kỷ cương phép nước. Họ không ý thức được trách
nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của mình, đòi hỏi thái quá ở tổ chức, tự cao, tự đại
nên đã nảy sinh tiêu cực. Những người này đã suy thoái về tư tưởng chính trị, lối
sống; thiếu bản lĩnh chính trị, thiếu rèn luyện đạo đức... và hoàn toàn không
phải là đại diện cho cho Quân đội, cho hệ thống chính trị Việt Nam!
Thực tế đã
cho thấy: lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội và các cựu chiến binh, cựu
quân nhân vẫn luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân;
luôn giữ gìn và phát huy truyền thống cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ. Những trường hợp
sai phạm như trên chỉ là cá biệt, là “con sâu làm rầu nồi canh” và đã phải nhận
những hình thức kỷ luật đích đáng. Điều này đã cho thấy quan điểm nhất quán của
Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và rộng hơn là của Đảng và Nhà nước ta: Vừa
kiên quyết xử lý sai phạm một cách công khai, nghiêm minh để giữ cho được lòng
tin của nhân dân, giữ cho được bản chất trong sạch của chế độ, vừa giữ vững những
giá trị, phẩm chất tốt đẹp của Quân đội. Như vậy, việc một số cán bộ, sĩ quan
trong quân đội vi phạm kỷ luật hoàn toàn
không phải là sai phạm của “cả hệ thống” mà chỉ là sai phạm của cá nhân. Việc đổ
thừa cho quy trình đào tạo bổ nhiệm cán bộ mà Đảng, Quân ủy trung ương, thực chất
chỉ là chiêu trò lèo lái dư luận, đánh tráo khái niệm nhằm chia rẽ và phá hoại
của các thế lực thù địch. Bên cạnh đó, việc các thế lực thù địch, phản động lấy
nguyên cớ để quy chụp, phủ nhận còn cho thấy rằng, họ hoặc cố tình, hoặc rất
kém hiểu biết về thực tiễn sinh động đang diễn ra. Bởi lẽ, trước hoặc cùng một
sự vật sự việc nhưng lại mang một tư duy hẹp hòi, định kiến thì những người này
sẽ không hoặc khó có thể nhìn thấy điểm tốt, điểm tích cực của sự vật, sự việc ấy.
Rõ ràng,
các quan điểm sai trái, xuyên tạc về vai trò của công tác chính trị trong quân
đội nhân dân Việt Nam mà các thế lực thù địch đang tiến hành, về bản chất đó là
sự chia rẽ và phá hoại nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng ta đối với quân đội, vô
hiệu hóa vai trò của quân đội trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội
chủ nghĩa. Vì vậy, để đập tan âm mưu phản động này, chúng ta cần làm tốt hơn nữa
công tác chính trị trong quân đội: Kịp thời định hướng tư tưởng cho bộ đội trước
những vấn đề nhạy cảm, phức tạp; xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh,
cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”; đấu tranh có hiệu quả
với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động;
giữ vững được bản lĩnh chính trị, giữ vững kỷ cương, kỷ luật một cách nghiêm
minh… và hơn hết: “Bất luận trong hoàn cảnh nào cũng luôn kiên định nguyên tắc
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội
nhân dân; tách rời sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta sẽ mất phương hướng chiến
đấu, phân rã về chính trị, tư tưởng, tổ chức, không còn sức mạnh để chiến thắng
quân thù. Bài học đắt giá về sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các
nước Đông Âu trước đây vẫn còn nguyên giá trị” (6). Đây cũng chính là một trong
những cơ sở quan trọng để góp phần vào việc xây dựng một nước Việt Nam “Trên dưới
đồng lòng, dọc ngang thông suốt” như mong muốn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
Đặt trong
bối cảnh lịch sử hơn 80 năm xây dựng chiến đấu và trưởng thành của Quân đội
Nhân dân Việt Nam, đặt trong mối quan hệ biện chứng “cá – nước” giữa Quân đội
và Nhân dân Việt Nam, và xét trong mối quan hệ với thế giới, chúng ta hoàn toàn
có cơ sở khẳng định rằng: Công tác lý luận chính trị trong Quân đội không phải
là hoạt động giáo điều khiến cho người chiến sĩ u mê, chỉ biết có mỗi việc cầm
vũ khí; cũng không phải là sự ràng buộc để làm cho quân nhân sợ sệt… như những
luận điệu xuyên tạc và xảo trá của các thế lực thù địch, chống đối; mà ngược lại:
“Bản chất công tác đảng, công tác chính trị là hoạt động lãnh đạo. Nâng cao chất
lượng, hiệu quả công tác đảng, ứng tác chính trị chính là giữ vững và phát huy
sự lãnh đạo của Đảng đối với các mặt hoạt động, các nhiệm vụ của Quân đội, góp
phần xây dựng tổ chức, con người vững mạnh, thiết thực xây dựng Quân đội vững mạnh
về chính trị” (7)
Là bộ phận
trọng yếu trong hoạt động của Quân đội nhân dân Việt Nam, công tác đảng, công
tác chính trị có vai trò đặc biệt quan trọng trong xây dựng bản lĩnh chính trị,
nhân cách và phẩm chất của người quân nhân cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng,
công tác chính trị luôn là nền tảng tinh thần vững chắc, góp phần xây dựng quân
đội vững mạnh về chính trị, nâng cao sức mạnh tổng hợp và bảo đảm thực hiện thắng
lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong từng giai đoạn lịch sử.
Thượng
tá, Nguyễn Thị Minh Lý, Khoa Khoa học cơ bản, Học viện Biên phòng
TÀI LIỆU
THAM KHẢO
(1) Nguyễn
Văn Sự: Sự ra đời của Quân đội nhân dân Việt Nam - Cột mốc đánh dấu
sự phát triển của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Việt Nam nửa đầu thế
kỷ XX, Tạp chí Tuyên Giáo điện tử, ngày 21/12/2019.
(2) (3) (5)
(6) (7) Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ
nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị
quốc gia Sự thật, H, 2022, tr. 28, 430-431, 440, 430-431, 433.
(4)
V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Matxcơva 1979, tr. 136.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét