Hiện nay, các thế lực thù địch đang tìm mọi cách xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, kể cả bằng chiến lược “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, thậm chí bằng chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao... Trong đó, thủ đoạn sử dụng học thuyết “Tam quyền phân lập” kết hợp với yêu thuật “đánh tráo khái niệm” vẫn được chúng ráo riết thực hiện. Đối với Việt Nam hiện nay, các thế lực thù địch ra sức kêu gọi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; đòi thực hiện tam quyền phân lập trong tổ chức quyền lực Nhà nước.
Học thuyết “Tam quyền phân lập” - thuyết phân
chia quyền lực xuất hiện gắn liền với cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chống
lại chế độ phong kiến chuyên chế. Để hạn chế quyền lực của nhà vua, các nhà tư
tưởng của giai cấp tư sản đã đưa ra luận điểm về sự cần thiết phân chia quyền
lực nhà nước thành các nhánh quyền lực độc lập. Những nhà tư tưởng này đã nhận
thấy ở các nhà nước quân chủ chuyên chế thì quyền lực nhà nước tập trung trong
tay một nhà quân chủ (một người), dẫn đến việc độc đoán, lạm quyền, tuỳ tiện
trong việc sử dụng quyền lực nhà nước.
Về vấn đề phân chia quyền lực trong bộ máy nhà
nước, ngay từ thời cổ đại, những tư tưởng phân quyền đầu tiên đã xuất hiện với
các nhà tư tưởng như Platôn, Arixtốt. Tuy nhiên, tư tưởng phân quyền thời kỳ
này chỉ là sự phân công lao động, phân công chức năng, thẩm quyền giữa các bộ
phận trong bộ máy nhà nước. Đến thời kỳ cách mạng tư sản (giai đoạn từ
thế kỷ XVII - XVIII), các học giả tư sản đã kế thừa tư tưởng phân quyền thời cổ
đại và phát triển nó thành học thuyết. Nguyên tắc phân chia quyền lực được
J.Locker (1632- 1704), nhà triết học người Anh sáng lập. J.Locker chia quyền
lực nhà nước thành quyền lập pháp, hành pháp và quyền liên bang. Sau đó, người
phát triển học thuyết của J.Locker, đưa nó trở thành học thuyết “Tam quyền phân
lập” là L.S.Môngtetxkiơ (1698-1755). Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật”
(L'esprit des lois), L.S.Môngtetxkiơ đã xác định một cách cụ thể các dạng quyền
lực và đã chia quyền lực nhà nước thành quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền
tư pháp. Ngoài ra, theo L.S.Môngtetxkiơ, nguyên tắc phân chia quyền lực còn đòi
hỏi phải trao cho mỗi nhánh quyền lực những thẩm quyền riêng biệt để chúng có
thể kiềm chế lẫn nhau. Cần phải có một trình tự mà theo đó, quyền lực này có
thể ngăn chặn quyền lực khác, các quyền có khả năng chế ước lẫn nhau. Việc giao
cho các cơ quan khác nhau thực hiện quyền lực nhà nước, mỗi cơ quan chịu trách
nhiệm về những chức năng khác nhau để chúng có thể đối trọng, kiềm chế lẫn nhau
nhằm ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực và chuyên chế [1].
Trong bối cảnh lịch sử đương thời lúc đó, thuyết “Tam quyền phân lập” ra
đời là một bước tiến bộ so với chế độ quân chủ phong kiến. Nó đã trở thành ngọn
cờ tư tưởng để giai cấp tư sản tập hợp quần chúng chống lại chế độ phong kiến
trong tiến trình cách mạng tư sản giai đoạn thế kỷ XVII - XVIII. Khi giai cấp
tư sản giành được chính quyền, học thuyết “Tam quyền phân lập” trở thành nguyên
tắc cơ bản về tổ chức hoạt động của nhà nước tư sản nhằm hạn chế sự độc quyền,
lạm quyền, tuỳ tiện trong việc sử dụng quyền lực nhà nước. Nguyên tắc này đã
tạo ra cơ chế kiềm chế và đối trọng giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp trong nhà nước tư sản. Học thuyết “Tam quyền phân lập” gắn liền với chế độ
chính trị đa đảng của nhà nước tư sản. Tuy nhiên, việc áp dụng học thuyết này
trong việc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước ở nhà nước tư sản là rất khác
nhau và trên thực tế, nhà nước tư sản cũng không thực hiện tuyệt đối nguyên tắc
phân quyền theo như lý thuyết kinh điển, mà họ áp dụng linh hoạt cho phù hợp
với tình hình của nước mình. Theo đó, có thể thấy rằng, không có một khuôn mẫu
cố định của học thuyết “Tam quyền phân lập” để áp dụng chung cho mọi nhà nước
tư sản với các hình thức nhà nước khác nhau và càng không thể có một khuôn mẫu
chung về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước áp dụng chung cho mọi nhà nước
với những chế độ chính trị khác nhau. Ngay đối với một đất nước, thì cách thức
tổ chức và phân công quyền lực nhà nước cũng không phải là bất biến, mà phải
được tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử của
nước đó.
Bên cạnh những mặt tích cực của học thuyết “Tam quyền phân lập”, chủ nghĩa Mác - Lênin cũng đã nhìn thấy những hạn
chế của học thuyết này và đã chỉ ra bản chất bên trong của nó. Đồng thời, còn
khẳng định quyền lực nhà nước được sinh ra từ mâu thuẫn giai cấp. Sự xuất hiện
giai cấp, đồng thời cũng xuất hiện nhà nước và cùng với nó là quyền lực nhà
nước. Quyền lực nhà nước là quyền lực của một nhóm chủ thể nhất định đối với
toàn xã hội, với đặc thù sử dụng những biện pháp cưỡng chế mang tính nhà nước.
Quyền lực nhà nước là phạm trù thuộc kiến trúc thượng tầng, do đó, tính chất
của quyền lực nhà nước sẽ do cơ sở hạ tầng là các quan hệ kinh tế quy định. Bộ
phận cấu thành quan trọng nhất tạo nên bản chất của quyền lực nhà nước là ý chí
của giai cấp cầm quyền. Quyền lực nhà nước chỉ tồn tại thông qua bộ máy thực
hiện nó. Đó là bộ máy nhà nước. Bộ máy này tạo nên sức mạnh của quyền lực nhà
nước. Bản thân nhà nước không phải là quyền lực, mà cùng với pháp luật chỉ là
những công cụ thực hiện quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà nước là quyền lực
chính trị, phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị và do đó về bản chất, nó là
quyền lực thống nhất. Chính vì vậy, có thể thấy, quan điểm về tổ chức phân chia
quyền lực không có ý nghĩa tuyệt đối, phân chia quyền lực không loại trừ sự
thống nhất trong chính sách nhà nước về những vấn đề có tính nguyên tắc và sự
tương hỗ, phối hợp giữa các nhánh quyền lực.
Khác với
nhà nước tư sản, Việt Nam tổ chức quyền lực nhà nước theo nguyên tắc thống nhất
quyền lực, không phân lập, nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa
các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư
pháp. Bản chất của sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước
trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là: Phân định rõ chức
năng, nhiệm vụ của mỗi loại hình cơ quan nhà nước, nhờ đó hiệu lực, hiệu quả
hoạt động của các cơ quan nhà nước được nâng cao; tránh sự trùng lặp, chồng
chéo, mâu thuẫn giữa các cơ quan trong việc thực hiện ba quyền với những chức
năng, nhiệm vụ cụ thể của từng cơ quan, bảo đảm sự vận hành nhịp nhàng, đồng bộ
của cả bộ máy nhà nước trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước thống
nhất. Nội dung của nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân
công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các
quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp thể hiện trước hết ở chỗ, quyền lực nhà nước
luôn thuộc về nhân dân; nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực
nhà nước.
Chúng ta
đã tiếp thu những nhân tố hợp lý trong cách thức tổ chức nhà nước theo học
thuyết “Tam quyền phân lập”, thể hiện rõ ở các bản hiến pháp Việt Nam, đặc biệt
là Hiến pháp năm 2013. Với chủ trương cụ thể hóa đường lối đổi mới, Hiến pháp
năm 2013 đã thể chế hóa nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước trên tinh thần
giữ vững bản chất nhà nước xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân, vận dụng những nhân tố hợp lý của các học thuyết tổ chức quyền lực nhà
nước tiến bộ và đề ra nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ mới: Quyền lực nhà nước là
thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước
trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp (Điều 2 Hiến pháp
năm 2013); sau đó tiếp tục được bổ sung, phát triển trong kỳ Đại hội XII (2016)
và Đại hội XIII (2021): “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa kiến tạo
phát triển, liêm chính, hành động;...” [2, tr. 284]; “xác định rõ hơn vai trò,
vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc
thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp
quyền,...” [2, tr. 174 - 175] và “tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát
quyền lực bằng hệ thống pháp luật” [2, tr. 203] nhằm thực hiện mục tiêu “nhốt
quyền lực vào trong lồng thể chế và chính sách”. Theo đó, khác với nguyên tắc
“Tam quyền phân lập”, trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
quyền lực nhà nước là thống nhất, không phân chia và thuộc về nhân dân.
Quyền lực
nhà nước ở nước ta bắt nguồn từ nhân dân, nhưng thống nhất và tập trung vào
Quốc hội. Quyền lực nhà nước thống nhất và tập trung vào Quốc hội nhưng được
phân công cụ thể, rành mạch, trong đó Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước
cao nhất, được phân công thực hiện quyền lập pháp; Chính phủ thực hiện quyền
hành pháp; tòa án nhân dân cùng với viện kiểm sát nhân dân được phân công thực
hiện quyền tư pháp. Về các cơ quan nhà nước ở địa phương, hội đồng nhân dân và
ủy ban nhân dân các cấp đặt dưới sự chỉ đạo của các cơ quan chính quyền cấp
trên, phải phục tùng mọi quyết định của chính quyền trung ương. Trong phạm vi
quyền hạn được pháp luật quy định, các cơ quan nhà nước ở địa phương có quyền
chủ động phát huy sáng kiến, đề ra các biện pháp để thi hành pháp luật, quyết
định, chỉ thị của cấp trên nhưng tuyệt đối không được đặt ra những quy định
trái với văn bản pháp luật và các văn bản khác của chính quyền cấp trên. Sự
phân công chặt chẽ, rõ ràng đó chỉ có thể đạt được trên thực tế nếu có sự giám
sát nhau. Giám sát là rất cần thiết, nhưng giám sát không phải là đối trọng,
đối lập nhau. Sự giám sát thể hiện ở chỗ, Chính phủ chịu trách nhiệm và báo cáo
trước Quốc hội về những hoạt động của mình; Quốc hội chất vấn và ra những nghị
quyết về công tác của Chính phủ; Quốc hội có thể tín nhiệm hay không tín nhiệm
Chính phủ hoặc cá nhân bộ trưởng.
Tóm lại, việc tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam trong điều
kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo quan điểm chỉ đạo
“quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan
nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là hoàn
toàn phù hợp với thực tiễn lịch sử phát triển của đất nước, có căn cứ khoa học,
đồng thời, cũng xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của toàn dân Việt Nam. Mọi “quan
điểm” đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đòi thực hiện “Tam
quyền phân lập” trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước ở Việt Nam là
hoàn toàn sai trái, nó xa lạ với thực tiễn ở Việt Nam, không phù hợp với
ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam.
* Dương Ngọc Hưởng
Tài liệu tham khảo:
1. L.S.Môngtetxkiơ, Tinh thần pháp
luật (người dịch Hoàng Thanh Đạm), Nxb Giáo dục, Khoa Luật, Trường đại học
Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội, 1996.
2. Đảng Cộng sản Việt
Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XIII, tập I, Nxb. CTQGST, Hà Nội, 2021.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét