Quốc
phòng một trong những lĩnh vực mà các thế lực thù địch luôn tập trung chống
phá. Nắm vững những đặc trưng của Quốc phòng Việt Nam là cơ sở quan trọng để
đấu tranh làm thất bại âm mưu chiến lược “Diễn biến hoà bình” của các thế lực
thù địch.
Pháp điển hóa, khái quát
ngắn gọn quan niệm về quốc phòng, Luật Quốc phòng của Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam số 39/2005/QH11 ngày 14 tháng 6
năm 2005 xác định: “Quốc phòng là
công cuộc giữ nước bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, trong
đó sức mạnh quân sự là đặc trưng, lực lượng vũ trang nhân dân làm
nòng cốt”[1].
Nếu
như đặc trưng xét theo nghĩa danh từ là “Nét riêng và tiêu biểu, nhờ
đó phân biệt được các sự vật hiện tượng”, xét theo nghĩa tính từ
là “Có tính chất riêng khác và tiêu biểu”[2]
thì đặc trưng của quốc phòng Việt Nam có thể được hiểu là những
đặc điểm riêng, những tính chất riêng, tiêu biểu của quốc phòng Việt
Nam, qua đó có thể nhận diện và phân biệt được quốc phòng Việt Nam
với quốc phòng các nước khác.
Lịch sử hình thành và
phát triển quốc phòng Việt Nam đến nay cho thấy quốc phòng Việt Nam
có những đặc trưng sau:
Một là, mục tiêu của quốc phòng là hòa bình
và tự vệ
Hòa bình và tự vệ là mục tiêu duy nhất, là dòng chảy xuyên suốt quá trình hình thành và phát triển của quốc phòng Việt Nam. Nó đối lập hoàn toàn với mục tiêu xâm lược, hiếu chiến và phản động. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh “dùng binh là việc nhân nghĩa, muốn cứu nước, cứu dân”. Hiện nay, mục tiêu này không chỉ được khẳng định và thể hiện rõ trong Luật Quốc phòng, Sách trắng quốc phòng Việt Nam mà còn được xác định rõ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước. Luật Quốc phòng năm 2005 chỉ rõ, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam củng cố và tăng cường quốc phòng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2009 cũng chỉ ra, mục đích của nền quốc phòng toàn dân là bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia trên mọi lĩnh vực, bảo vệ chế độ, bảo vệ mọi thành quả cách mạng, bảo vệ sự nghiệp đổi mới đồng thời ngăn chặn, đẩy lùi mưu toan gây bạo loạn, xung đột vũ trang, chiến tranh xâm lược, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đồng thời đánh bại mọi cuộc chiến tranh xâm lược. Cương lĩnh xây dựng đất nước (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: Mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh là “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất
[1]Luật Quốc phòng và các văn
bản hướng dẫn thi hành, (2014), Nxb Lao động, tr.75.
[2]Nguyễn Như Ý (Chủ biên, 1998),
Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin, tr.600
bại mọi âm mưu và hành
động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách
mạng của nhân dân ta”[3].
Thực tiễn thời gian qua
cũng chứng minh hòa bình và tự vệ luôn là đích hướng đến của mọi
hoạt động quốc phòng. Việt Nam thực hiện sự nghiệp củng cố, tăng
cường quốc phòng là nhằm xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc;
các biện pháp chính đáng, thích hợp được sử dụng để ngăn chặn, đẩy
lùi chiến tranh, đánh bại mọi âm mưu và hành động xâm lược của các
thế lực thù địch. Công tác đối ngoại quốc phòng được thực hiện phù
hợp với chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, là bạn bè tin cậy
của các nước, cùng phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển,
chống chiến tranh dưới mọi hình thức; Việt Nam nhất quán không sử dụng
vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; kiên trì giải quyết
mọi bất đồng, tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ với các quốc gia bằng giải pháp
hòa bình trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Việt Nam
không tham gia bất cứ tổ chức liên minh quân sự nào và cũng không cho bất cứ
nước nào đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của mình để chống nước
khác... Mọi hoạt động quốc phòng của Việt Nam không nằm ngoài
mục tiêu, tính chất hòa bình và tự vệ. Đây là đặc trưng chủ đạo
cũng là bản chất của quốc phòng Việt Nam.
Hai là, nền quốc phòng vì dân, của dân và do
toàn thể nhân dân tiến hành.
Nếu như mục tiêu hòa bình và tự vệ là đặc trưng phản ánh bản chất của quốc phòng Việt Nam thì vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành là đặc trưng phán ánh tư tưởng “dân là gốc” trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, phản ánh nét độc đáo về lực lượng và sức mạnh của quốc phòng Việt Nam. Nền quốc phòng vì dân thể hiện ở mọi hoạt động quốc phòng Việt Nam đều xuất phát từ lợi ích của nhân dân, đều là để thực hiện nguyện vọng, ước muốn cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân. Mục đích “vì dân” đã cho phép quốc phòng có thể huy động sức mạnh tổng hợp to lớn cả về vật chất, tinh thần và sức dân cho mọi nhiệm vụ. Vì vậy, “Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt”[4] đã trở thành một trong những nguyên tắc tiến hành hoạt động quốc phòng. Cụ thể hơn, lực lượng quốc phòng được hình thành bao gồm lực lượng của toàn dân với lực lượng vũ trang nhân dân là nòng cốt. Trong đó, lực lượng toàn dân là lực lượng của các cấp, các ngành và quần chúng nhân dân. Đây là lực lượng đông đảo nhất, nhanh nhất, kịp thời nhất và là chỗ dựa vững chắc nhất của quốc phòng. Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt, vững mạnh là nhiệm vụ trọng tâm của xây dựng lực lượng quốc phòng. Lực lượngnòng cốt này cũng “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”. Như vậy nhân dân không chỉ là một bộ phận mà còn là nguồn đóng góp nhân lực cho quốc phòng. Bên cạnh đó, nhân dân còn đóng góp vật lực, tài lực chủ yếu để duy trì mọi hoạt động quốc phòng cả trong thời bình cũng như khi có chiến tranh xảy ra. Nhân dân chính là cội nguồn sức mạnh vô tận của quốc phòng và vì dân không chỉ là mục đích phản ánh bản chất quốc phòng
[3]Đảng Cộng sản Việt Nam (2011),
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, tr81-82.
Việt Nam mà còn là
điều kiện tiên quyết để quốc phòng có được, nhân lên và phát huy sức
mạnh vô địch đó.
Ba là, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ xa, giữ
nước từ thời bình.
Chủ động bảo vệ Tổ
quốc từ xa, giữ nước từ thời bình không chỉ là một trong những đặc
trưng cơ bản của quốc phòng Việt Nam mà còn là phương châm chỉ đạo
xuyên suốt trong hệ thống quan điểm giữ nước Việt Nam. Sách trắng Quốc
phòng Việt Nam năm 2009 chỉ rõ: Tích cực, chủ động ngăn ngừa và đẩy
lùi nguy cơ chiến tranh là một trong các nhiệm vụ trọng yếu của quốc
phòng Việt Nam trong thời bình nhằm thực hiện chiến lược quốc phòng
tối ưu là bảo vệ được chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và
các quyền lợi quốc gia khác mà không cần phải tiến hành chiến tranh…
Quán triệt phương châm phòng thủ toàn diện, chủ động, bảo vệ Tổ
quốc từ xa, quốc phòng Việt Nam sử dụng các biện pháp tổng hợp
nhằm giữ vững ổn định bên trong, ngăn ngừa các nguy cơ can thiệp từ
bên ngoài[5]
Không chỉ được khẳng
định ở Sách trắng Quốc phòng, đặc trưng này còn được phản ánh trong
tư duy của Đảng qua các kỳ Đại hội. Đặc biệt, Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ XI xác định: Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân
tộc, của cả hệ thống chính trị, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ
quốc phòng, an ninh… chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu,
hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó
với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính chất toàn cầu,
không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống[6].
Khẳng
định lại đồng thời thể hiện sự phát triển trong tư duy của Đảng về
vấn đề này, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII nhấn mạnh: “Có kế
sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ
động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi,
nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”[7].
Bốn là, nền
quốc phòng toàn dân gắn kết chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân
Giữa nền quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân có sự khác nhau về
phương thức tổ chức lực lượng, về hoạt động cụ thể theo mục tiêu được phân
công song đều là hai lĩnh vực trọng
yếu, thường xuyên, liên quan và tác động trực tiếp đến bảo vệ Tổ
quốc. Vì vậy, không như một số quốc gia khác coi an ninh quốc gia là
một bộ phận của quốc phòng hoặc quốc phòng là một bộ phận của an
ninh quốc gia, Việt Nam xác định quốc phòng và an ninh là hai lĩnh
vực khác nhau nhưng có mối quan hệ gắn bó, kết hợp chặt chẽ với
nhau. Xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân trong đó có thế trận
biên phòng toàn dân luôn gắn kết chặt chẽ với thế trận an ninh nhân
dân. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI khẳng định: “Tăng cường quốc phòng, giữ vững
an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên
của Đảng, Nhà nước và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân
là lực lượng nòng cốt. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ
với thế trận an ninh nhân dân vững chắc”[8].
[5]Bộ Quốc phòng (2009), Quốc
phòng Việt Nam, Hà Nội, tr.20-21.
[6]Đảng Cộng sản Việt Nam (2011),
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, tr.233.
[7]Đảng Cộng sản Việt Nam (2016),
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, tr.148-149.
[8]Đảng Cộng sản Việt Nam (2011),
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, tr81-82
Sự kết hợp giữa xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế
trận biên phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân thể hiện tập trung
ở những vấn đề chính như: Kết hợp trong công tác vận động quần chúng, xây
dựng cơ sở chính trị, xã hội ở địa bàn đóng quân, xử lý các tình huống; cùng
nhau tổ chức, bố trí thành phong trào quần chúng rộng rãi bảo vệ Tổ quốc với
các hình thức thích hợp; xây dựng, bố trí lực lượng nòng cốt, nhất là ở cơ sở,
bảo đảm đủ khả năng hoàn thành nhiệm vụ; tổ chức mạng lưới bí mật trong thế
trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và thế trận biên
phòng toàn dân; xây dựng thế trận trên các tuyến, các trận địa, các
địa bàn, mục tiêu trọng yếu; kết hợp trong việc làm trong sạch địa bàn, giữ bí
mật quân sự, bí mật quốc gia, sử dụng và hoạt động của các lực lượng có liên
quan đến thực hiện nhiệm vụ quốc phòng - an ninh; kết hợp trong khai thác, trao
đổi, phân tích, đánh giá, xử lý các loại thông tin cần thiết có liên quan, cả
về địch, về ta, ở trong nước và ngoài nước, làm tham mưu đắc lực cho Đảng và
chính quyền ở các cấp...
Tóm
lại, những đặc trưng của Quốc phòng Việt Nam là những đặc điểm nổi bật riêng có
vừa phản ánh bản chất của Quốc phòng Việt Nam vừa là những định hướng chính cho
quá trình xây dựng, củng cố quốc phòng. Vì vậy, mỗi chúng ta cần phải tích cực
nghiên cứu,nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong xây dựng nền quốc phòng toàn
dân, đấu tranh với những biểu hiện sai trái và những luận điệu chống phá của
các thế lực thù địch đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã
hội chủ nghĩa./.
Thượng tá
Đỗ Hoàng Ánh, Khoa Lý luận Mác - Lê nin, tư tưởng HCM

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét